Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Loạt bài: Cơ Chế Đẻ Ra Sâu Mọt

Posted by BEAR on Tháng Năm 12, 2008

Trần Quốc Hiên – ĐảngDCND

10/05/2008

Lời tựa

Báo chí trong nước đang phải chịu một chế độ kiểm duyệt còn hà khắc hơn cả thời phong kiến thuộc địa, đó là hậu quả của chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam .

Người Việt hải ngoại hiện đang sống ở những nước tự do, khi đọc báo chí trong nước hẳn sẽ cảm thấy vô cùng khổ tâm, bởi những sự thật hoặc là bị bóp méo do chế độ kiểm duyệt, hoặc là phải nói bóng nói gió – chỉ người tinh ý mới nhận ra quan điểm thực – để qua được chế độ kiểm duyệt, những đoạn viết gò ép như bị kẹp chặt giữa hai gọng kìm thép của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông.

Tôi hi vọng loạt bài này sẽ góp phần làm sáng tỏ một vấn đề cơ bản, đó là “Cơ chế đẻ ra sâu mọt”, mà nếu không nghiên cứu thì sẽ không thể hiểu được tình hình kinh tế – chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Tác giả

VN – Tháng 5 – 2008

 

Bài 2

Thủ Phạm giấu Mặt Gây Ra Lạm Phát

http://ddcnd.org/main/index.php?option=com_content&task=view&id=384&Itemid=9

Cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ. Đó là xét về mặt quản lý kinh tế, còn xét về khía cạnh chính trị thì lạm phát còn có nguyên nhân từ thể chế, do sự chi phối của những người có quyền.

Các học giả ở Việt Nam gọi những người có quyền đó là “nhóm lợi ích”, từ này chưa hoàn toàn chính xác, vì nó chưa phản ánh đầy đủ thực trạng kinh tế – chính trị Việt Nam, khi mà những người có quyền từ trung ương đến địa phương ở mọi lĩnh vực xã hội, đã câu kết, móc nối, dây mơ rễ má thành một “tập đoàn lợi ích cơ hội”, thao túng lũng đoạn nền kinh tế – chính trị Việt Nam.

Bọn chúng có thể tạm phân ra thành 2 loại: Bọn lợi ích kinh tế và bọn lợi ích chính trị. Nói đến bọn lợi ích kinh tế thì tiêu biểu nhất là các Tổng công ty nhà nước, các Tập đoàn kinh tế nhà nước sử dụng vốn “toàn dân” để đầu cơ, làm giàu. Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp nhà nước “nhảy” vào kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, địa ốc… Nhiều doanh nghiệp đã đánh mất vai trò “chủ đạo” khi tập trung rất ít cho ngành kinh doanh chính.

Các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm giữ 80% lượng vốn tín dụng của các ngân hàng trong nước; 70% vốn vay nước ngoài, trong khi chỉ tạo ra 40% GDP, chưa kể trong 40% GDP ấy, chủ yếu có được nhờ đặc quyền khai thác tài nguyên quốc gia. Nghĩa là tiền vốn của toàn dân đã bị các doanh nghiệp ấy mang đi kinh doanh kém hiệu quả. Tuy nhiên, các quan chức doanh nghiệp nhà nước vẫn ngày một giàu lên, cùng với nó là sự giàu có xa hoa của các quan chức chính quyền.

Bọn lợi ích chính trị, đó là các “quan tham” từ trung ương đến địa phương và con em, người nhà của chúng, bọn này là lũ sâu mọt hại dân. Đâu phải cứ gắn lên mình cái mác Cộng sản thì là người Cộng sản, bọn chúng đội lốt Cộng sản để làm việc xấu, ra sức bót lột, vơ vét, làm giàu bất chính. Bọn chúng thối nát đến mức nào, thì người dân hiểu rõ nhất, đặc biệt là những người dân nghèo.

 

Việt Nam luôn đi sau Trung Quốc hàng thập kỷ, những thứ mà Trung Quốc đã trải qua, thì bây giờ Việt Nam đang phải trải qua. Cách đây hơn 10 năm, nền kinh tế Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng. Khi xem lại những gì mà nước láng giềng cùng cộng sản với ta đã làm, chúng ta thấy như việc của mình ngày hôm nay.

Xin được trích dẫn cuốn sách “Chu Dung Cơ ngọn hùng phong cải cách” – Nhà xuất bản trẻ năm 2001, nguyên tác Trung văn “Chu Dung Cơ Truyện Ký” của Hà Trung Thạch, Nhà xuất bản Viễn Phương, để liên hệ với tình hình của Việt Nam hiện nay:

“Diễn biến căng thẳng trong nền kinh tế Trung Quốc ngày một nghiêm trọng, Đến tháng 6 – 1993, tỷ lệ lạm phát lên tới gần 20%, các khoản vay ngân hàng cao hơn quy định là 160 tỷ NDT, dự trữ ngân hàng giảm mạnh và đứng trước nguy cơ vượt quá giới hạn cho phép.

Năm 1992, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng 13,2%, tuy nhiên sự tăng trưởng này đi kèm với tình trạng kinh tế hỗn loạn. Cuối năm 1992, kinh tế Trung Quốc xuất hiện xu hướng phát triển “quá nóng” và mất cân bằng.

Các lãnh đạo địa phương vừa thiếu kinh nghiệm vừa hám lợi nên dốc toàn bộ nguồn vốn ở các tỉnh phía Bắc và cả Trung Quốc vào kinh doanh bất động sản ở các tỉnh phía Nam và các tỉnh duyên hải. Các địa phương đua nhau cắt đất để xây dựng khu công nghiệp. Tình trạng các quan chức địa phương câu kết với giới thương gia làm giàu bất chính rất phổ biến.

Việc xuất hiện những cơn sốt kinh tế cục bộ, nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế tài chính lỏng lẻo, mất trật tự, tiền mặt thất thoát do cho vay bừa bãi. Trong khi đó ngân hàng trung ương Trung Quốc đã không phát hiện sớm tình trạng này, số vốn này đều đầu tư vào bất động sản, nhằm thu lợi nhuận cao.

Tình trạng hỗn loạn trong tài chính thời kỳ này được thể hiện ở 8 khía cạnh sau: Lượng tiền xuất ra quá lớn. Trật tự tài chính tiền tệ rối loạn. Nhu cầu xã hội tăng mạnh. Tài chính quốc gia khó khăn. Cơ cấu ngành sản xuất mất cân bằng nghiêm trọng. Cán cân thương mại lệch nhiều về nhập siêu. Thu chi quốc tế mất cân đối. Lạm phát ngày một nghiêm trọng.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trật tự tài chính hỗn loạn là do một lượng lớn vốn ngân hàng đã xuất ra cho vay để đầu tư vào nhà đất. Các dự án mới đua nhau mọc lên, nhiều khu đất cho thuê với giá thấp nhưng lại không được sử dụng, giá nhà đất tăng cao so với giá trị thực khiến dân nghèo không thể mua nổi. Trước tình trạng này, chỉ có “bàn tay thép” mới có thể thu hồi được các khoản cho vay sai nguyên tắc, mới có thể chỉnh đốn một cách căn bản trật tự tài chính tiền tệ.

Biện pháp cứng rắn của Chu Dung Cơ gây ra làn sóng phản ứng mạnh mẽ của giới đặc quyền. Một số người phụ trách các ngân hàng, phụ trách thẩm định dự án, con em cán bộ cao cấp, các cán bộ quyền thế của các ngân hàng trung ương hay địa phương lợi dụng việc cho vay để ăn hoa hồng 5 – 10%. Những kẻ này lợi dụng công quỹ mua nhà đất, mua cổ phiếu, coi thường pháp luật, ăn chơi phè phỡn xa hoa. Nay Chu Dung Cơ ra thời hạn thu hồi vốn vay, ngừng cấp vốn, tăng lãi suất, không chỉ cắt đứt con đường làm ăn của bọn chúng, có kẻ còn phải bồi thường tiền của, mất cả danh chức. Những kẻ này lúc thường ra vẻ thần thông quảng đại, trên dưới câu kết tư lợi, nay căm hận Chu Dung Cơ vô cùng, ra sức chống đối, thậm chí rêu rao đe dọa: “Không thấy quan tài không rơi lệ”.

Các quy định của Chu Dung Cơ triển khai được một thời gian ngắn đã cho hiệu quả rõ rệt, đặc biệt đã thanh lý một loạt công ty phát triển nhà đất, giải tán một loạt các công ty bất động sản của ngành tài chính cũng như của các cơ quan chính phủ, giải tán các công ty bất động sản làm ăn phi pháp của con em cán bộ cấp cao và của các phần tử đặc quyền.” (Hết trích)

 

Trung Quốc thật may mắn vì có một vị Thủ tướng “Thanh chính liêm minh” như Chu Dung Cơ, ông đã sử dụng “bàn tay thép” để chống bọn tập đoàn lợi ích cơ hội rất có hiệu quả. Còn Việt Nam thì sao, chúng ta chỉ có những vị Thủ tướng “giấy”, nghĩa là ngồi bàn giấy và đọc diễn văn. Ngay như ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nói nhiều, hứa hẹn nhiều, nhưng từ lúc ông lên nắm quyền thì đất nước lâm vào khủng hoẳng kinh tế, lạm phát tăng cao kỷ lục, đời sống người dân, đặc biệt là công nhân và nông dân, xuống thấp nghiêm trọng, trong nước liên tục sảy ra thiên tai, dịch bệnh, tai nạn…

 

Trong bài viết Phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững”, ông Nguyễn Tấn Dũng đã lẩn tránh khi bàn về “Bọn tập đoàn lợi ích cơ hội”, trong khi chính bọn chúng mới là nguyên nhân gây ra lạm phát cao như hiện nay. Nếu bọn tập đoàn lợi ích lan vào cả trung ương, thì chống lạm phát phải chống từ trung ương, việc này sao không thấy ông Nguyễn Tấn Dũng nói đến?

 

Không loại trừ khả năng, nhiều quan chức trong trung ương, trong Bộ chính trị đã đỡ đầu cho bọn tập đoàn lợi ích cơ hội, thậm chí chính họ là những nhân vật chủ chốt của tập đoàn lợi ích cơ hội. Họ có quyền trong tay thì chả ai làm gì được họ, luật pháp cũng chịu thua, còn người dân chỉ biết kêu trời. Mới 3 tháng đầu năm 2008, lạm phát đã lên 9,19%, và sẽ tiếp tục tăng cao…

 

Nếu tính theo cách mới (bình quân 3 tháng năm nay so với bình quân cùng kỳ năm trước) thì lạm phát 3 tháng đã lên tới 16,37%. Năm 2007, lạm phát đã “lồng lên” hai chữ số (12,63%). Bước sang năm 2008, lạm phát tiếp tục “lồng lên”: tháng 1 là 2,38%, tháng 2 là 3,56%. Nếu tính theo năm (so với cùng kỳ năm trước) tháng 1 tăng 14,11%, tháng 2 tăng 15,67%. Đó là những con số mà các chuyên gia đưa ra, phần nào khó hiểu với người dân, nhưng có thể giải thích đơn giản là thời điểm tháng 3 năm nay giá cả đã tăng cao gấp rưỡi thời điểm tháng 3 năm 2007, trong khi năm 2007 lạm phát đã lên 12,63% so với năm 2006, đó là tăng theo cấp số nhân.

 

Lạm phát tăng cao làm cho dân nghèo, đặc biệt là công nhân và nông dân trở nên bần cùng, nhưng lại giúp bọn tham quan, bọn đầu cơ sung sướng vơ vét. Có lẽ đến bây giờ nhóm lãnh đạo chóp bu trong đảng mới hiểu rõ hậu quả của một xã hội thiếu dân chủ, thiếu tự do và thiếu minh bạch. Vấn đề nông nghiệp nông thôn sẽ là vấn đề nhức nhối nhất trong năm 2008, việc các địa phương làm công nghiệp tràn lan, thiếu quy hoạch tổng thể vùng công nghiệp và nông nghiệp đã và đang gây ra hậu quả nghiêm trọng, đáng báo động về dân sinh, môi trường sinh thái và an ninh lương thực quốc gia.

“Công nghiệp hóa kiểu xẻo đất màu nông nghiệp” có lẽ chỉ có ở Việt Nam , nó đi ngược lại cách làm của các nước tiên tiến trên thế giới, đã dẫn đến công nghiệp lộn xộn, còn nông nghiệp thì khốn đốn. Nguyên nhân do đâu, như đã phân tích ở trên, đó là do các quan chức địa phương kém về tri thức, lại hám lợi, cậy thế quan to trên trung ương nâng đỡ, móc nối, câu kết với giới doanh nhân, tha hồ vơ vét, làm giàu từ các dự án công nghiệp, du lịch và đầu cơ bất động sản… Bọn chúng coi trời bằng vung, nếu không chống bọn tập đoàn lợi ích cơ hội, thì mọi chủ trương, chính sánh dù đúng đắn cũng không được thực hiện, chỉ là chính sách “treo”, hô hào mà chả ai theo.

Chống lạm phát trước tiên phải từ cải cách thể chế, phải đấu tranh quyết liệt, có biện pháp cứng rắn đối với bọn tập đoàn lợi ích cơ hội. Bọn chúng vì quyền lợi bị đe dọa sẽ ra sức ngăn cản, tạo ra không ít khó khăn. Nhưng nếu không có cải cách thể chế, không chống bọn tập đoàn lợi ích cơ hội, thì nói chống lạm phát chỉ là nói vui, nói để mị dân, chứ không thể thực hiện được.

Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, thiết nghĩ đây là lời cảnh báo dành cho đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam đang khủng hoẳng, tiềm ẩn nhiều yếu tố động loạn.

Trần Quốc Hiên

Việt Nam, tháng 5 năm 2008

Bài 1

Công Nghiệp Hóa Kiểu Xẻo Đất Màu Nông Nghiệp

 

04/05/2008

http://ddcnd.org/main/index.php?option=com_content&task=view&id=381&Itemid=9

Những con số mà các chuyên gia đưa ra sau đây sẽ khiến nhiều người phải giật mình:

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên – Môi trường, trong vòng 5 năm từ 2001 -2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp tới trên 366 nghìn ha, chiếm 3,9% đất nông nghiệp đang sử dụng. Bình quân mỗi năm thu trên 73 nghìn ha.

Theo cách tính toán khá chi li của Cục HTX-PTNT (Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn), mỗi ha đất thu hồi ảnh hưởng tới 10 lao động nông nghiệp. Như vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm đã làm đời sống của 2,5 triệu người bị lung lay.

Trong đó, vùng Đồng bằng Sông hồng có số hộ bị thu hồi lớn nhất với khoảng 300.000 hộ, kế đến là vùng Đông Nam bộ với khoảng trên 100.000 hộ. Hai địa phương có số hộ bị thu hồi đất lớn nhất là Hà Nội với 138.291 hộ và TP HCM là 52.094 hộ.

Bắc Ninh là tỉnh “trải thảm đỏ” tương đối sớm mời các nhà đầu tư. 10 năm sau, tại tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước này các Khu Công nghiệp mọc lên như nấm. 3.000 ha đất nông nghiệp bị “xén” mất và theo thông kê thì cứ 5 hộ dân có 1 hộ mất đất canh tác. Có những thôn, xóm 90 – 95% diện tích đất nông nghiệp đã “khai tử”.

Đất thu hồi phần lớn thuộc diện “bờ xôi ruộng mật”. Xã Tiền Phong ( Mê Linh – Vĩnh Phúc) có 562 ha đất nông nghiệp nhưng đã “hiến” để làm công nghiệp tới 257 ha. Điều đáng nói, số đất bị lấy đi thuộc diện màu mỡ.

Điều rất bất công nữa là, có tới hàng triệu nông dân đang lao đao vì mất tư liệu sản xuất thì các Khu công nghiệp sau khi đã giải phóng mặt bằng lại rơi vào giai đoạn “ngủ đông”. Tại 4 tỉnh: Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên và Vĩnh Phúc, có tới 50% diện tích đất đã giải phóng thuộc diện “quy hoạch treo”.

Điều tra ở 12 Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất với tổng diện tích diện tích trên 2.000 ha thấy tỉ lệ sử dụng đất và lấp đầy KCN chưa đạt 50%, thậm chí có nhiều nơi chỉ đạt dưới 10%; đã khiến ông Bộ trưởng Mai Ái Trực phải thốt lên: “Với cách quản lý thiếu trách nhiệm và lãng phí như thế này thì không hiểu 10 năm, 20 năm sau, con cháu chúng ta sẽ sống ra sao.”

Chưa nói đến 10 năm, 20 năm, mà ngay bây giờ người nông dân mất đất sẽ sống ra sao? Hầu hết khi các doanh nghiệp vào lấy đất đều đưa ra cam kết ngon ngọt là sẽ tạo công ăn việc làm cho người mất đất, nhưng khi xong rồi thì “sống chết mặc bay”, với hàng tá lý do. Cục HTX – PTNT đưa ra con số đáng lo ngại là có tới 67% số lao động mất đất vẫn phải “bám” nghề nông để sống và thêm 20% nữa thì chịu cảnh nghề ngỗng lông bông hoặc không ổn định. Có nghĩa là, chỉ có 13% là tìm được công việc mới. Một điều đáng lo ngại hơn, tới 53% số hộ có thu nhập giảm so với trước khi bị thu hồi đất và số hộ khá khẩm hơn lên chỉ là 13%.

Quan chức địa phương, cán bộ cơ sở dường như đang bị “hút hồn” bởi những dự án công nghiệp. Trái ngược với sự lo lắng, buồn bã của nông dân, cán bộ cơ sở tỏ ra rất vui, lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng tiếp cận dân để vận động họ đi họp nghe giới thiệu về dự án, giải phóng mặt bằng, lấy tiền đền bù. Tỉnh nào cũng trải thảm đỏ mời gọi đầu tư, “doanh nghiệp vào chỉ đất ở đâu là chính quyền tỉnh cắm đất ở đấy.”

PGS.TS. Nguyễn Trí Hoàn thông báo, Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn đang xây dựng đề án về “Chiến lược đảm bảo an ninh lương thực”, dự kiến sẽ hoàn thành vào 8/2008. Trong đó, yêu cầu đặt ra trước tiên là đảm bảo diện tích lúa ít nhất là 3,8 – 4 triệu ha. Con số này là cố định, “bất khả xâm phạm”.

Tuy nhiên, việc giữ đất lúa không dễ khi Việt Nam vẫn đang thiếu một bản quy hoạch tổng thể vùng công nghiệp và nông nghiệp. Chính vì không có cái khung pháp lý cho chính quyền địa phương nên nhiều nơi vẫn “tự tung tự tác, xà xẻo đất lúa để làm dự án công nghiệp, đô thị, du lịch…”

Viện trưởng Viện Cây lương thực và cây thực phẩm, TS. Nguyễn Văn Tuất, lo ngại, trái đất ấm lên, mực nước biển dâng cao, việc sử dụng lương thực làm nguyên liệu sinh học, hiện tượng sa mạc hoá… đang là những nguy cơ hiện hữu đe dọa an ninh lương thực. Việt Nam cần làm sao đảm bảo 35 – 36 triệu tấn gạo/năm, xuất khẩu 5 triệu tấn và đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ. Theo ông, diện tích đất lúa có thể giảm hơn 10.000 ha/năm nhưng phải đảm bảo tổng sản lượng bằng cách tăng năng suất, nâng cao giá trị lúa trên một đơn vị diện tích.

TS Phạm Sĩ Liêm -Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam nhận định: “Đừng nghĩ rằng, chúng ta đang đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo là tưởng chúng ta nhiều đất. Các nhà khoa học đã tính toán rằng, dân số nước ta phải tăng đến 120 triệu dân thì mới ổn định. Như vậy, chúng ta phải tính đến chuyện để ruộng mà nuôi 40 triệu người tăng thêm nữa. Phải bảo vệ bảo vệ tương lai của con cháu chúng ta, thì đó mới được gọi là phát triển bền vững.

Đó là những con số biết nói. Quả thực, Việt Nam đang “Công nghiệp hóa kiểu xẻo đất màu nông nghiệp, Hiện đại hóa kiểu nhập công nghệ lỗi thời về gia công”, Nước ta đã thành một “bãi rác” để các nước phát triển thải rác, thải công nghệ lỗi thời vào. Các Khu công nghiệp phần lớn là công nghệ đã lỗi thời, không có các biện pháp sử lý môi trường phù hợp tiêu chuẩn, lại nằm dọc quốc lộ, gần khu dân cư, khiến cho môi trường ở các khu dân cư và vùng đất nông nghiệp quanh đó bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Đất ruộng đã chuyển sang làm công nghiệp thì không thể dùng lại để trồng lúa được nữa, đồng nghĩa với việc nhiều nông dân mất đất sẽ mất luôn nghề kiếm sống.

Đó thực sự là thảm họa về Môi trường, Dân sinh và An ninh lương thực Quốc gia. Cho dù Chính phủ đã chỉ đạo các địa phương không được lấy đất “bờ xôi ruộng mật” làm công nghiệp. Nhưng, các địa phương vẫn “xẻo” đất màu một cách vô tội vạ. Cho thấy việc làm này đã được hậu thuẫn từ các quan chức cao cấp ở trung ương, cho nên trên cứ cấm, dưới cứ xẻo.

Có vài trường hợp đã bị kỷ luật, nhưng đó chỉ là sự thay đổi người sẽ tiếp tục được “xẻo” đất mà thôi, không có dấu hiệu của việc ngừng lấy đất màu để làm công nghiệp.

Số lao động làm nghề nông và diện tích đất nông nghiệp có thể giảm nhưng phải đảm bảo năng suất và sản lượng nông nghiệp nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa nông thôn. Đó là nguyên lý cơ bản mà ai cũng hiểu, tuy nhiên người ta đã cố tình lẩn tránh và không làm theo chỉ vì mối lợi trước mắt.

Cuối cùng, do các địa phương chạy đua lấy đất ruộng làm công nghiệp nên diện tích đất nông nghiệp giảm, sản lượng lương thực cũng giảm theo, số lượng lớn nông dân mất đất bị thất nghiệp trở thành gánh nặng đè lên xã hội, bao nhiêu lợi ích từ “đất” đã chui vào túi các quan chức địa phương và các nhà đầu tư. Bức tranh Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam đã mang một màu ảm đạm nhất trong lịch sử.

Không phải do chủ trương, đường lối sai, vậy thì do đâu? Trong buổi làm việc với Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn mới đây (Ngày 8-3-2008), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhắc nhở: “Đất nước ta “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” nên đất dùng cho nông nghiệp phải có quy hoạch khoa học. Tại sao đến bây giờ trung ương mới nhận ra thực tế đó? Một việc rõ ràng sờ sờ ra đấy, vậy mà đến bây giờ người đứng đầu và có trách nhiệm cao nhất của đảng mới nhắc nhở? Phải chăng chính ông này đã “ăn đủ” rồi, nên bây giờ nhắc nhở mọi người phải “ăn vừa” thôi.

Các quan chức cấp cao ở trung ương đã hậu thuẫn cho địa phương làm bừa, giờ đã đến lúc cảm thấy tình hình cấp bách và tiềm ẩn nhiều yếu tố động loạn, nên mới nhắc nhở và bật đèn xanh cho các cơ quan báo chí lên tiếng, nhằm xoa dịu quần chúng, dọn đường cho những việc làm tiếp theo. Và chiêu bài mị dân quen thuộc của chính quyền vẫn là “ổn định xã hội”.

Thể chế đảng toàn trị tất yếu sẽ dẫn đến bọn tập đoàn lợi ích cơ hội thao túng, lũng đoạn nền kinh tế – chính trị. Bọn chúng đã giải thích chủ nghĩa Mác theo hướng hợp pháp hóa việc làm sai trái của mình, tựa như việc giải thích xã hội Việt Nam ổn định đó là thành tựu lớn của CNXH. Thật là ngu dốt và ấu trĩ về chủ nghĩa Mác, phản bội trắng trợn. Xây dựng CNXH theo Mác là một cuộc cách mạng thực sự, là cuộc đấu tranh không ngừng để xóa bỏ những thứ cũ kĩ lạc hậu, chứ không phải áp đặt sự ổn định lên xã hội trong trì trệ và nghèo đói. Bọn tham quan liệu có hiểu điều đó không?

Bọn chúng không bao giờ hiểu được điều đó, chúng không có liêm sỉ, lương tâm của chúng bị bán rẻ, chúng thoải mái hưởng thụ xa hoa trên sự bần cùng khốn khổ của quần chúng, bọn chúng còn xấu xa hơn cả phát xít, chúng không phải là người Cộng sản mà là bọn lừa đảo chính trị. Nông dân Việt Nam lại một lần nữa bị mất đất vào tay bọn tham quan ô lại, như đã từng mất vào tay địa chủ, phong kiến thực dân trong quá khứ.

Đó là nỗi nhục của cả một dân tộc.

Tin liên quan:

Doanh nghiệp nhà nước, độc quyền

Cải cách ruộng đất lần thứ 4 ở Việt Nam

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: