Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Archive for the ‘Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô’ Category

Nguyên nhân sâu xa về mặt cơ cấu của bất ổn vĩ mô

Posted by BEAR on Tháng Mười 6, 2008


Phần III. Hoạt động ngân hàng và thị trường bất động sản

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic | 1 Comment »

Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2008: 121 / 180

Posted by BEAR on Tháng Chín 24, 2008

Việt Nam ‘tham nhũng hơn Trung Quốc’

Xếp hạng tham nhũng thế giới 2008: Việt Nam lên 2 bậc

Ngày 23/9, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã công bố bảng xếp hạng năm 2008 về “cảm nhận tham nhũng”. Trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đứng thứ 121, cải thiện được hai bậc so với năm ngoái.

Tại châu Á, Chỉ số Nhận thức Tham nhũng 2008 đánh giá 32 nước, và Việt Nam xếp thứ 20, với 2.7 điểm.

Trung Quốc đại lục xếp thứ 12 trong vùng, và đứng thứ 72 trên toàn cầu, với 3.6 điểm.

Anh quốc xếp thứ 16, trong khi Hoa Kỳ xếp thứ 18 ngang với Nhật.

Đánh giá

Năm nay ba nước – Đan Mạch, New Zealand và Thụy Điển – cùng xếp thứ nhất, với 9.3 điểm.

Chỉ số năm ngoái, đánh giá 179 quốc gia, xếp Việt Nam đứng thứ 123, với 2.6 điểm.

Tính theo thời gian, điều tra mức độ tham nhũng của quan chức dưới dạng chỉ số nhận thức tham nhũng này đã đặt Việt Nam cao hơn một chút.

Năm 2005, Việt Nam chỉ đạt 2.4 điểm, sau đó tăng 0.2 điểm (2.6) vào năm 2006.

Nói chung về châu Á, Minh bạch Quốc tế năm nay ghi nhận trong 32 quốc gia, có tới 22 nước bị điểm dưới 5.

Xếp hạng năm 2008

Nước nghèo: Tham nhũng có thể dẫn đến thảm họa

Chủ tịch của tổ chức TI, ông Huguette Labelle cho biết trong buổi công bố xếp hạng: “Ở các nước nghèo nhất, mức độ tham nhũng có thể là sự khác biệt giữa sống và chết, khi liên quan đến tiền cho bệnh viện và nước uống. Sự kéo dài của nghèo đói và tham nhũng đã dồn nhiều xã hội đến tình trạng thảm họa nhân đạo và không thể chấp nhận”.

Ở các nước nghèo, tham nhũng tràn lan đe dọa cuộc đấu tranh chống nghèo đói toàn cầu, đe dọa tiến trình hướng đến Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.

Theo Giáo sư Johann Graf Lambsdorff, một trong những người thực hiện bản báo cáo, “những bằng chứng cho thấy, việc cải thiện được 1 điểm trong chỉ số tham nhũng sẽ làm tăng thêm thu nhập bình quân đến 4% so với GDP”.

Nước giàu: Hối lộ ở nước ngoài

Báo cáo của TI chỉ ra một số nước châu Âu đã mất điểm trong năm 2008, chủ yếu do tình trạng doanh nghiệp hối lộ ở nước ngoài, cũng như những phương pháp “bị đặt dấu hỏi” trong việc thâu tóm và quản lý các bộ phận ở nước ngoài.

Ông Labelle cho biết: “Theo Công ước chống tham những của các nước trong tổ chức OECD, các công ty của OECD hối lộ ở nước ngoài sẽ bị xử tội hình sự ở trong nước. Tuy nhiên, Công ước này đã có từ năm 1999 nhưng đến nay việc áp dụng vẫn chưa đồng đều”.

Thêm vào đó là những mối lo ngại ở ngay trong nước về những vấn đề như vai trò của tiền bạc trong chính trị.

Xem thêm:

Pháp luật Việt Nam ‘gần đội sổ châu Á’

Nhật CPI: Huỳnh Ngọc Sĩ và các đồng chí chưa bị lộ!

Đức Siemens:Quan chức Đức bị khởi tố có đưa hối lộ Việt Nam. Chính phủ VN là chính phủ tham nhũng?

Mỹ truy tố vụ hối lộ quan chức VN

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic | Tagged: | Leave a Comment »

Chỉ tiêu tăng trưởng.

Posted by BEAR on Tháng Chín 20, 2008

‘Việt Nam duy trì tăng trưởng ở mức 6% là tốt rồi’

Việt Nam vẫn sẽ hút nhiều vốn ngay cả khi các nền kinh tế lớn chịu bão tài chính, song việc cần làm là kiểm soát rủi ro. Trao đổi với báo giới, cựu tổng giám đốc WTO Supachai Panitchpakdi cho rằng, mức tăng trưởng 6% là phù hợp trong bối cảnh hiện nay.
> ADB khuyên VN chấp nhận tăng trưởng chậm lại

- Dự báo năm nay GDP của Việt Nam tăng 6,5-7%. Ông nghĩ sao nếu đặt mục tiêu tăng trưởng tương đương cho năm 2009?

Ông Supachai Panitchpakdi.
Ảnh: PV

- Tôi nghĩ việc hạ mục tiêu tăng trưởng sẽ không tác động nhiều đến thành quả mà Việt Nam đã đạt được, vì tình hình suy giảm đang xảy ra toàn cầu. Mỹ cũng đã phải hạ tăng trưởng. Trong năm 2008, họ dự báo tăng 1%, nhưng sau biến động những ngày qua, theo tôi có thể xuống còn 0,8%.

Việt Nam duy trì tăng trưởng ở mức 6% là tốt rồi, và cũng không nên có cảm giác thua thiệt, vì đây là tình hình chung tại các nền kinh tế. Điều cần thiết hiện nay là củng cố các yếu tố cơ bản đối với nền kinh tế như khắc phục thâm hụt tài khoản vãng lai, bình ổn tỷ giá. Làm được những việc này thì mới duy trì tăng trưởng bền vững.

- Trong trường hợp khủng hoảng tài chính Mỹ lan rộng hơn, Việt Nam cần thay đổi như thế nào để thích nghi với việc nguồn vốn có thể bị thu hẹp?

- Chính sách kiểm soát lạm phát của Chính phủ Việt Nam hiện nay đi đúng hướng. Trong thời gian gần đây, giá dầu thô đang giảm, cho thấy chính sách giảm lạm phát của các chính phủ, trong đó có Việt Nam, đã có tác dụng.

Mặt khác, tôi cho rằng không phải lo ngại về nguồn vốn vì danh mục đầu tư của Việt Nam hiện rất phong phú. Tôi không nghĩ Việt Nam thiếu vốn hay thiếu các dự án đầu tư, mà điều đáng lo là làm thế nào hài hoà các dự án này trong tổng thể nền kinh tế.

TS. Supachai Panitchpakdi, quốc tịch Thái Lan, hiện là Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Ông là Tổng giám đốc WTO trong các năm 2002-2005, là người tiền nhiệm của ông Pascal Lamy.

Ông Supachai từng là Phó thủ tướng Thái Lan trong những năm xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ cuối những năm 1990 và tham gia giải quyết khủng hoảng.

Tôi quan sát thấy các địa phương cấp phép không theo quy hoạch tổng thể, mà cấp phép một cách tràn lan. Vốn đưa vào là được cấp phép, mà không có chiến lược phân bổ, hấp thụ ra sao. Đó là một điều rất nguy hiểm.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Mỹ là thị trường nhà đất phát triển bong bóng. Tôi cho rằng chính phủ Việt Nam cũng muốn tránh cuộc khủng hoảng bong bóng trên thị trường nhà đất. Vì thế, tốt nhất là kiểm soát nguồn vốn vay với các dự án địa ốc và tính thanh khoản của các bên đi vay.

Biến động tài chính Mỹ tác động VN

Thị trường lại có dấu hiệu thừa tiền!

Có tín hiệu dư thừa USD khiến từ đầu tháng 9, ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.495 đồng lên 16.513 đồng/USD, tiến hành mua USD nhằm giảm bớt nguồn cung USD dư thừa trên thị trường, giúp đưa tỷ giá VND/USD tăng lại.

Lại dư thừa USD

Chính nhờ hai hỗ trợ này mà tỷ giá USD tăng nhẹ gần đây. Tuy nhiên, USD vẫn còn “ứ đọng” nhiều, bởi các ngân hàng vẫn chưa sử dụng hết biên độ dao động tỷ giá cộng (trừ) 2%, và vẫn thủng thỉnh mua vào với giá mua thấp hơn trần biên độ nhiều.

Theo ông, có ba lý do khiến tỷ giá tăng. Thứ nhất, lượng USD dương của nhu cầu thanh toán do Nhà nước hạn chế nhập khẩu, ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu. Thứ hai, nhập khẩu bị hạn chế nên một lượng USD “ứ” lại ở nhiều ngân hàng. Cuối cùng là lâu nay tỷ giá không biến động nhiều khiến không ít người dân không còn muốn nắm giữ mà đẩy bán khiến cung USD tăng cao.

Theo ông Nguyễn Phước Thanh, tình hình tỷ giá tăng hay giảm còn phụ thuộc vào sự bình ổn thị trường của ngân hàng Nhà nước.

Nhà nước với quyết tâm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu nhằm kiềm chế lạm phát; cùng với nguồn dự trữ ngoại hối 20,7 tỉ USD (tính đến tháng 6/2008) ở ngân hàng Nhà nước, tỷ giá VND/USD được các chuyên gia cho là sẽ không biến động nhiều

- Ông có lời khuyên gì cho Việt Nam từ kinh nghiệm các cuộc khủng hoảng trong khu vực?

- Một trong những vấn đề của khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay là thế giới làm thế nào để cải tổ một cách toàn diện các thể chế tài chính toàn cầu. Các tổ chức tài chính ở châu Á cũng cần phối hợp.

Cách đây 10 năm, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan được cho là do tình trạng thân quen móc ngoặc gây ra. Nhưng tôi cho đây là cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu, có tính hệ thống, vì Thái Lan thả nổi tỷ giá và để thâm hụt tài khoản vãng lai vượt quá mức cho phép.

Vì thế, cần rút ra bài học từ những cuộc khủng hoảng. Việc cải tổ hệ thống tài chính, thuế không cản trở việc chống lạm phát, mà nó giúp duy trì ổn định, tăng giám sát và minh bạch cho các tổ chức tài chính.

- Với tình hình lạm phát chững lại trong thời gian gần đây, nhiều người cho rằng Việt Nam đã có thể hạ lãi suất cơ bản. Ông nghĩ sao?

- Việc hạ lãi suất cơ bản là không tránh khỏi trong tương lai. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng tôi hy vọng việc này sẽ không bị làm thái quá, vì hiện tượng giảm cầu bắt đầu xuất hiện trên thị trường thế giới và trong nước.

Việc thực hiện chính sách tiền tệ phải thực hiện song song với chính sách tài khoá, tăng thu nhập cho người dân, vì lạm phát hiện nay là lạm phát về giá và lương.

- Trong thời điểm này, Chính phủ nên làm gì để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân?

- Như tôi đã nói, không nên thực hiện thái quá chính sách thắt chặt tiền tệ, vì nó sẽ giết chết các sáng kiến của khu vực kinh tế tư nhân. Việc thực hiện chính sách tài khoá kèm theo cũng phải làm sao thúc đẩy được kinh tế tư nhân.

Có thể cắt giảm một số hạng mục thuế để hỗ trợ họ. Đồng thời, khu vực tư nhân có trách nhiệm đa dạng hoá hình thức kinh doanh cũng như cơ cấu hàng xuất khẩu của mình.

Một điều nữa là Chính phủ không được để lương tăng theo giá, vì nếu điều này xảy ra thì việc tăng giá và lương diễn ra liên tục. Chúng ta phải gắn chính sách lương của các doanh nghiệp với tăng năng suất, cũng như kiểm soát lạm phát. Chính phủ chỉ nên có vai trò điều tiết.

VN tìm cách ngăn chận làn sóng phá sản doanh nghiệp

Sau nửa năm áp dụng các biện pháp chống lạm phát, nay chính phủ Việt Nam đang đề cập tới chủ trương duy trì thắt chặt tiền tệ nhưng linh hoạt uyển chuyển.

Ngày 15-9, Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam loan báo dành riêng nguồn vốn 33.000 tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ từ nay tới 2010.

Nếu xem đây là một sự tiếp cứu, thì liệu chương trình này có kịp thời ngăn chặn làn sóng doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản hay không.

Doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn vay với lãi suất 21% sẽ phải làm ra lợi nhuận như thế nào mới có khả năng tồn tạI?

Dựa vào các thông tin chính thức, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng năm 2007 là 56% thì qua năm 2008, con số này chỉ còn 30% tức là giảm gần một nửa.

Thế nhưng kể từ đầu năm tới nay có thể đã có khoảng 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đương 70 ngàn doanh nghiệp đã biến mất hoặc ngừng hoạt động, 60% doanh nghiệp gặp khó khăn giảm sản xuất sa thải công nhân hoặc hoạt động cầm chừng và chỉ có 20% tức 70 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động tốt, đủ sức đương đầu với lạm phát và biện pháp thắt chặt tín dụng.

Thị trường điện máy: Lo lắng trước giờ G

Chỉ còn hơn 3 tháng nữa là thị trường bán lẻ Việt Nam mở cửa ra thế giới. Nhiều doanh nghiệp (DN) bán lẻ điện máy trong nước đang lo lắng sẽ khó tồn tại khi những “người khổng lồ” nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam.

Khi đại gia ngoại vào cuộc

Theo cam kết gia nhập WTO, từ 1/1/2009, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ mở cửa, khi đó các DN bán lẻ nước ngoài sẽ được phép đầu tư thành lập các kênh phân phối, siêu thị 100% vốn nước ngoài. Và nhiều tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới đang chuẩn bị cho kế hoạch thâm nhập thị trường.

Các DN bán lẻ lớn của Việt Nam tuy gọi là lớn nhưng vẫn thua xa các tập đoàn nước ngoài về mọi mặt, vì vậy nếu không có kế hoạch và chiến lược phát triển chắc chắn sẽ bị “thôn tính” trong tương lai không xa, còn theo dự báo sẽ chỉ khoảng 20% các cửa hàng điện máy nhỏ lẻ tồn tại được và cũng chỉ tồn tại chủ yếu ở các vùng xa xôi.

Xem thêm:

03/06/2008 Quốc hội nhất trí hạ chỉ tiêu tăng trưởng xuống 7%

03/01/2008 Chỉ tiêu tăng trưởng 2008

Năm 2008 đòi hỏi phải có bước ngoặt trong cải cách nền hành chính để đạt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 8,5 – 9%.

Năm 2008 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm, năm nước ta có nhiều kinh nghiệm sau một năm gia nhập WTO, cũng là năm chính thức là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, chưa bao giờ vị thế của VN trên trường quốc tế được đề cao như hiện nay. Năm 2008 cũng là năm Chính phủ có nhiệm kỳ mới trẻ trung, năng động, theo đó thu hút đầu tư sẽ tăng mạnh.

Trong bối cảnh đầy hào khí ấy, Chính phủ đặt chỉ tiêu tăng trưởng GDP 8,5-9%.

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic | Tagged: | Leave a Comment »

Căn bệnh lạm phát!

Posted by BEAR on Tháng Năm 12, 2008

Ai đang làm khổ dân?

Phạm Trần
Đăng ngày 08/05/2008 lúc 15:10:00 EDT

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2790

 

Nguyễn Tấn Dũng bị Quốc hội hạch sách

Vật giá leo thang, tiền mất giá, làm không đủ sống, cuộc sống bấp bênh, là những vấn đề người dân Việt Nam đang lao đao đối phó, nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại không đưa ra biện pháp cụ thể nào để giải quyết mà chỉ báo cáo “khơi khơi” với Quốc hội như đã làm trong phiên họp ngày 6-5-2008.

Ông Dũng nói: “ Những tháng cuối năm 2007 tình hình kinh tế thế giới diễn biến rất phức tạp; giá dầu thô, giá lương thực và giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị tăng cao tạo thêm những thách thức gay gắt cho việc điều hành nền kinh tế và tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô; giá tiêu dùng trong nước quý IV tăng rất mạnh, làm cho chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2007 tăng 12,63%; kim ngạch nhập khẩu cả năm tăng 39,6%, nhập siêu tăng cao, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu và gấp hơn 2,7 lần năm 2006”.

Dũng nói tiếp, “Trước tình hình đó, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, Chính phủ đã tập trung sức chỉ đạo theo dõi sát các diễn biến của tình hình, phát hiện và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Nhiều chính sách, biện pháp đã được khẩn trương triển khai thực hiện nhằm kiềm chế lạm phát; tăng cường quản lý thị trường, giá cả và ổn định thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho phát triển sản xuất, đầu tư; đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu và bảo đảm cân đối các hàng hoá thiết yếu; hỗ trợ thiết thực để ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, nhất là nông dân, ngư dân, người nghèo, người bị thiệt hại, khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và giá cả tăng cao”.

Đó là nói theo kiểu Nhà nước “muốn nói sao cũng được”, nhưng ai cũng biết tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát tăng nhanh hiện nay của Việt Nam không chỉ do những yếu tố đột biến khó khăn của kinh tế thế giới mà còn do những tồn tại, khuyết điểm lâu dài của chính sách kinh tế của Nhà nước Cộng sản Việt Nam.

Những khuyết tật kinh tế “bẩm sinh” của Việt Nam giống như thân thể con người có bệnh nan y kinh niên mà không chịu chữa đến nơi đến chốn cho dứt bệnh mà chỉ “uống thuốc lang băm”, gặp đâu chữa đó nên vẫn èo uột không chống nổi “chứng bệnh ngặt nghèo” khi bị tấn công.

Xin kể ra đây một số nguyên nhân :

1) Nhà nước tiếp tục độc quyền kinh tế, làm công việc ngoài khả năng của mình.

2) Dành ưu tiên, đặc quyền, đặc lợi cho các Doanh nghiệp và Tập đòan kinh tế Nhà nước, nhưng phần đông đã thất bại vì thiếu kinh nghiệm, không đủ chuyên viên điều hành.

3) Thiếu kiên quyết giải tán các Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục làm ăn thua lỗ, không kiểm soát được kế họach Cổ phần hoá để cho các cán bộ, đảng viên tham nhũng cấu kết mua, bán để rút ruột ngân sách Nhà nước.

3) Dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào các dự án không thực tế, thiếu khả dụng nên để mất nhiều vốn, bỏ dở nhiều chương trình mà không ai biết đã mất bao nhiêu tiền !

4) Phí phạm ngoại tệ để nhập cảng nguyên liệu và trang bị chế tạo sẵn.

5) Không xây dựng được kỹ nghệ cung cấp dịch vụ và đồ phụ tùng cho các Công ty nước ngoài nên để mất nhiều nguồn lợi.

6) Chỉ biết sử dụng công nhân để phục vụ cho nền “kinh tế gia công” hay “làm mướn” cho nước ngoài.

7) Hàng xuất cảng không cạnh tranh được với hàng nước ngoài vì sản phẩm kém, không hội đủ tiêu chuẩn kỹ thuật hay mất vệ sinh, vi phạm tiêu chuẩn ý tế như thực phẩm, hải sản.

Tất cả những khó khăn trên không được ông Nguyễn Tấn Dũng nói cho dân biết, nên ai cũng “ù u, cạc cạc” nghe báo cáo như như vịt nghe sấm, chả biết mô tê đâu mà mò !

Ngay đến vấn đề lạm phát cũng chỉ thấy nhà nước nói qua, nói lại cả tháng trời mà không ai biết đồng bạc đã mất giá đến mức nào. Người dân chỉ biết họ phải trả thêm nhiều tiền cho thực phẩm và đồ dùng cần thiết hàng ngày, hay không có đủ tiền mua, trong khi tiền lương không tăng hay có làm đầu tắt mặt tối cũng không chạy theo kịp vật giá leo thang.

Nguyên nhân lạm phát

Nhưng có ai cho dân biết nạn do đâu mà có lạm phát không ?

Ông Dũng giải thích với Quốc Hội lạm phát xẩy ra vì nhà nước phạm những lỗi lầm như: “Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm, nhất là trong năm 2007, làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao gây áp lực trực tiếp đến lạm phát”.

Nói như thế là quá chuyên môn, người dân không tài nào hiểu nổi.

Nhưng Ủy ban Tài chính – ngân sách Quốc hội đã tìm ra nguyên nhân.


Theo báo Tuổi Trẻ, trong cuộc họp ngày ngày 5-5 , “Các chuyên gia kinh tế cho rằng việc Chính phủ chi tiêu quá mức là một yếu tố gây lạm phát và cần được cắt giảm. Chính phủ đã chi tiêu vượt quá mức tiền thu vào tới 6,6% GDP (tổng sản lượng Quốc gia), không phải ở mức 5% như Quốc hội cho phép, theo cách tính của Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF)”.

“Nguyên nhân của lạm phát cao có một phần quan trọng của chính sách tài khóa lỏng lẻo trong những năm qua, thể hiện ở bội chi ngân sách tăng liên tục qua các năm” – tiến sĩ Lê Quốc Lý, vụ trưởng Vụ Tài chính tiền tệ (Bộ Kế hoạch – đầu tư), cho biết tốc độ tăng bội chi ngân sách trong tám năm trở lại đây giữ ở mức cao 17-18%/năm.

Bộ Kế hoạch – đầu tư nói lạm phát có một phần đóng góp của bội chi ngân sách. Năm 2001, chi ngân sách 26,5% GDP, đến nay xấp xỉ 40%, tăng rất cao. Ông Lý nhấn mạnh: “Vấn đề đặt ra hiện nay là việc rà soát, cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước chưa cần bằng việc đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư kém hiệu quả”.

Như vậy rõ ràng thủ phạm gây ra tham nhũng là nhà nước, nhưng ông Dũng vẫn báo cáo sai với Quốc hội rằng: “Tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% được giữ liên tục trong nhiều năm trong khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi; do đó không tạo được áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm chi tiêu ngân sách.”

Biết phải ngưng chi tiêu bừa bãi để tránh khổ cho dân mà các cơ quan nhà nước cứ phung phí thì ông Dũng là người đứng đầu Chính phủ lại không bị Bộ Chính trị kỷ luật thì có lạ không ?

Tuy nhiên ông Dũng đã nhìn nhận kinh tế Việt Nam đang trên đà tụt hậu vì: “Nhập khẩu tăng cao chủ yếu là do số lượng nhập khẩu các nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc phục vụ sản xuất tăng nhanh và phải chịu mặt bằng giá cao hơn nhiều so với cùng kỳ; nhưng nguyên nhân sâu xa là cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và còn nhiều yếu kém, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất và công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu là gia công lắp ráp (khoảng 70% nguyên liệu và linh kiện phải nhập khẩu) và hiệu quả đầu tư thấp, còn nhiều lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng”.

“Chính phủ xin đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng cả năm 2008 ở mức khoảng 7%; tích cực phấn đấu kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá; bằng các giải pháp tổng hợp đưa tốc độ tăng giá tiêu dùng theo hướng giảm dần”.

Trong kỳ họp Quốc hội kỳ 2 trước đây, Nhà nước dự đoán kinh tế có thể tăng đến 8.5 hay 9 phần trăm.

Ông Dũng bị hành hạ

Tuy nhiên, báo chí trong nước cho biết: “Nhiều đại biểu QH cho rằng, Chính phủ tỏ ra lúng túng trước những biến động trong thời gian vừa qua. Đại biểu yêu cầu Chính phủ làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, thậm chí của cá nhân các Bộ trưởng trong việc để xảy ra lạm phát.” (VietNamNet, 6-5-08)

Báo điện tử VietNamNet viết tiếp : “Đại biểu Phạm Thị Loan, đoàn Hà Nội bày tỏ: “Tôi thấy mừng vì Chính phủ đã nhận ra nhiều thiếu sót, những yếu kém của nền kinh tế, tuy nhiên, các giải pháp đưa ra mới chỉ dừng lại ở trạng thái xử lý tình huống và giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt chứ chưa triệt để, lâu dài…”

Bà Loan yêu cầu : “Quốc Hội phải bàn thật sâu vấn đề các tập đoàn kinh tế đã bỏ một lượng vốn lớn của Nhà nước vào bất động sản và chứng khoán, trong khi đó không phải là chức năng của họ. Chính phủ phải kiểm tra xem họ mua vào mấy “chấm”, nay không còn “chấm” nào thì lỗ bao nhiêu, ai chịu”.

“Không khí ở tổ Hà Nội mỗi lúc một nóng khi đại biểu Nguyễn Ngọc Đào (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia) hỏi: “Thị trường chứng khoán là một thất bại thảm hại, lỗi quản lý thuộc về ai? Báo cáo Chính phủ nêu các khó khăn khách quan như thị trường thế giới, thiên tai… Nhưng chả lẽ cứ lấy lý do mãi như thế?”.

Ông Đào thẳng thắn: “Chính phủ phải làm rõ nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát là gì, trách nhiệm các bộ, ngành, thậm chí của cá nhân các Bộ trưởng ra sao, không thể cứ thỏa hiệp thế này mãi…Chính phủ tỏ ra lúng túng trước những biến động trong thời gian vừa qua, mà chủ yếu do dự báo kém. Chúng ta có đủ các viện nghiên cứu nhưng không dự báo nổi biến động, có lẽ phải đầu tư nhiều vào công tác này.”

“Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM Trần Du Lịch đề xuất phải làm rõ trách nhiệm cụ thể của từng bộ, đặc biệt Bộ Công thương, Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Ông Lịch nhấn mạnh, báo cáo Chính phủ có những dòng “giật mình” khi nhận định về chính sách tiền tệ đã gây áp lực trực tiếp lên lạm phát “nhưng lại không nêu rõ trách nhiệm”.

Báo Tin nhanh Việt Nam (VnExpress, 6-5-08) viết : “ Đại biểu Nguyễn Văn Bé cho rằng từ đầu năm đến nay, khi giá cả tiêu dùng tăng chóng mặt thì niềm tin của người dân vào Chính phủ đã suy giảm. “Chính phủ cần quy trách nhiệm cụ thê cho từng thành viên. Nói dự báo không tốt, vậy phải chỉ ra ai. Làm không được thì nghỉ. Phải chọn cán bộ tốt để làm việc”.

VnExpress viết tiếp: “Lê Thanh Bình, Phó giám đốc Công an TP HCM bày tỏ quan điểm khi thảo luận báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội sáng 6/5. Ông cho rằng, công tác dự báo kém chứng tỏ còn có sự quan liêu, chưa gần dân, chưa sâu sát tình hình.”

“Vị phó giám đốc công an TP HCM dẫn chứng, ngay từ kỳ họp cuối năm 2007, đại biểu đã phản ánh ý kiến cử tri rằng giá cả leo thang, đình công gia tăng, nhưng Chính phủ không tiếp thu, vẫn khẳng định kiểm soát được. “Cử tri có lần đã mắng chúng tôi là nghị gật. Bản thân thấy rất có lỗi khi sự phản ánh của mình không được tiếp thu, sửa đổi”.

Ít ra thì cũng phải như thế thì mới không bị mang tiếng là bù nhìn chứ ? Nhưng tại sao Chính phủ lại không chịu nghe yêu cầu của các Đại biểu Dân, như Lê Thành Bình đã than phiền mới là điều đáng nói.

Ngay đến Đại biểu dân mà còn bị coi thường như thế thì dân có quyền gì mà đảng vẫn cứ huênh hoang: “ Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền…của dân, do dân và vì dân” ?

Phạm Trần
08/05/2008

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic, Government, Inflation | Leave a Comment »

Lạm phát và Nghèo

Posted by BEAR on Tháng Hai 21, 2008

Không thể xem thường nguy cơ bất ổn’

TS Lê Đăng Doanh
TS Lê Đăng Doanh là cựu cố vấn về kinh tế cho chính phủ

Giá cả tăng cao là vấn đề nóng bỏng hiện thời ở trong nước. Tỷ lệ lạm phát năm ngoái đã lên hai chữ số và chưa có xu hướng giảm đi.

Đài BBC đã có cuộc trò chuyện quanh chủ đề này với nhà kinh tế hàng đầu, tiến sỹ Lê Đăng Doanh, tại Hà Nội.

 

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh (TS LĐD): Tỷ lệ lạm phát ở VN năm 2007 là 12.6%, thuộc loại cao nhất khu vực, chỉ sau Myanmar với trên 40%.

Trong tháng Giêng và tháng Hai chúng ta thấy chỉ số giá cả tiếp tục tăng và tôi nghĩ đây phải là một trong các mối lo ngại hàng đầu và ưu tiên hàng đầu cùa chính phủ VN để ổn định kinh tế vĩ mô cũng như ổn định đời sống cho người lao động, nhất là những người nghèo.

BBC: Thưa ông, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng lạm phát hiện nay, khiến thu nhập thực tế của những người làm công ăn lương giảm rõ rệt?

TS LĐD: Điều này, theo tôi có ba nguồn gốc.

Thứ nhất là giá vàng và giá dầu thô tăng, không chỉ dẫn tới giá xăng dầu tăng mà tất cả các sản phẩm từ dầu thô như phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, nguyên liệu đồ nhựa, sợi tổng hợp vv… đều tăng. Rồi cước phí vận tải cũng tăng, tác động đến mặt bằng giá cả.

Thứ hai, các diễn biến về cung cầu trên thị trường phức tạp. Thí dụ
VN hiện nay đang qua một đợt rét lịch sử, khiến cho gia súc bị chết, rau quà̉ cũng bị mất mùa và đương nhiên giá cả tăng lên. Sự mất cân đối cung cầu này cần được xử lý kịp thời, như tìm nguồn cung cấp thay thế hoặc nhập khẩu.

 

Phải có các biện pháp tích cực để trợ giúp cho người nghèo.

Điểm thứ ba có liên quan tới chính sách tiền tệ. Trong năm 2007, VN đã xuất ra một lượng tiền mặt rất lớn để mua vào 9 tỷ đôla. Theo kinh tế học thì sau khi xuất ra lượng tiền lớn như vậy phải có biện pháp trung hòa, như bán trái phiếu và nâng lãi suất ngân hàng để vô hiệu hóa số tiền vừa phát hành đó. Nhưng các biện pháp này chúng ta làm quá chậm, dẫn tới chỉ số giá cả tăng cao.

Ngoài ra còn một số yếu tố khác như lượng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để xây dựng cơ bản, qua một số vòng quay nhất định cũng sẽ ra thị trường và tác động tới tổng lượng tiền.

Một yếu tố nữa là giá bất động sản ở VN cao một cách phi lý và đang có phương hại tới môi trường đầu tư.

BBC: Giá cả tăng như vậy khiến người nghèo càng nghèo hơn. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội VN, theo ông đánh giá, đang ở mức độ thế nào?

TS LĐD: VN đã tăng được mức thu nhập bình quân đầu người, song đồng thời chỉ số chênh lệch giữa chi tiêu củ̀a người giàu và người nghèo cũng tăng lên một cách nhanh chóng.

Mức thu nhập của chúng ta hiện ở mức 835 đôla/người nhưng chênh lệch chi tiêu giàu nghèo của ta đã ngang bằng với Trung Quốc trong khi mức thu nhập của TQ là khoảng 2.000 đôla/người. Đó là điều cần chú ý.

Tuy nhiên tôi nghĩ ngay cả chỉ số đó cũng chưa phản ánh đúng chênh lệch giàu nghèo ở VN vì chúng ta không kiểm soát được nguồn thu và mức độ chi tiêu bằng tiền mặt trong xã hội còn quá lớn.

Theo tôi, tình trạng này không thể xem thường và phải có các biện pháp tích cực để trợ giúp cho người nghèo.

BBC: Khoảng cách giàu nghèo như vậy có thể gọi là bất công hay không, thưa ông?

TS LĐD: Theo tôi, đó là thể hiện một phần của sự bất công. Nhưng bất công lớn nhất trong xã hội là bất công về cơ hội được tiếp cận với giáo dục và cơ hội được nói lên tiếng nói của mình.

Nghèo không chủ yếu là nghèo tiền, mà đáng sợ là nghèo về trí tuệ, về tri thức. Người nghèo không tiếp cận được báo chí, giáo dục, khi cất tiếng nói không được lắng nghe. Theo tôi nhà nước cần chú ý để bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội có tiếng nói như nhau.

 

Bất công lớn nhất trong xã hội là bất công về cơ hội được tiếp cận với giáo dục và cơ hội được nói lên tiếng nói của mình.

BBC:
Thưa ông bên TQ người ta đã cảnh báo nguy cơ mất ổn định xã hội chính vì khoảng cách giàu nghèo và tình trạng bất công. Tại VN, với mô hình kinh tế nhiều nét tương đồng, liệu có nguy cơ này hay không?

TS LĐD:
Nguy cơ bất ổn định xã hội hoàn toàn không thể xem thường. Bởi vì đối với những người nông dân mất đất để xây dựng và công nghiệp hóa, họ được đền bù một khoản nhất định nhưng sau đó không được tạo điều kiện để có thu nhập ổn định, công ăn việc làm.

Đó là nguy cơ lớn và trong thời gian qua đã có một số biểu hiện của nguy cơ mất ổn định.

Sắp tới đây, trong năm 2008 này, chúng ta đã thấy xuất hiện ảnh hưởng của kinh tế Hoa Kỳ tới các nền kinh tế thế giới và có thể đoán được rằng cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt. Hàng TQ, nếu không bán được sang Hoa Kỳ thì sẽ tìm cách để tràn ngập thị trường VN.

Điều đó có nghĩa, có những doanh nghiệp hôm nay còn có việc làm nhưng
ba tháng nữa thì chưa dám chắc. Chúng ta phải chú ý có những biện pháp về an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho những người tạm thời không có việc làm đó.

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic | Leave a Comment »

GDP của Việt Nam theo cân bằng sức mua giảm 30%

Posted by BEAR on Tháng Mười Hai 24, 2007

06:01′ 24/12/2007 (GMT+7)

(VietNamNet) – Ngày 17/12/2007, Ngân hàng Thế giới đã công bố lại tính toán về tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên cơ sở cân bằng sức mua (PPP – Purchasing Power Parity) cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Theo đó, GDP của Việt Nam năm 2005 tính bằng PPP đã được điều chỉnh giảm 30% từ 255,6 tỷ USD xuống còn 178,1 tỷ USD. Tương ứng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP năm 2005 là 2.142 USD, chứ không phải là 3.076 USD như đã công bố trước đây.

So sánh thu nhẰ bình quân đầu người của một số nước (Nguồn: WorldBank)

So sánh thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của một số nền kinh tế (Nguồn: WorldBank)

Cân bằng sức mua là gì?

Trên thế giới, có ba cách để nhìn nhận về GDP của mỗi nền kinh tế. Cách thứ nhất là dùng đồng tiền trong nước. Cách này chỉ cho chúng ta biết quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người là bao nhiêu, và tính toán tốc độ tăng trưởng của năm sau so với năm trước. Nhưng các số liệu này không thể dùng để so sánh giữa với các nền kinh tế dùng các loại tiền khác nhau. Trong khi đó, mỗi người, mỗi quốc gia đều có nhu cầu phải biết “vị thế chúng ta đang ở đâu trên thế giới này”.

Cách thứ hai, để có thể so sánh với các nước, người ta quy đổi GDP và GDP bình quân đầu người sang đô-la Mỹ, dựa trên tỷ giá hối đoái thị trường. Cụ thể, tính theo tỷ giá hối đoái thị trường năm 2005, GDP của Việt Nam là 52,9 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 637 USD.

Tuy nhiên, ở mỗi nơi trên thế giới thì đồng đô-la Mỹ lại có sức mua khác nhau. Một lần đi cắt tóc ở Nhật hết ít nhất 10 đô la, nhưng cắt tóc ở Việt Nam thì chỉ hết nửa đô la. Ngược lại, trong khi một chiếc xe Toyota Camry ở Mỹ giá 20-25 ngàn USD, thì cũng chiếc xe đó ở Việt Nam lại có giá trên 60 ngàn USD.

Như thế để so sánh chính xác hơn sự khác nhau về mức sống thì lại phải cần đến cách thứ ba. Đó là quy đổi đồng đô-la sang sức mua tương đương (PPP), sử dụng một “rổ” hàng hóa và dịch vụ làm đại diện. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới tính toán thấy để mua được một rổ hàng hóa điển hình có giá 1 USD ở Việt Nam thì một người dân ở Mỹ phải bỏ ra 3,4 USD.  

Vì vậy, để so sánh trên cơ sở ngang bằng sức mua của đồng đô-la, GDP của Việt Nam phải được điều chỉnh tăng lên 3,4 lần. Kết quả là năm 2005, thu nhập bình quân đầu người của ta tính theo tỷ giá hối đoái là 637 USD, còn tính theo PPP là 2.142 USD.

Lý thuyết về PPP thì đơn giản, nhưng thực tiễn tính toán lại phức tạp hơn nhiều vì đòi hỏi không những việc xác định rổ hàng hóa điển hình cho mỗi nền kinh tế mà còn cả nỗ lực khảo sát giá cả một cách chi tiết.

Trong những năm qua, công tác ước lượng PPP cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, của Ngân hàng Thế giới chỉ được dựa trên những phỏng đoán tương đối.

So sánh tổng GDP của một số quốc gia và vùng lãnh thổ (Nguồn: WorldBank)

So sánh tổng GDP của một số nền kinh tế (Nguồn: WorldBank)

Chỉ đến gần đây, Chương trình So sánh Quốc tế (ICP) của Ngân hàng Thế giới mới triển khai một cách toàn diện hoạt động thu thập số liệu giá cả tại 146 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dựa trên thông tin mới này với mốc thời gian là năm 2005, ước lượng PPP của rất nhiều quốc gia đã được tính lại với những mức điều chỉnh lớn, trong đó đáng kể nhất là việc GDP của Trung Quốc và Ấn Độ đều giảm đi gần 40%.

Ý nghĩa của việc tính lại PPP

Việc điều chỉnh giảm GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam, Trung Quốc, và Ấn Độ có thể có ý nghĩa gì?

Việc điều chỉnh này chẳng làm cho chúng ta mất đi chút thu nhập nào. Nhưng việc điều chỉnh cho phép nhìn nhận so sánh chính xác hơn vị thế của chúng ta trên thế giới.

Thứ nhất, việc điều chỉnh của Ngân hàng Thế giới cho thấy mặt bằng giá cả của Việt Nam không phải là quá rẻ như ước tính trước đây. Có nghĩa là mức sống của người Việt Nam không cao như Ngân hàng Thế giới trước đây đã ước tính.

Thứ hai, điều không vui là khoảng cách của chúng ta với các nước giàu đã giãn xa hơn.

Mặt khác, do thước đo PPP được sử dụng phổ biến trên thế giới để so sánh và xếp hạng thu nhập bình quân đầu người, nên việc một quốc gia được xếp là nước nghèo càng lâu thì quốc gia đó càng có nhiều khả năng tiếp tục nhận được vốn vay ưu đãi từ các tổ chức phát triển, cũng như được “ưu tiên” hơn trong việc tiếp cận với thị trường thế giới.

Posted in Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, Economic | Tagged: | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.