Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Tìm hiểu về ngành hàng dệt may Việt Nam

Posted by BEAR on Tháng Ba 23, 2011

Lạc quan ngành dệt may VN

2011-04-01

Theo dự báo kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam có thể đạt 13 tỷ đô la năm nay và hiện đang dẫn đầu về hàng hóa xuất khẩu của cả nước.

AFP photo

Nhân viên Công ty May 10 trong dây chuyền sản xuất hàng xuất khẩu hôm 21/10/2008

Mục tiêu phấn đấu của toàn ngành dệt may là tiếp tục duy trì ở top 5 và tiến lên vị trí top 3 của thế giới, trong tương lai.

Đỗ Hiếu tổng hợp chi tiết cùng với ý kiến đóng góp của ba chuyên gia kinh tế và doanh nhân lãnh đạo ngành dệt may Việt Nam.

Dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu

Số liệu do báo chí công bố cho thấy, trong năm 2011, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt tới 13 tỷ đô la, chiếm khoảng 2,5 % thị phần toàn cầu.
Hàng dệt may, thêu đan, may mặc của Việt Nam hiện đứng thứ 5 của thế giới và phấn đấu tiến lên hàng top 3 trong những năm tới. Trong năm 2011, hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ thu về gần 7 tỷ đô la, bán sang EU thu hơn 2 tỷ đô la và xuất qua Nhật Bản chiếm một tỷ rưỡi đô la, kim ngạch trên một tỷ đô la còn lại là tại các thi trường khác khắp các châu lục.

Nhận định về thành quả khả quan này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập phân tích:

“Ngành dệt may Việt Nam có tiến bộ rất đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt doanh thu xuất khẩu trên 11 tỷ đô la, hàng dệt may có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, tạo được nhiều công ăn việc làm, có đóng góp cho xóa đói giảm nghèo, đó là những thành tựu đáng ghi nhận.”

Hàng dệt may có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, tạo được nhiều công ăn việc làm, có đóng góp cho xóa đói giảm nghèo, đó là những thành tựu đáng ghi nhận.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may, Thêu đan TP Hồ Chí Minh cũng góp ý về những hoạt động tích cực của ngành này, nhưng bên cạnh đó cũng có một số khó khăn nhất định:

“Chắc chắn đây là một tin vui cho người làm trong ngành dệt may, nhưng cũng có nhiều băn khoăn,  kết quả thật sự mang về cho đất nước chưa đáng kể , vì hầu hết doanh nghiệp dệt may vẫn làm theo cách gia công, tỷ lệ chiếm tới 70%, kế đó là do giá nguyên liêu trên thế giới có xu hướng tăng, vì thế sản phẩm do mình làm ra dù có tăng nhiều, nhưng cũng không tăng nhanh bằng những gì mình phải nhập vào để sản xuất ra thành phẩm.

Nguyên liệu do khách hàng cấp, họ mua giá cao thì cũng tính giá cao với mình, đó là băn khoăn thứ hai. Băn khoăn thứ ba là đất nước hiện theo chủ trương hiện đại hóa, công nghiệp hóa, chúng ta rất kỳ vọng ở những ngành sử dụng chất xám, sẽ là ngành chủ đạo như ngành điện tử, sinh học, công nghệ cao, được đặt vào đó rất nhiều kỳ vọng thì lại chưa đóng được vai trò đó mà ngành dệt may vẫn phải làm nhiệm vụ này.

Theo suy nghĩ của chúng tôi thì dệt may phải đóng vai trò dẫn dầu về xuất khẩu cho đất nước trong vòng từ 5 tới 10 năm nữa.”

Nhiều khó khăn và thách thức

Mặc dù đang dẫn dầu về kim ngạch xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam đang phải đối phó với ít nhiều khó khăn, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh giải thích:

det-may-10-afp-200.jpg
Nhân viên KCS Công ty May 10 đang kiểm hàng trước khi xuất khẩu. AFP photo

“Những thách thức trước mắt là dệt may phải vượt qua những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô nhất là qua các đợt điều chỉnh tỷ giá, nâng giá điện, hai lần nâng giá xăng. Chi phí đầu vào của ngành dệt may trong nước đã tăng rõ rệt, trong khi đó giá xuất khẩu của hàng dệt may không tăng được, bởi vì giá đó phải cạnh tranh với các đối thủ khác như Bangladesh, Indonesia, dệt may của Việt Nam không thể nào đàm phán lại hoặc nâng giá lên được.

Nền dệt may phải hết sức nỗ lực, tiết kiệm để giải quyết bài toán giữa đầu ra và đầu vào này, phải duy trì một mức độ lợi nhuận có thể chấp nhận được và duy trì công ăn việc làm cho số công nhân đó. Thứ hai là tình hình thiếu điện rất gay gắt, các doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài đã than phiền về tình trạng điện bị cắt, trong không ít trường hợp, bị cắt điện mà không được báo trước.”

Ngoài những khó khăn vừa kể, thiếu lao động cũng là một trong những bài tóan phức tạp của ngành dệt may Việt Nam, thời gian qua đã có trên 10% lao động của ngành chuyển sang làm những công việc khác.

Ngoài yếu tố nhân lực, dệt may cũng gánh chịu những trở ngại về nguồn cung cấp vật liệu thiết yếu, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết thêm điều đó:

“Công nghiệp và dịch vụ trợ giúp cho ngành dệt may như các sản phẩm đầu vào, từ sợi, bông, cúc, chỉ, Việt Nam phải nhập khẩu, tỷ lệ nhập khẩu từ 70 đến 75% giá trị xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam, trong đó một phần rất quan trọng là nhập từ Trung Quốc, nên sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc là điều đáng kể. Không dễ dàng gì để có thể nâng cao tỷ lệ nội địa hóa ấy được, cũng không dễ cạnh tranh được, cho nên chỉ có thể phát triển một cách có chọn lọc, chứ không thể phát triển với bất kỳ giá nào.”

Hướng về tương lai ngành dệt may của Việt Nam, ông Lê Quốc Ân, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nói:

“Dệt may Việt Nam chưa phải là top 3, đấy là mục tiêu trong 10 năm tới, hiện nay chỉ nằm trong top 5 về xuất khẩu hàng may mặc, xếp vào top 3 kể cả ngành dệt may thì chưa phải là lúc này.”

Những thách thức trước mắt là dệt may phải vượt qua những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô nhất là qua các đợt điều chỉnh tỷ giá, nâng giá điện, hai lần nâng giá xăng.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng tin tưởng rằng:

“Ngành dệt may với trình độ công nghệ trung bình và thấp vẫn là một nguồn tạo ra lao động và tạo ra thu nhập trong nền kinh tế Việt Nam cho nên vẫn cần phát triển. Trong một tương lai dài hạn hơn thì có thể chuyển sang các ngành công nghiệp khác có giá trị gia tăng cao hơn, có hàm lượng công nghệ cao hơn thì đó là một tương lai xa hơn.”

Theo báo chí trong nước thì được xem là ngành công nghiệp trọng yếu của Việt Nam và đứng đầu về xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, vì ngành dệt may có lực lượng lao động dồi dào, có tay nghề cao, nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu của các thị trường khó tính, có thể đảm đương được những đơn đặt mua hàng phức tạp với khối lượng lớn.

Tuy nhiên qua nhận định của các chuyên gia như vừa rồi thì trên thực tế dệt may còn phải phấn đấu hơn nữa hầu vượt qua được những vấn đề nan giải, hầu giữ vững được nồi cơm của hàng triệu lao động sinh sống trong ngành công nghiệp này.

Theo dòng thời sự:

Ngành Dệt may

Triển vọng ngành Dệt-may

Theo tin từ Bộ Công thương, tháng 1-2011, ngành Dệt-may cả nước đạt kim ngạch xuất khẩu 900 triệu USD, cao nhất từ trước đến nay. Dự kiến tháng 2-2011 sẽ đạt khoảng 800 triệu USD.

Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do thời gian nghỉ Tết Tân Mão và những biến động về lao động khi người lao động về ăn Tết. Tuy nhiên, kết quả này cho thấy dự kiến mục tiêu giá trị kim ngạch xuất khẩu 12,5 tỷ USD cả năm có khả năng thực hiện được. Cũng theo thông báo của Bộ Công thương, rất nhiều đơn vị đã có đơn hàng đến hết quý 2, thậm chí một số đơn vị có đơn hàng đến hết tháng 9-2011.Xuất khẩu dệt may: nỗi buồn quán quân

- Bài 1: Có tiếng, chưa có miếng!

- Bài 2: Phát triển nguyên phụ liệu – Lối ra nào?

- Bài 3: Cần tiếp sức

VN xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ năm thế giới

Phân tích SWOT ngành hàng dệt may Việt Nam

VIETRADE – Ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong những năm vừa qua. Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam cũng đạt được những kết quả tăng trưởng khá ấn tượng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – thách thức của ngành hàng dệt may Việt Nam trong thời gian qua.

Điểm mạnh:

Ngành dệt may Việt Nam có thể tận dụng một số điểm mạnh. Trước hết, trang thiết bị của ngành may mặc đã được đổi mới và hiện đại hoá đến 90%. Các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng được bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao động, kỹ năng và tay nghề may tốt.

2010_Feb_1_-_1

Cuối cùng, Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hội, có sức hấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân việc Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện được xu hướng tăng trong giai đoạn 2000-2007, mặc dù có giảm mạnh trong năm 2008.

Điểm yếu

Tuy vậy, ngành dệt may vẫn còn những điểm yếu nhất định. May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu, mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB thấp, hiệu quả sản xuất thấp.

Trong khi đó, ngành dệt và công nghiệp phụ trợ còn yếu, phát triển ch­ưa t­ương xứng với ngành may, không đủ nguồn nguyên phụ liệu đạt chất l­ượng xuất khẩu để cung cấp cho ngành may, do đó giá trị gia tăng không cao. Như đã phân tích ở trên, tính theo giá so sánh, giá trị sản phẩm của ngành dệt luôn tăng chậm hơn so với giá trị sản phẩm của ngành may mặc, cho thấy sự phụ thuộc của ngành may mặc đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư­ thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định. Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt may sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường và/hoặc chuyển đổi sang thị trường khác. Những khó khăn, ít nhất là ban đầu, trong việc chuyển đổi định hướng sang thị trường nội địa trong thời điểm các thị trường xuất khẩu chính như Hoa Kỳ, EU đều gặp suy thoái kinh tế chính là những dẫn chứng tiêu biểu.

Mặt khác, kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, đào tạo ch­ưa bài bản, năng suất thấp, mặt hàng còn phổ thông, ch­ưa đa dạng. Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may ch­ưa xây dựng được th­ương hiệu của mình, ch­ưa xây dựng đ­ược chiến lư­ợc dài hạn cho doanh nghiệp.

Cơ hội

Ngành dệt may có thể tận dụng một số cơ hội để phát triển xuất khẩu trong thời kỳ hiện nay. Sản xuất hàng dệt may đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, qua đó tạo thêm cơ hội và nguồn lực mới cho các doanh nghiệp dệt may về cả tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ các nước phát triển.

Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may. Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định đối tác thương mại Việt – Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ của ASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN-Úc-Niu Dilân, v.v).

Những cam kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác mới. Hơn nữa, bản thân thị trường nội địa có dân số 84 triệu dân với mức sống ngày càng được nâng cao thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và các doanh nhân.

Thách thức

Tuy vậy, ngành dệt may của Việt Nam cũng đang phải đương đầu với những thách thức không nhỏ. Một mặt, xuất phát điểm của dệt may Việt Nam còn thấp, công nghiệp phụ trợ chưa thực sự phát triển, nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu, tỷ lệ gia công cao, năng lực cạnh tranh còn yếu hơn các nước trong khu vực và trên thế giới... là thách thức khi hội nhập kinh tế toàn cầu.

Mặt khác, môi trường chính sách còn chưa thuận lợi. Bản thân các văn bản pháp lý của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn chỉnh, trong khi năng lực của các cán bộ xây dựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộ tham gia xúc tiến thương mại còn yếu, đặc biệt là hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, và kỹ năng.

Bản thân các thị trường lớn cũng vận dụng khá nhiều các rào cản về kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, môi trường, trách nhiệm xã hội, chống trợ giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn có quy mô nhỏ và vừa, không đủ tiềm lực để theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá, dẫn đến thua thiệt trong các tranh chấp thương mại. Các rào cản thương mại trên đã được vận dụng ngày càng linh hoạt và tinh vi hơn, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Bài viết có sử dụng tài liệu nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam – Dự án VIE/61/94.

[PDF] NGÀNH DỆT MAY

Ở Việt Nam, dệt may cũng  là một  trong những ngành được chú  trọng phát
triển khi Việt Nam  thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với những ưu
thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu
hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may để
vừa  thu về giá  trị xuất khẩu  lớn, đáp ứng nhu cầu phát  triển kinh  tế của đất
nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động.

Tổng quan ngành

Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể với tốc độ trên dưới 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu chiếm 15%
kim ngạch xuất khẩu cả nước. Giá  trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt
may  trong năm 2007  tăng 17,9% so với năm 2006. Các sản phẩm chủ yếu
đều  tăng  như  sợi  toàn  bộ  tăng  11%; vải  lụa  thành  phẩm  tăng  8,9%;  sản
phẩm  quần  áo  dệt  kim  tăng 8,8%; quần  áo may  sẵn  tăng  12,6%. Sự  phát
triển ấn tượng của ngành may mặc đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một
trong chín nước xuất khẩu hàng may mặc  lớn nhất  trong số 153 nước xuất
khẩu hàng dệt may  trên  toàn  thế giới. Dệt may đang vươn  lên và  tham gia
vào những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch xuất khẩu  trên 1  tỷ USD của
Việt Nam, bên cạnh những mặt hàng khác như dầu  thô, giày dép,  thuỷ sản
v.v. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 7,8 tỷ USD,
tăng 33,4% so với năm 2006 và bằng khoảng 16% giá trị xuất khẩu hàng hoá
năm 2007. Hơn nữa,  trong năm 2007, dệt may đã vượt qua dầu  thô và  trở
thành mặt hàng mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất.
Kể  từ  sau Hiệp  định  Thương mại  Việt – Mỹ  và  đặc  biệt  khi  Việt Nam  trở
thành viên chính thức của WTO, thị trường và thị phần xuất khẩu hàng may
mặc của Việt Nam ngày càng phát  triển. Trong đó, thị  trường Mỹ đứng đầu
với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 4,5 tỷ USD (chiếm khoảng 57,7% tổng
kim  ngạch  xuất  khẩu  dệt may  năm  2007);  tiếp  theo  là EU  với  1,5  tỷ USD
(chiếm khoảng 19,2%) và Nhật Bản. Ngoài  ra còn các  thị  trường khác như:
Đài Loan, Canada, Hàn Quốc v.v. Đặc biệt sau khi Mỹ đã xóa bỏ hạn ngạch
cho hàng may mặc của Việt Nam vào đầu năm 2007 thì hàng may mặc của
Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ đã tăng mạnh, tăng 46,7% so với năm 2006, lớn
hơn nhiều so với hàng Trung Quốc (chỉ tăng 23% so với năm 2006 khi xuất
sang thị trường Mỹ).

Các sản phẩm của ngành

Với ngành may mặc Việt Nam, sản phẩm của ngành cũng
rất đa dạng nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Những sản
phẩm may mặc phổ biến thường được xuất khẩu sang các
thị  trường chính của Việt Nam, như Mỹ, EU, Nhật Bản,
quần dài, quần short, áo jacket, áo sơ mi, áo bông, áo thu
v.v.

Đặc thù của ngành

Theo  thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, nếu phân
loại  theo nguồn vốn sở hữu  thì số doanh nghiệp dệt may
ngoài  quốc  doanh  tại  Việt  Nam  là  1172  doanh  nghiệp,
doanh  nghiệp  nhà  nước  là  307  doanh  nghiệp  và  doanh
nghiệp  có  vốn  đầu  tư  nước  ngoài  là  472  doanh  nghiệp.
Còn  nếu  phân  loại  theo  số  lao  động  thì  có  1270  doanh
nghiệp có dưới 500 lao động, 399 doanh nghiệp có từ 500
đến 1000 lao động, 244 doanh nghiệp có từ 1000 đến 5000
lao động và chỉ có 8 doanh nghiệp có từ 5000 lao động trở
lên. Như vậy có  thể  thấy số  lượng doanh nghiệp dệt may
có  quy  mô  nhỏ  và  các  doanh  nghiệp  ngoài  quốc  doanh
chiếm đa số tại Việt Nam.

Doanh nghiệp dệt may của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn
là  thực  hiện  các  đơn  hàng  gia  công  xuất  khẩu  cho  phía
nước ngoài. Số doanh nghiệp có khả năng thiết kế và sản
xuất các sản phẩm thời trang hiện vẫn chưa nhiều. Do đó,
giá trị gia tăng trong các sản phẩm may mặc của Việt Nam
còn  thấp, dẫn đến  lợi nhuận  thu về chưa  tương xứng với
khả năng cũng như giá trị xuất khẩu cao trong những năm
qua. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp may mặc trong nước
lại chưa chú  trọng đến  thị  trường nội địa với số dân đông
đảo  hiện  nay. Chính  vì  thế,  hàng may mặc Việt Nam  dù
được đánh giá khá cao  tại nước ngoài  thì  lại không được
coi trọng ở trong nước. Quần áo của Trung Quốc với giá rẻ
và mẫu mã đa dạng có thể được tìm thấy ở khắp các cửa
hàng, siêu  thị, chợ của Việt Nam  trong khi hàng Việt Nam
thì hầu như vắng bóng. Gần đây, hàng may mặc của Việt
Nam  với  một  số  thương  hiệu  như  May  10,  Việt  Tiến,
Ninomax, Made in  Vietnam  v.v.  đã  dần  được  người  tiêu
dùng  Việt  Nam  chú  ý  hơn.  Tuy  nhiên, ở phân  khúc  thị
trường hàng may mặc giá  rẻ  thì hàng Việt Nam vẫn chưa
thể cạnh  tranh được với hàng Trung Quốc ngay  trên  “sân
nhà”

Một  thực  tế nữa là ngành may mặc của Việt Nam  vẫn bị
phụ  thuộc  khá nhiều  vào nguyên  liệu nhập khẩu  từ nước
ngoài, với trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu thường chiếm
gần 70 – 80% so với giá  trị kim ngạch xuất khẩu.

Như vậy, giá  trị  thực  tế mà ngành may  thu được
không hề cao so với con số kim ngạch xuất khẩu. Điều này
một  lần nữa lý giải  tại sao  tuy giá  trị xuất khẩu của ngành
may cao nhưng cả chủ và  thợ  trong ngành  lại không mặn
mà  lắm với công việc.

Trình độ công nghệ và năng  lực sản xuất của các doanh
nghiệp may Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp hơn 30 – 50%
so với mặt bằng chung của khu vực.

Nhân tố chính trị

Năm 2007, hàng may mặc
của Việt Nam đã bị Mỹ  thực hiện điều  tra về bán phá giá
vào  thị  trường  này. Mặc  dù Mỹ  đã  kết  luận  là  Việt  Nam
không  thực  hiện  bán  phá  giá  vào  Mỹ,  nhưng  hàng  may
mặc  của Việt Nam  vẫn bị giám  sát khi  xuất  khẩu  vào Mỹ
trong năm 2008. Đây sẽ là một trong những khó khăn cho
việc  đẩy  mạnh  xuất  khẩu  hàng  may  mặc  của  Việt  Nam
trong thời gian tới, đặc biệt là năm 2008.

Nhân tố kinh tế

Hiện  nay, Mỹ  là  thị  trường  xuất  khẩu  hàng may mặc  lớn
nhất của Việt Nam. Sự suy  thoái của nền kinh  tế  lớn nhất
thế giới này sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu Mỹ  tìm đến
những nguồn hàng nhập khẩu có giá  rẻ hơn.

Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của
các  doanh  nghiệp may.  Lạm  phát  tăng  khiến  cho  giá  cả
hàng hoá  tiêu dùng  trong nước  tăng  lên.

Nhân tố xã hội

Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì
con người càng chú  trọng đến các sản phẩm phục vụ  tiêu
dùng, trong đó có quần áo. Thêm vào đó, xu hướng và thị
hiếu  thẩm mỹ của người  tiêu dùng đối  với  các  sản phẩm
may  mặc  cũng  có  sự  biến  đổi  liên  tục.  Nếu  các  doanh
nghiệp may  không  chú  trọng đầu  tư  đúng mực  cho  công
tác  thiết  kế  sẽ  nhanh  chóng  bị  tụt  hậu  trong  cuộc  cạnh
tranh  khốc  liệt  này.  Hàng  may  mặc  Trung  Quốc  với  giá
thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng, thường xuyên thay
đổi và khá phù hợp với  thị hiếu của người Việt Nam đang
chiếm  lĩnh  thị  trường may mặc  nội  địa. Tuy  nhiên, người
Việt Nam vẫn có tâm lý “ăn chắc mặc bền”, nên những sản
phẩm chất lượng tốt của các doanh nghiệp trong nước vẫn
được nhiều người Việt Nam tìm dùng. Đây là một thuận lợi

cho  các  doanh  nghiệp  trong nước  khi muốn  chiếm  lại  thị
trường nội địa hiện đang bị hàng Trung Quốc  tấn công và
thống trị.

Nhân tố công nghệ

Năng  lực  sản  xuất  kém,  công  nghệ  lạc  hậu  là một  trong
những  hạn  chế lớn  của  ngành  may  mặc  Việt  Nam  hiện
nay. Hoạt động của ngành may hiện nay phần  lớn  là  thực
hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản
phẩm đơn giản, còn những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao
mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được.

7 phản hồi to “Tìm hiểu về ngành hàng dệt may Việt Nam”

  1. nguyen huu chi said

    lương nhân công thấp ,ăn uống bèo bạt, kiểu bóc lột, không đầu tư vào đào tạo kỉ thuật cao . Nhìn những nhà xưởng dệt may thấy củ rích mà ko ai chịu sơn phết, nhìn vào thấy buồn , làm sao mà nói chuyện cạnh tranh bền vững.

    đề nghị : khắc phục tình trạng trên chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều

    • Vũ Thị Hoa said

      thường thì ngày nay,các doanh nghiệp trả lương cho công nhân theo kiểu ăn theo sản phẩm,như vậy,họ tin rằng sẽ trả đúng cho năng lực làm việc của từng người,ai làm lẹ,làm đẹp thì hưởng nhiều.là công nhân phần lớn có xuất thân từ các tỉnh lẻ,phải ở trọ,ăn cơm bụi,doanh nghiệp nào trọ cấp cơm hàng ngày cho nhân công thì cũng mang tính chất cơm ăn tập thể.làm việc theo kiểu bóc lột là do có chủ,có người làm thuê,mang tính chất tư bản,làm việc nặng,làm việc nhiều chỉ nhằm hoàn thành sớm công việc,bán đc sản phẩm,mang laị nhiều tiền…chủ nào cũng muốn thành tích kết quả nên chưa hề đầu tư tới việc chăm lo cho đời sống người làm thuê.Điều này đúng là vấn đề cần quan tâm nhất…đáng buồn!!!

  2. diep said

    các DN chỉ thấy dc cai lợi ích trước mắt
    trong dài hạn lượng lao động tay nghề cao sẽ thiếu hụt
    sẽ rất khó để có thể cạnh tranh với các đối thủ lớn
    thị phần trong nước bị mất vào tay DN trung quốc,nước ngoài thì không ổn định
    liệu có 1 tương lai sáng lạ cho nghành dệt may VN với những chính sách như hiện nay

  3. Joseph Bui said

    ngành nào mình làm tốt thì nên tập trung vào làm, đừng theo kiểu định hướng cứ phải làm công nghiệp nặng hay các sản phẩm công nghệ cao mà lại thiếu cơ sở, thiếu nên tảng, vật chất kỹ thuật.

    Vấn đề theo mình hiện tại thấy giá trị gia tăng trong chuổi giá trị mà Việt Nam đóng góp vào ngành hàng này là không cao, nên nếu mình tập trung vào phát triển gia tăng giá trị gia tăng thì mới phát triển bền vững được. Hơn nữa, dệt may VN mình vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp phát triển theo kiểu nhỏ lẻ, cơ sở tự phát…. nên cần hạn chế những kiểu đầu tư này.

  4. Vũ Thị Hoa said

    ngành dệt may đúng là ngành đang mang lại nhiều lợi ích cho người lao động,chủ các doanh nghiệp,nhà nước…nhưng điwuf đáng lo ngại chính là nguồn nhân lực trong ngành.tại sao các doanh nghiệp may mặc lại thích tuyển dụng những lao động nữ và lao động trẻ em?nếu nữ công nhân khó có mối quan hệ bạn bè,ít thời gian gặp gỡ,tìm hiểu,thư giãn do phần lớn thời gian là đi làm.còn trẻ em ?các em sẽ như thế nào?…nói thêm về nguồn nhân lực,tại sao các sinh viên theo học ngành công nghệ cắt may sau khi ra trường rất khó xin được việc làm.có phải do thiếu kinh nghiệm làm việc?

  5. Ami said

    Như bạn Joseph Bui đã nói: ”ngành nào mình làm tốt thì nên tập trung vào làm”, để khắc phục những thiếu xót của ngành dệt may, cần phải có một kế hoạch rõ ràng lâu dài, phân biệt các điểm yếu khác nhau và tập trung nhóm người có tâm huyết trong từng mảng đảm nhiệm.
    ví dụ: mảng thiết kế: sự đào tạo trong nước không đáp ứng được ”tính công nghiệp” của ngành may. Vậy tập trung một số nhân viên, sinh viên có năng lực cho đào tạo tại nước ngoài và làm việc trong vòng khoảng 2, 3 năm. Sau đó đẩy mạnh xây dựng tòa nhà thiết kế chuyên nghiệp cho ngành công nghiệp may việt nam. Đẩy mạnh bộ phận này sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn: giảm bớt middleman, chuyển dần sang FOB orders, ODM models, Không phụ thuộc nhiều vào số lượng đơn hàng, và sẽ thu hút nhiều khách hàng nước ngoài, giành lợi thế trong đàm phán giá cả sản phẩm, nâng cao lợi nhuận trong xuất khẩu cho doanh nghiệp, tăng lương lao động. Và điều quan trọng hơn hết là gắn kết những doanh nghiệp may mặc Việt Nam, cùng hướng về lợi ích chung.

  6. Na Bui said

    không phải người việt nam nghèo mà sài sang, chỉ được cái mà người nước ngoài chẳng hiểu , đi ăn thì ăn cảnh trong khi những lúc không có ăn, ăn thì để lại cả 2/3. rồi bỏ về, rồi đổ đi, rồi từa lưa tá lả.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: