Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Câu chuyện kinh tế: Vì sao giá nhiên liệu lên quá cao?

Posted by BEAR trên Tháng Sáu 12, 2008

 

  Câu chuyện kinh tế: Vì sao giá nhiên liệu lên quá cao? 

Tuấn Minh (VNN)

(LÊN MẠNG Thứ ba 10, Tháng Sáu 2008)

 Có lẽ người dân Mỹ trong hơn hai thập niên vừa qua có được cái may mắn hiếm có là không thấy ảnh hưởng tí nào về cái hiện tượng tất nhiên của sinh hoạt thường nhật trên thế giới này: đó là nạn vật giá lên cao thường xuyên, còn gọi là tình trạng lạm phát (inflation) trong kinh tế học. Thật vậy, trong khi tỉ lệ lạm phát hàng năm tại Hoa Kỳ chỉ ở mức trên dưới 2% một năm trong nhiều năm dài kể từ sau thời kỳ của đầu thập niên 1980 thì tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, nó đã gia tăng đến mức phi mã, lên đến vài chục, có lúc lên đến vài trăm phần trăm mỗi năm. Hậu quả hiển nhiên của việc này là mãi lực của đồng tiền bị sụt giảm mạnh mẽ và nhanh chóng, vì lợi tức của người dân đã không chạy theo kịp đà lạm phát. Trong khi đó thì tại Mỹ, đồng lương của đa số người dân vẫn được gia tăng thường xuyên với tỉ lệ ngang ngửa, hoặc nhiều hơn chút ít, với tỉ lệ lạm phát, nên nhiều người vẫn cảm thấy thoải mái, dễ chịu trong sinh hoạt mua sắm hàng ngày. Không có cái cảnh than văn hay ta thán về tình hình giá cả tăng vùn vụt trong những dịp lễ lạc, Tết nhất v.v. . . khi mọi người ùn ùn đi mua sắm như hiện tượng thường xảy ra tại quê nhà, trước năm 1975 cũng như về sau này.

Thậm chí, tại Hoa Kỳ, vào những dịp lễ lớn như các ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) hoặc Giáng Sinh (Christmas), để dụ cho khách hàng tiêu thụ đi mua sắm nhiều hơn, kỹ nghệ bán lẻ còn ra chiêu độc hơn nữa là thường hạ giá vài món hàng đến mức có thể coi như là sẵn sàng bán lỗ chút đỉnh, thường gọi là loss leaders. Họ in những tờ quảng cáo với những giá tiền rẻ mạt này thật to trên các tờ báo để đập vào mắt người tiêu thụ, khiến nhiều người đổ xô đến các cửa tiệm, rồi dễ dàng mua sắm thêm nhiều món hàng khác, để bù vào vài món hàng bán hời để câu khách. Chiến lược định giá và quảng cáo tinh vi này đem lại “chiến thắng” cho đôi bên (win-win strategy) vì chủ nhân bán hàng được lợi vì có nhiều người đến tiệm mua hàng, mà khách tiêu dùng cũng vui sướng dốc hầu bao hay sẵn sàng cà thẻ vay nợ để mua những món hàng, nhiều khi chẳng cần thiết, chỉ vì ham rẻ. Chẳng bù với hiện tượng ngược đời tại quê nhà Việt Nam chúng ta, cứ mỗi dịp lễ lộc là các con buôn cứ thi nhau lên giá, lợi dụng thời cơ để móc túi người dân tiêu thụ một cách tiểu nhân và rẻ tiền, thiếu sâu sắc.

Tuy nhiên, trong những tháng ngày gần đây, dường như cái không khí thoải mái đó không còn có khả năng kéo dài được lâu nữa. Có nhiều dấu hiệu cho thấy là nạn lạm phát đã ảnh hưởng một cách tiêu cực lên mức sinh hoạt thường ngày của dân chúng, tức là khiến họ phải co cụm lại trong những quyết định chi tiêu hay mua sắm. Giá cả thực phẩm cũng như nhiều món hàng liên hệ đã gia tăng hàng loạt, và đứng nguyên ở mức cao chứ không có trồi sụt như lúc trước, dẫn đến việc tăng giá của nhiều dịch vụ và sản phẩm khác. Thế nhưng, nếu như việc tăng giá nhiều món hàng tiêu thụ ít khiến người dân chú ý đến thì có một sản phẩm mà sự tăng giá đã khiến cho mọi người phải để ý vì hậu quả tức thời và khó chịu của nó. Đó là giá xăng, đã tăng vọt đều đặn, có lúc tăng khá cao, đến hơn cả chục xu thay vì chỉ có một vài xu lẻ; và tăng nhanh chỉ sau có vài ngày, thay vì sau vài tuần lễ như thông thường; cũng như đã tiếp tục tăng lên cao mãi từ vài tháng qua, thay vì tăng lên tụt xuống như thông thường trong quá khứ.

Nhiều người thắc mắc không hiểu vì sao giá xăng lại cứ tăng vùn vụt trong thời gian gần đây, nhất là trong bối cảnh không có những biến cố trọng đại thường gây ra tác hại này như các vụ thiên tai bão lụt khiến cho các nhà máy sản xuất hay lọc dầu phải tạm ngừng, hoặc tình hình chiến sự bùng nổ lớn tại vùng Vịnh Ba Tư, nơi sản xuất phần lớn số lượng dầu thô cung ứng cho cả thế giới. Mọi người đều nói đến hiện tượng nhu cầu tiêu thụ năng lượng gia tăng đều đặn trên thế giới, nhất là với tình trạng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và đều đặn của hai nước con rồng kinh tế đông dân ở Á Châu là Trung Cộng và Ấn Độ. Và khi mức cầu tăng mạnh mà mức cung của các nước sản xuất không theo kịp, thì giá thành phải tăng lên là chuyện tất nhiên. Tuy vậy, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng và Ấn Độ đã kéo dài trong những thập niên gần đây, nhưng tại sao giá xăng dầu đã không tăng mạnh trong thời gian đó, thậm chí có lúc còn tụt giá xuống thấp, mà chỉ mới vọt lên cao đều đặn trong vòng vài tháng qua?

Mọi sự dĩ nhiên đều bắt đầu từ dầu hoả. Có thể nói yếu tố quan trọng nhất khiến cho giá xăng, cũng như giá của nhiều dịch vụ và sản phẩm liên hệ khác, đã tăng cao trong thời gian qua là sự tăng giá quá mức của dầu thô, tạo nên nhiều kỷ lục hi hữu. Từ khoảng 45 Mỹ-kim một thùng phi vào năm 2004, nó đã tăng lên mức kỷ lục hơn 135 Mỹ-kim vào tuần qua. Theo các nghiên cứu của chính quyền liên bang thì giá của dầu thô đã chiếm đến 70% (mức cao kỷ lục, vượt qua mức trung bình khoảng 55%) giá thành của xăng cho khách tiêu thụ.

Thế nhưng, trước hết ta hãy duyệt lại tiến trình sản xuất từ dầu thô dưới lòng đất đến lúc trở thành xăng để đổ vào thùng xe cho ta chạy:

Dầu thô (crude oil), theo tên gọi, là thứ sản phẩm được bơm lên từ dưới lòng đất ở các sa mạc của nhiều nước Ả Rập hay tại lục địa hoặc ngoài khơi rải rác khắp nơi. Nó có thể được mua bán ngay tức khắc trên một thị trường (spot market) trao đổi giữa các hãng dầu khai thác và các tay phân phối (distributors) để chuyên chở đi khắp nơi. Hoặc nó có thể được chuyên chở thẳng đến các nhà máy lọc dầu để được chế biến ra xăng, nhớt, và các sản phẩm linh tinh khác dùng làm vật liệu cho hàng trăm món hàng khác nhau cho sinh hoạt hàng ngày. Sau khi dầu được tinh lọc và chế biến thành xăng, nó lại có thể được mua bán tức khắc trên spot market giữa các hãng dầu, hoặc bán thẳng cho các tiệm buôn sỉ (wholesalers). Các tiệm này có thể dùng nó để phân phối đến các tiệm bán lẻ của mình hay bán lại cho các hệ thống tiêu thụ lẻ khác. Trên mỗi chặng đường trao đổi đó, người mua kẻ bán mặc tình thương thảo để đi đến sự nhất trí, thuận mua vừa bán, để rồi đến giai đoạn cuối cùng là chủ nhân các chiếc xe đứng chờ ở cây xăng là khách hàng tiêu thụ phải trả tiền lần chót.

Vì dầu thô là nguồn gốc chính của đường giây sản xuất này nên một khi giá dầu thô tăng cao, lập tức giá xăng cũng như nhiều món hàng trên thị trường cũng đều chịu chung số phận. Thủ phạm đáng trách nhất, cũng như dễ đổ tội nhất, chắc chắn phải là các hãng dầu chủ nhân khai thác số lượng dầu thô đó, đã làm giầu một cách mau chóng với lợi nhuận hàng chục tỷ Mỹ-kim mỗi năm đều đặn tích luỹ trong thời gian qua trong khi các ngành nghề khác có thể lên xuống và lời lỗ bất thường. Chẳng thế mà từ đầu năm nay, các lãnh tụ dân cử ở Thượng Viện đã lôi các vị chức sắc cao cấp của các hãng dầu to lớn như ExxonMobil, ChevronTexaco, ConocoPhillips, Royal Dutch Shell, British Petroleum ra điều trần, nhưng thực chất là để ngồi nghe sỉ vả cho hả giận, một hình thức mị dân để chứng tỏ là các vị dân biểu, nghị sĩ cũng biết quan tâm đến nỗi lo lắng khó khăn của người dân trước cảnh giá xăng tăng cao vùn vụt. Và các ông tổng giám đốc của các công ty này cũng đã nhẫn nhịn ngồi chịu trận, cũng như đã phân trần một cách khách quan rằng việc giá cả lên xuống chỉ phản ảnh quy luật cung cầu trên thị trường, chứ không hề có một cuộc âm mưu bí mật nào giữa các đại tổ hợp trong kỹ nghệ này để khuynh loát thị trường và dẫn đến tình trạng leo thang giá cả như hiện nay.

Nhưng thực chất của vấn đề vẫn không thay đổi, vì thật sự ra các hãng dầu này không ấn định giá thành của mỗi gallon xăng treo ở mỗi tiệm bán xăng. Giá bán lẻ này thật ra là kết quả của nhiều vụ thương lượng trên thị trường trao đổi công khai, chẳng hạn như Thị trường Trao đổi Hàng Hoá ở New York (New York Mercantile Exchange, viết tắt là Nymex), hoặc hàng chục thị trường trao đổi khác trên thế giới.

Khi một tay buôn sỉ muốn mua vào ngày hôm nay số lượng dầu thô cho tháng Bảy sắp tới chẳng hạn, tức là anh ta muốn mua số lượng dầu sẽ được phân phối vào cuối tháng Bảy nhưng với giá thoả thuận của ngày hôm nay. Dĩ nhiên, anh ta, giống như đa số các con buôn khác, đều muốn kiếm lời, tức là phải tính sao để khi trả tiền ngày hôm nay và thu tiền lại vào cuối tháng Bảy, anh ta phải thu được lợi nhuận khi giá lúc đó cao hơn bây giờ. Trong trường hợp ngược lại, nếu như anh ta tiên đoán rằng giá dầu sẽ tụt xuống vào cuối tháng Bảy, chẳng dại gì anh sẽ hăng hái bỏ tiền ra ngay bây giờ để mua sẵn, hoặc nếu có mua thì sẽ mua với giá thấp, nếu như có người chịu bán. Trong tinh thần đó, ta có thể gọi những người mua bán trên thị trường trao đổi hàng hoá cho tương lai (futures market) là những kẻ phải đánh cuộc (speculators) để xem là giá sẽ lên hay xuống trong tương lai. Từ nhiều năm qua, và nhất là trong vòng vài tháng gần đây, mọi người đều cùng nhau tiên đoán rằng giá cả sẽ tiếp tục lên đều. Và do đó thị trường trao đổi cũng tăng giá lên theo.

Hiện tượng nhiều người cùng nhau tiên đoán rằng giá cả của một loại hàng nào đó sẽ tiếp tục lên cao nữa không phải là một điều gì xa lạ hay mới mẻ trong đời sống thường nhật tại Hoa Kỳ. Đó là tình trạng đã xảy ra trên thị trường địa ốc cách đây hơn hai năm (lúc mọi người thi nhau đi mượn mortgage để mua nhà bất kể đến phân lời, dẫn đến tình trạng subprime mortgage với hậu quả điêu đứng ngày nay). Cũng như tình trạng tương tự đã xảy ra trên thị trường cổ phần các công ty hi-tech của Internet vào cuối thập niên 90 khi mọi người đổ xô bỏ hết tất cả các công việc thường nhật chỉ để chú tâm vào chuyện mua bán hàng ngày (day trading) trên Internet. Dĩ nhiên, mọi người cũng đã biết đến hậu quả tai hại của nó một khi mọi người đều nhất tề, đến gần như mù quáng, tin tưởng rằng giá còn lên cao nữa, dẫn đến cái tình trạng vỡ bong bóng (bubble) của những cơn sốt diễn ra sau đó, tương tự như vụ cơn sốt chim cút năm nào vào đầu thập niên 70 ở miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hoà khi xưa.

Lần này, cũng có nhiều chuyên gia trong ngành cũng đã lên tiếng báo nguy rằng giá dầu thô có thể sẽ tăng lên nữa, đến mức gần 200 Mỹ-kim cho một thùng, như lời tiên đoán của vài phân tích gia của Goldman Sachs. Vì thế cho nên cũng có nhiều tiếng nói, nhất là từ phía các kinh tế gia, cho rằng việc giá dầu leo thang mãi, vượt ra ngoài những quy luật cơ bản của định luật cung cầu, chắc chắn sẽ dẫn đến một vụ vỡ bong bóng tất nhiên. Chẳng thế mà tạp chí National Review, trong ấn bản của tháng 10-2004, đã chạy hình bìa với bài viết tiên đoán rằng giá dầu sẽ tụt giảm trong tương lai gần. Điều này cũng dễ hiểu vì giá dầu thô lúc bấy giờ vào khoảng từ 45 đến 50 Mỹ-kim, sau khi đã tăng vọt lên từ mức gần 20 Mỹ-kim vào gần cuối thập niên 90. Dĩ nhiên, cũng không ai ngờ là từ năm 2004 đến nay, giá dầu cũng đã tăng vọt lên mức 135 Mỹ-kim như trong tuần qua.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH KHIẾN DẦU THÔ TĂNG GIÁ

Tại sao nhiều nhà đầu tư cứ nghĩ rằng giá dầu thô sẽ tiếp tục tăng nữa. Có khá nhiều nguyên nhân khách quan, chứ không phải chỉ có chủ quan, dẫn đến tình trạng này, chẳng hạn như:

Sự Mất Giá Của Đồng Mỹ-Kim: Quy luật cung cầu là yếu tố chính để định giá trên thị trường. Tuy nhiên, giá dầu thô được trao đổi trên thị trường thế giới bằng Mỹ-kim. Và khi đồng đô-la tụt giá so với hầu hết các đồng tiền khác, và nhất là khi mọi người đều tiên đoán rằng nó còn mất giá nữa, thì những người bán dầu càng sợ bị thiệt thòi hơn nên phải tăng giá lên cao để bù vào sự mất mát. David King, một cựu giám đốc của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ tại New York, mới đây đã viết một bài phân tích ngắn trên tờ Wall Street Journal để chứng minh tác hại của việc mất giá Mỹ-kim liên quan đến việc dầu tăng giá. Vào cuối năm 2002, đồng dollar tương đương với đồng euro của Âu Châu. Giá dầu thô lúc ấy là 25 Mỹ-kim hay 25 euro cho một thùng. Đến ngày nay nó đã tăng lên thành 75 euro, tức là tăng gấp 3 lần tại Âu Châu. Nhưng tại Hoa Kỳ, nó đã tăng lên hơn 125 Mỹ-kim, tức là tăng gấp 5 lần. (Xem biểu đồ Oil price in dollars and euros). Lý do đơn giản là giờ đây 1 euro có giá trị tương đương với 1,60 Mỹ-kim. Theo ông King, nếu như đồng Mỹ-kim giữ giá bằng với đồng euro thì giá dầu thô hiện nay sẽ ở vào mức 81 Mỹ-kim thay vì đến hơn 130 Mỹ-kim. Nhiều người nói đến sự kiện đồng Mỹ-kim bị mất giá có lợi ích là giúp cho ngành xuất cảng ở Mỹ được mạnh lên (vì giá rẻ khi bán ra ngoại quốc) cũng như giúp cho chính phủ Mỹ bớt được gánh nặng thiếu nợ công quỹ (món nợ 100 tỷ tự nhiên chỉ còn giá trị khoảng 90 tỷ nếu như đồng Mỹ-kim bị tụt giá 10% trong một năm). Tuy nhiên nó cũng dẫn đến nhiều bất lợi khác, điển hình là tình trạng giá dầu thô tăng cao như hiện nay. Hơn nữa, nó lại càng khiến cho nhiều giới con buôn tiếp tục đổ xô mua thêm dầu hay các món hàng để đầu tư kiếm lời khác thay vì để giành tiền bằng Mỹ-kim, ít có lợi nhuận hơn. Và khi nhiều người đổ xô mua dầu trên thị trường, tạo nên tình trạng cầu nhiều hơn cung, việc tăng giá là hậu quả đương nhiên.

Quyết Định Giảm Phân Lời Của Ngân Hàng Trung Ương: Để tránh hậu quả tai hại của cơn khủng hoảng về tín dụng có thể dẫn đến một cuộc suy thoái, từ tháng Tám năm ngoái, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đã liên tục giảm phân lời xuống, cũng như đã tung thêm hàng trăm tỷ Mỹ-kim vào thị trường tiền tệ. Từ đó đến nay, giá vàng và dầu thô đã tiếp tục tăng. Những người sở hữu hay quản trị các quỹ đầu tư khổng lồ như hedge funds hoặc pension funds đã quyết định dùng tiền dự trữ để mua dầu thô (hầu kiếm lời khi bán lại sau đó trên thị trường trao đổi). Nên nhớ là khi thị trường trao đổi và đầu tư được mở rộng, không cần phải là người tiêu thụ của sản phẩm nào mới có nhu cầu để mua món hàng đó. Các tổ hợp đầu tư có thể dùng tiền tích luỹ của mình để mua các món hàng này, tương tự như mua quý kim hay các ngoại tệ khác, để thủ lợi một khi họ nghĩ rằng có thể mua với giá thấp ngày hôm nay và bán lại với giá cao vào ngày mai. Trong số các công ty đầu tư theo kiểu đầu cơ tích trữ này (speculators), có khá nhiều những quỹ tiết kiệm nổi tiếng của các trường đại học như University of Texas Investment Management Co. hoặc của các đại nghiệp đoàn giáo chức như Teacher Retirement System of Texas và California Public Employees’ Retirement System, đầu tư cả tỷ Mỹ-kim vào thị trường.

Nhu Cầu Tiêu Thụ Gia Tăng: Trong quá khứ, những cơn tăng giá cao của nhiên liệu thường do những biến động hay thiên tai làm sụt giảm lượng cung ứng, như các vụ bão lụt Katrina và Rita hồi năm 2005, hoặc chiến tranh giữa Iran và Iraq vào năm 1980. Nhưng lần này, động lực chính tạo nên áp lực tăng giá nhiên liệu là nhu cầu tiêu thụ tiếp tục cao ở những nước xài nhiều dầu nhất như Hoa Kỳ và Trung Cộng. Mức tiêu thụ của cả thế giới đã không còn tăng vọt thật nhanh như đã xảy ra vào năm 2004, nhưng vẫn tiếp tục gia tăng đều đặn, và điều quan trọng hơn nữa là tuy giá nhiên liệu có cao nhưng đã không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. (Xem biểu đồ World Oil Consumption).

Tác Động Của Các Quốc Gia Xuất Cảng: Vào cuối năm 2006, khi giá dầu thô có chiều hướng đi xuống, OPEC, tức là khối các nước xuất cảng dầu, bắt đầu giảm bớt mức cung. Từ đó giá dầu ổn định và đi lên trở lại khi nhu cầu tiêu thụ vẫn không giảm. Gần đây, các nước tiêu thụ và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (International Energy Agency) đã thúc đẩy OPEC gia tăng sản lượng. Trong những kỳ họp kể từ sau tháng 12 năm ngoái, OPEC đã quyết định không thay đổi sản lượng, cho rằng số lượng cung ứng trên thị trường đủ đáp ứng nhu cầu. Chẳng thế mà trong chuyến công du Trung Đông vào giữa tháng 5, TT Bush đã thất bại khi yêu cầu Saudi Arabia tăng sản lượng để mong đẩy giá dầu xuống. Quyết định của vương quốc này chỉ tăng con số khiêm nhường là 300,000 thùng mỗi ngày (với khả năng sản xuất mỗi ngày có thể lên đến hơn 11 triệu thùng) cũng không phải vì những lời van xin của ông Bush. Cuộc họp sắp tới của OPEC sẽ diễn ra vào đầu tháng 9, và nhiều nước trong khối này đều tin rằng họ không thể làm điều gì hơn để điều chỉnh thị trường giá cả hiện nay đã vượt ra ngoài mọi suy tính hợp lý.

Cùng lúc đó, tình hình chiến sự tại Trung Đông vẫn còn nghiêm trọng, có thể nổ bùng hay bạo loạn hơn bất cứ lúc nào, khiến cho giới tiêu thụ luôn lo âu về viễn tượng sản lượng dầu cung ứng có thể bị tụt giảm. Tại Ba Tư (Iran), hiện đang tranh cãi với Hoa Kỳ và Tây Phương về chương trình phát triển năng lượng hạch tâm của họ, người ta vẫn lo sợ chuyện Hoa Kỳ có thể tấn công bất tử, nhất là ngày nào còn có hai nhân vật Bush và Cheney, lầm lì và hiếu chiến, còn ngự trị ở Toà Bạch Ốc, cho dù là chỉ còn non 8 tháng. Tại Iraq, mức sản xuất đã không trở lại như mức ban đầu như dự tính đầy lạc quan và hoang tưởng của những tay chủ chiến phe tân-bảo-thủ trong chính quyền Bush khi quyết định ra tay vào năm 2003! Còn tại Nigeria, một quốc gia Phi Châu xuất cảng dầu thô đứng hàng thứ 8 trên thế giới, thì tình hình bất an do các nhóm phiến quân tấn công hay phá hoại hệ thống vận chuyển dầu hoả trong nước đã khiến cho sản lượng tại đây tụt giảm trên nửa triệu thùng mỗi ngày kể từ sau tháng 02-2006.

Một trong những yếu tố sau cùng có thể ảnh hưởng lên mức cung của nhiên liệu là những trở ngại ở các nhà máy lọc dầu trên nước Mỹ. Tuy đã hưởng lợi nhuận khá nhiều từ vài năm qua, các hãng năng lượng đã không thực sự đầu tư thêm vào việc tu bổ hay tân trang các máy móc tối tân và hiệu quả hơn, một phần vì lo ngại chính sách mới của nhà nước có thể khuyến khích việc nghiên cứu các nguồn năng lượng mới ngoài dầu hoả. Do đó, với giàn máy móc cũ và kém năng suất, đòi hỏi nhiều thời gian ngưng hoạt động cho công tác bảo trì, đường giây cung ứng năng lượng tại nội địa Hoa Kỳ tiếp tục gặp áp lực bị giới hạn.

GIÁ THÀNH CỦA XĂNG

Giá của dầu thô và xăng thường đi theo cùng một chiều hướng, nhưng không phải vì sự liên hệ trực tiếp lẫn nhau. Chẳng hạn như trong năm qua, giá dầu thô đã tăng lên gấp đôi (tức là 100%), trong khi giá của xăng chỉ tăng ở mức 25%. Có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng dân Mỹ đã bớt tiêu thụ xăng trong thời gian gần đây khi giá thành lên khá cao. Và điều hiển nhiên là mức tiêu thụ sẽ giảm xuống nhiều hơn nữa nếu như xăng còn lên cao, ở mức từ 4,5 đến 5 Mỹ-kim / một gallon. Một khi mức tiêu thụ xăng giảm xuống, giá bán cũng sẽ phải giảm xuống theo vì các kho dự trữ xăng của các tiệm buôn lẻ cũng như sỉ đều bị tồn đọng, tạo nên áp lực giảm giá. Tuy nhiên điều này cũng đòi hỏi một thời gian điều chỉnh chứ không thể xảy ra nhanh chóng được.

Giá thành của xăng gồm phần lớn là giá của nhiên liệu chính là dầu thô, sau đó là phí tổn để lọc dầu, và cộng thêm phần thuế mà chính phủ (liên bang lẫn tiểu bang) thu vào. Chi phí chuyên chở và tiếp thị chỉ đóng góp một phần rất nhỏ.

Trong giá thành của xăng, bình thường giá dầu thô chiếm khoảng 55%. Kế tiếp là chi phí để trả cho việc sàng lọc (refining) dầu thô để chế biến ra xăng và các loại nhiên liệu khác, tốn khoảng 22%. Phí tổn này có thể tăng vì ảnh hưởng xấu của thiên tai cũng như nhu cầu tạm đóng cửa các xưởng lọc dầu để bảo trì định kỳ. Ngoài ra, nó cũng tăng cao vì những quy định gắt gao của chính quyền tại nhiều tiểu bang đòi hỏi phải pha thêm vào xăng nhiều hoá chất khác như ethanol (dầu bắp) để giúp bớt ô nhiễm môi trường. Chí phí còn lại là tiền thuế khoảng 19% mà các chính quyền liên bang và tiểu bang thu vào cho công quỹ; và sau cùng là chi phí tiếp thị và chuyên chở chiếm 4%.

Dĩ nhiên, chi phí để sản xuất một thùng dầu thô đã không có gia tăng gì mấy trong thời gian qua, nếu không muốn nói là gần như ở mức cố định. Chi phí lọc dầu có phần còn giảm hơn chút đỉnh so với thời điểm 4 năm về trước, dựa theo dữ liệu của Cơ quan Thông tin Năng Lượng (Energy Information Administration). Còn tiền thuế má đánh trên xăng cũng vẫn ở mức cũ so với 4 năm trước, trung bình khoảng 40 xu trên 1 gallon, dù rằng có thay đổi tuỳ theo tiểu bang, từ cao nhất là ở California (64 xu) đến thấp nhất ở Alaska (26 xu). Sau cùng, phí tổn chuyên chở và tiếp thị năm nay cũng chỉ tăng hơn có 5 xu so với thời điểm 4 năm trước.

Vì thế cho nên, khi giá dầu thô tăng gần gấp đôi chỉ trong vòng một năm mà không có những biến động to lớn nào từ bên ngoài thì chắc chắn là các hãng dầu hoả cũng được hưởng lợi nhiều theo, một thứ lợi nhuận trời cho (windfall profit) mà nhiều chính trị gia đòi hỏi chính phủ phải nên tính thuế để tăng thu nhập cho nhà nước. Hơn thế nữa, đa số các hãng năng lượng lớn tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới, ngoài việc khoan các mỏ để tìm dầu, cũng đặc trách luôn công việc sàng lọc để phân chia ra xăng, nhớt và các loại sản phẩm khác. Điều này khiến cho mọi người dễ dàng kết luận rằng các hãng này không nhiều hay ít cũng có thể đã góp phần trong việc tăng giá cắt cổ để có thể hưởng lợi. Dĩ nhiên, các hãng này đều thi nhau phủ nhận những lời tố cáo trên, cho rằng việc giá cả lên xuống chỉ phản ảnh quy luật cung cầu trên thị trường, chứ không hề có một cuộc âm mưu bí mật nào giữa các đại tổ hợp trong kỹ nghệ này để khuynh loát thị trường và dẫn đến tình trạng leo thang giá cả như hiện nay.

Giá dầu thô cũng như giá xăng lại không do các hãng dầu quyết định, mà là do thị trường trên toàn cầu ấn định theo quy luật cung cầu. Nói một cách tóm tắt, hễ cầu nhiều hơn cung thì giá tăng, và ngược lại, nếu mức cung nhiều hơn mức cầu thì giá thấp vì tạo ra tình trạng dư thừa. Trong hai thập niên 1980 và 90, có lúc giá dầu thô tụt xuống xấp xỉ ở giá 10 Mỹ-kim một thùng, khiến cho chính quyền các quốc gia của OPEC cũng phải chới với, và ngành kỹ nghệ liên quan đến dầu hoả cũng bị ảnh hưởng nặng, nhiều cơ sở thương mại bị phá sản, hàng chục ngàn kỹ sư và nhân viên trong nhiều hãng bị thất nghiệp và mất nhà cửa như tình trạng đã xảy ra tại thành phố Houston vào giữa thập niên 1980.

Thị trường tiêu thụ trên toàn cầu ấn định giá cả mà giới tiêu thụ chịu chấp nhận bỏ ra để mua lấy món hàng vào một thời điểm nào đó. Việc này có liên quan nhiều đến tình hình phát triển kinh tế khá dồi dào trên nhiều nước trong thời gian gần đây chứ không chỉ riêng có ở Hoa Kỳ. Điển hình là hai quốc gia đông dân nhất, Trung Cộng và Ấn Độ, lại là những quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và khá trường kỳ trong suốt thập niên qua, dẫn đến tình trạng cần tiêu thụ nhiều hơn về năng lượng để đẩy mạnh các nền kinh tế đó. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, sau cơn chấn động vì giá nhiên liệu tăng vọt gấp 4 lần sau cuộc khủng hoảng dầu thô vào năm 1973, dẫn đến việc thắt lưng buộc bụng và tiêu xài kỹ lưỡng hơn trong sinh hoạt hàng ngày (trong việc quay sang mua các xe Nhật ít tốn xăng hơn), chính quyền và người dân Mỹ bắt đầu trở lại thái độ cẩu thả, thiếu trách nhiệm, với tinh thần vung tay quá trán qua việc tự do tiêu thụ các loại xe SUV tốn xăng cũng như chính phủ đã quá dễ dãi không đòi hỏi kỹ nghệ sản xuất xe hơi phải tiếp tục cải tiến để chế biến các loại xe càng ngày càng hiệu năng và ít tốn xăng hơn. Tình trạng nhu cầu tiêu thụ càng ngày càng gia tăng ồ ạt trong thời gian qua trong khi mức cung ứng, cho dù có được đẩy mạnh đến đâu đi chăng nữa cũng không thể theo bằng, chưa kể đến những biến động gây trở ngại như chiến tranh nên việc xăng bị tăng giá chỉ là kết quả tự nhiên không tránh khỏi.

Khách quan mà nói, giá xăng tăng cao có thể gây bực tức hay lo ngại (thực sự hay chỉ trên mặt tâm lý) cho nhiều người dân nhưng không có tạo ảnh hưởng xấu lên nền kinh tế Hoa Kỳ. Cho dù giá dầu thô đã gia tăng cao trong vòng 5 năm qua, từ khoảng 30 Mỹ-kim lên đến 135 Mỹ-kim, nhưng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa (GDP) vẫn tiếp tục phát triển, chỉ đến gần đây mới có dấu hiệu báo nguy là có thể lâm vào thời kỳ suy trầm, phần lớn vì ảnh hưởng của cơn khủng hoảng tín dụng và địa ốc. Tờ báo Economist đã có một bài phân tích đưa ra những con số đáng chú ý để so sánh. Trong năm 1980, Hoa Kỳ tiêu thụ khoảng 17 triệu thùng dầu thô mỗi ngày và mức GDP lúc đó lên đến khoảng 5,200 tỷ Mỹ-kim (nếu tính điều chỉnh theo thời giá mới). Vào năm 2005, mức tiêu thụ dầu thô mỗi ngày đã tăng lên đến 20,7 triệu thùng, giờ đây lên khoảng 22 triệu, nhưng giá trị của GDP đã tăng lên đến gần gấp đôi (11,100 tỷ Mỹ-kim). Xem thế thì việc dầu thô tăng giá vẫn không ảnh hưởng gì lên đến sự tăng trưởng kinh tế tại Hoa Kỳ. Ngay cả đối với người dân tiêu thụ, ảnh hưởng của giá xăng tăng cao cũng không đến nỗi tệ hai như nhiều người lầm tưởng. Theo thống kê của Nha Phân Tích Kinh Tế (Bureau of Economic Analysis, BEA) thì trong năm 1970, người dân Mỹ chi ra khoảng 3,4% ngân sách của họ vào nhu cầu xăng nhớt. Đến năm 1980 thì mức này tăng lên đến 5%. Thế nhưng qua đến năm 2005 thì mức này lại tụt xuống còn 3,3% mặc dù giá dầu thô tiếp tục tăng dài dài trong vài năm trước đó. Người dân có thể bắt đầu kêu rêu về chuyện giá xăng lên cao một phần có thể là vì họ đang luyến tiếc đến những ngày vàng son cũ, như là vào năm 2002, khi mà chi phí cho xăng nhớt chỉ chiếm có 2,2% trong ngân sách gia đình.

Tuấn Minh

Houston, Texas

* Kỳ tới: Những phương cách đối phó trước nạn tăng giá nhiên liệu

* Chú thích cho hình minh hoạ: Biểu đồ về mức sản xuất và tiêu thụ dầu thô trên thế giới, cũng như giá dầu thô tính bằng đồng Euro và Mỹ-kim.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: