Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Nhìn ra thế giới – 1

Posted by BEAR on Tháng Chín 1, 2008

Câu chuyện kinh tế Cộng Sản Bắc Hàn và Tư Bản Mỹ:

27 Tháng 8 2008 Bắc Hàn khó kiểm soát nền kinh tê

Cho dù có nhiều năm gặp khủng hoảng kinh tế, giới lãnh đạo nước này vẫn chống chọi được với những khó khăn.

Tuy nhiên, những thay đổi chính trong cuộc sống hàng ngày tại Bắc Hàn đang khiến nhiều phân tích gia băn khoăn không rõ các lãnh đạo tại Bình Nhưỡng sẽ còn giữ quyền lực được bao lâu tại một trong những nền kinh tế được coi là xã hội chủ nghĩa của thế giới.

‘Phép lạ kinh tế’

Đã có lúc, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của Bắc Hàn tỏ ra hoạt động tốt. Trên thực tế, trong những năm đầu sau khi thành lập nhà nước Bắc Hàn sau thế chiến thứ hai, họ đã gặt hái được thành công rực rỡ.

Việc huy động sức dân, cùng với những hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ tài chính của Liên Sô và Trung Quốc, đã mang lại mức tăng trưởng kinh tế hàng năm tới 20%, thậm chí 30%, trong những năm sau cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953.

Có rất nhiều thay đổi, nhưng những thay đổi này khá chắp vá, và Bắc Hàn vẫn không phải là một nền kinh tế đang chuyển đổi
Leonid Perov, sử gia về Bắc Hàn

Vào cuối những năm 70, Nam Hàn còn tụt hậu sau “phép lạ kinh tế” ở phía bắc biên giới.

Tuy nhiên, sau nhiều thập niên, những hạn chế của chiến lược kinh tế của Bình Nhưỡng – vốn coi thường chuyên môn hóa và mậu dịch mà coi trọng việc sản xuất công nghiệp “toàn diện” và phát huy sự “tự lực” về kinh tế – đã trở nên ngày càng rõ ràng.

Viện trợ của Liên Sô giảm đi và cuối cùng cạn kiệt hoàn toàn khi Liên bang Soviet sụp đổ vào năm 1991.

Suy sụp

Vào những năm 1990, lũ lụt và khủng hoảng kinh tế đã gây ra nạn đói làm ít nhất một triệu người bị cho là đã thiệt mạng.

Các biểu tượng của chủ nghĩa tư bản, như chiếc mũ Nike này, giờ xuất hiện ngày càng nhiều ở Bắc Hàn

Kinh tế Bắc Hàn, vốn có thời được coi là điều thần kỳ, nay trở thành sự thất bại.

Với nền kinh tế suy sụp, quyền lực của nhà nước Bắc Hàn nhằm thống lĩnh mọi mặt đời sống của người dân dần dần bị bớt đi. Chẳng hạn “hệ thống phân phối công cộng” – là hệ thống phân phát lương thực của nhà nước nhằm thưởng phạt người dân – đã bị phá vỡ.

Trong khi đó, nạn đói buộc các công nhân công nghiệp phải bỏ nhà máy để ra đồng ruộng rừng núi nhằm kiếm lương thực và nhiên liệu.

Người dân Bắc Hàn, một thời phụ thuộc vào nhà nước để có những nhu yếu phẩm, giờ đây buộc p̣hải tự lực cánh sinh.

Với khoảng trống mà nhà nước bỏ ngỏ, các khía cạnh của kinh tế thị trường bắt đầu ló rạng.

Thay đổi

Leonid Petrov, một sử gia về Bắc Hàn tại đại học quốc gia Australia, nói với đài BBC: “Tôi đã tới Bắc Hàn năm 1999, 2004, 2005 và lần cuối là tháng 10/2007, do đó, tôi có thể thấy được mức độ thay đổi.

“Năm 1999, thậm chí ngay tại Bình Nhưỡng, người dân đã kiệt quệ, ốm yếu, không có đủ dinh dưỡng. Năm 2004, tình hình là rất khác, toàn thành phố trông như một cái chợ lớn.

“Các hoạt động diễn ra ở mọi nơi, trên đường phố, dưới gầm cầu, từ cửa sổ các căn hộ..”.

Giới phân tích đồng ý rằng nhà nước Bắc Hàn đã phản ứng lại những thay đổi này theo nhiều cách.

Kẻ khẩu hiệu
Bắc Hàn thường đưa ra khẩu hiệu để vận động người dân

Người ta đưa ra một số nỗ lực nhằm tư bản hoá, chẳng hạn như việc sửa đổi hiến pháp năm 1998, cam kết sẽ đảm bảo những lợi ích cho một số hoạt động kinh tế tư nhân.

Vào tháng 7/2002, chính phủ cũng đưa ra một số biện pháp nhằm đưa mức giá và lương gần với mức trên thị trường chợ đen, và đưa ra thêm các biện pháp khuyến khích về vật chất và độc lập cho các công nhân và giám đốc trong các ngành công nghiệp.

Trong những lĩnh vực được coi là “đặc khu kinh tế”, Bắc Hàn giờ đây mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài – chủ yếu là từ Nam Hàn – vào tận dụng thị trường lao động rẻ của nước này.

Trong khi đó, tại biên giới phía bắc với Trung Quốc, mậu dịch phát triển mạnh, và người Bắc Hàn thường đút lót để đi qua biên giới nhằm mua hàng hoá, thăm thân hay rời bỏ đất nước này.

Các thương gia Nga và Trung Quốc giờ đây có thể đi lại khá thoải mái tại Bắc Hàn, mặc dù chính những người Bắc Hàn lại chịu những hạn chế nghiêm ngặt về đi lại.

Lãnh đạo can thiệp

Mặc dù các biện pháp năm 2002 được một số quan sát viên coi là bước khởi đầu của việc chấm dứt nền kinh tế kế hoạch tập trung, đa phần đồng ý rằng việc cải cách đã không được đưa ra một cách có hệ thống, và rất nhiều người nghi vấn về cam kết cải cách thực sự của lãnh đạo Bắc Hàn.

Ông Petrov nói: “Có rất nhiều thay đổi, nhưng những thay đổi này khá chắp vá, và Bắc Hàn vẫn không phải là một nền kinh tế đang chuyển đổi”.

Ông cho rằng chỉ có một số bộ phận được phép chấp nhận cơ chế kinh tế thị trường mà thôi, còn đa phần nền kinh tế vẫn thuộc về hệ thống kế hoạch hoá tập trung.

22, Tháng Tám 2008 Câu Chuyện Kinh Tế: Hậu Quả Tai Hại Khi Tiêu Xài Quá Mức

Đối với nhiều kinh tế gia đã từng đưa ra nhiều nhận định không mấy lạc quan về nền kinh tế của Hoa Kỳ trong thời gian vài thập niên qua – đặc biệt nhất là thái độ tiêu xài quá mức của người dân lẫn chính phủ Mỹ – thì những tin tức bi quan dồn dập gần đây chẳng qua cũng chỉ là một hậu quả tất yếu phải đến. Đây là thời điểm để tính sổ nợ nần cho phân minh, hay một thứ ngày đền tội (a day of reckoning) nói theo như trong Kinh thánh, hoặc nói một cách bình dân hơn, thì đó là hậu quả không tránh khỏi của cảnh “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”.

Nếu như những con số thống kê và những lời bình luận của các chuyên gia chưa đủ sức thuyết phục nhiều người về tình trạng bi quan hiện nay của nền kinh tế Hoa Kỳ, thì những lời phát biểu của hai nhân vật cao cấp trong chính quyền ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn đủ nói lên tầm mức nghiêm trọng cho thời gian sắp tới. Tổng thống Bush, một trong những nhân vật ưa lạc quan nhất cho dù trước những tình thế bi đát và ảm đạm, nhưng trong một cuộc gặp gỡ với báo giới tại Bạch Cung vào trung tuần tháng Bảy đã phải thú nhận rằng: “Đây quả là một thời gian khó khăn cho nhiều gia đình người dân Mỹ.” Trong khi đó, ông Ben Bernanke, thống đốc Ngân hàng Trung ương của Hoa Kỳ, trong buổi điều trần trước Quốc Hội, đã không tránh né lời cảnh báo rằng “Nền kinh tế hiện nay còn phải tiếp tục trực diện trước muôn vàn khó khăn”. Có thể coi đây là những lời thú nhận quá yếu ớt chưa phản ảnh đầy đủ thực trạng, một thứ understatement, nói theo lối nhận định của giới truyền thông Hoa Kỳ.

Trong bài xã luận của ban chủ biên tờ Christian Science Monitor ra ngày 01/08/08, với tựa đề “America $53 trillion jumbo loan” (Món nợ khổng lồ 53,000 tỷ Mỹ-kim của nước Mỹ), người ta đọc thấy những hậu quả mà người dân Mỹ ngày nay phải đối phó do bởi tính “vung tay quá trán”: nhà cửa bị tịch biên, nhiều cá nhân và doanh thương phải khai phá sản, nhiều thị trường như địa ốc, tín dụng và chứng khoán tiếp tục đi xuống. Còn riêng quốc gia Hoa Kỳ thì phải đối diện trước một món nợ to lớn: đó là nạn thâm thủng ngân sách, khi tổng số chi dùng của nhà nước cao hơn tổng số thu nhập từ tiền thuế. Tuần qua, chính phủ đã đưa ra con số thẩm định rằng mức thâm thủng ngân sách cho tài khoá 2009 sẽ lên đến khoảng 482 tỷ Mỹ-kim. Những kẻ lạc quan như ông Bush – chuyên đi tìm những dấu hiệu sáng sủa ngay cả trong những tình huống tồi tệ nhất – thì cho rằng mức thâm thủng này cũng không lấy gì làm tệ hại ghê gớm lắm nếu tính theo tỉ lệ của cả nền kinh tế trong nước. Thật vậy, nếu so với tổng sản lượng quốc dân, thường gọi là GDP, thì con số 482 tỷ Mỹ-kim thâm lạm ngân sách này chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 3,3%, tức là còn kém hơn tỉ lệ khoảng 6% ở thời điểm cao ngất vào năm 1983.

Tuy nhiên, lập luận này cũng chỉ là một hình thức tự dối lòng, không muốn nhìn thẳng vào thực tại. Hãy lấy một thí dụ cụ thể để giải thích điều này. Anh A. có lợi tức thu về mỗi năm là 100,000 Mỹ-kim, nhưng chi tiêu bao giờ cũng nhiều hơn, nên đến cuối năm tính sổ bao giờ cũng bị thâm thủng, phải mắc nợ, có khi là 3000, có lúc lên đến 6000. Nhờ có nhà băng chịu cho vay bằng thẻ tín dụng (giống như nhờ có các nước khác cho Hoa Kỳ vay bằng cách mua công khố phiếu của Mỹ), anh A tiếp tục tiêu xài quá lố một cách đều đặn và dồn các món tiền thiếu mỗi ngày mỗi cao đến gần ngập đầu. Giống như lập luận của chính phủ Bush cho rằng tiền thâm thủng nợ nần (budget deficit) – tức là tiền xài cao hơn tiền kiếm được – anh A có thể “tự an ủi” rằng tiền nợ năm nay cũng không đến nỗi tệ lắm, chỉ có 3,300 Mỹ-kim, thay vì có lúc lên đến 6,000 Mỹ-kim một năm. Nhưng như vậy là anh ta cố tình quên rằng những số tiền nợ thâm thủng đó, tuy tính theo tỉ lệ từng năm một để so sánh xem năm nào tiêu pha nhiều hơn, tự nó đã là điều không tốt vì cần phải trả nợ bớt để mong sớm nhẹ gánh nặng. Bằng không thì đến một lúc nào đó, tổng số tiền nợ trong các thẻ tín dụng này sẽ cao hơn mức thu nhập hàng năm khiến anh sẽ rơi vào cảnh nợ ngập đầu.

Trường hợp của chính phủ Mỹ cũng vậy, đã không giải quyết thì chớ, mỗi năm số tiền thâm thủng mỗi dồn thêm (cho dù nó không ảnh hưởng gì lúc đó, như lời bình phẩm của ông PTT Dick Cheney), và đã tạo nên một món nợ (national debt) càng trầm trọng thêm. Nhiều chính trị gia, như các phụ tá của ông Bush, thường thích hô hào rằng số tiền thâm thủng năm nay đã tụt xuống (the deficit is down!), và coi đó như là một thành quả tốt đẹp! Thật ra, điều đó có nghĩa là năm nay chính phủ mắc nợ ít hơn năm ngoái, nhưng vẫn là còn mắc nợ, vì nợ năm nay sẽ cộng với nợ của những năm trước. Một thí dụ tương tự khác (để dễ hiểu) là trường hợp một con bệnh đang lên cơn sốt, hôm đầu đo nhiệt độ là 102 độ, tức là nóng đến 4 độ trên mức bình thường (98 độ F). Qua hôm sau lại tăng hơn 2 độ, và đến hôm thứ ba thì lại tăng thêm 1 độ nữa. Theo lối suy luận “lạc quan” này thì tình hình tưởng chừng như không tồi tệ lắm vì những lần tăng độ về sau (2 độ, rồi 1 độ) không cao bằng như ngày đầu (4 độ). Nhưng thật ra, lúc đó con bệnh đã bị nguy kịch hay sắp tử vong rồi vì nhiệt độ tổng cộng đã lên đến 105 độ !!!

Nếu tính tổng cộng thâm lạm ngân sách từ trước tới nay (khoảng gần 9,000 tỷ Mỹ-kim), và cộng với những thâm lạm không tránh khỏi trong vòng 30 năm sắp tới do chi phí mà chính phủ phải trang trải về tiền hưu bổng (Social Security) và trợ cấp y tế cho người già (Medicare) và người nghèo (Medicaid), thì tổng số nợ có thể lên đến mức kinh khủng là 53,000 tỷ Mỹ-kim, theo tính toán của tờ Christian Science Monitor. (Gọi là thâm lạm không tránh khỏi vì tuy hiện nay các quỹ này có thặng dư, nhưng với đà gia tăng đều đặn của số người sẽ lãnh hưu bổng và trợ cấp y tế tại Mỹ trong những năm tới, mức chi sẽ tăng dần và vượt qua mức thu từ tiền thuế trên phiếu lương. Và những món chi này không thể nào bị loại bỏ hoặc cắt giảm vì đã được người dân Mỹ coi như là những khoản mà họ phải được quyền hưởng lúc về già, thường gọi là entitlements, chứ không phải đơn thuần là những món tiền trợ cấp của chính phủ.)

Nếu lấy con số 53,000 tỷ này chia đều cho 300 triệu người dân tại nước Mỹ này, thì mỗi người chúng ta, già trẻ lớn bé, cũng phải mang nợ đến 175,000 Mỹ-kim, không biết đến bao giờ mới è cổ trả xong nợ. Còn nếu ai bảo rằng thời gian 30 năm sắp tới quá xa vời, hơi sức đâu mà lo nghĩ tới cho mệt, thì chỉ cần một lời nhắc nhở rằng chỉ mới đó mà nhiều người Việt trong chúng ta đã xa rời quê hương trên 33 năm. Điều này cho thấy là các thế hệ con cháu chúng ta sẽ phải tiếp tục è cổ ra đi làm lâu hơn (cho tới 70 tuổi hay hơn) và đóng thuế cao hơn những tỉ lệ hiện nay thì mới mong trang trải phần nào.

Nguyên nhân gần nhất gây ra cơn khó khăn kinh tế hiện nay là những hậu quả của cơn sốt giá nhà cửa đã vỡ bùng như quả bóng căng quá mức. Trong suốt nhiều năm dài của gần một thập niên qua, người dân tiêu thụ đã gần như làm quen với khái niệm rằng giá nhà cứ tiếp tục gia tăng đều đặn mỗi năm. Giá nhà gia tăng khiến cho chủ nhà cảm thấy như giầu có hơn (cho dù vẫn đi làm với đồng lương cố định) để từ đó nảy sinh ra ý tưởng tiêu pha rộng rãi hơn, gần như hoang phí quá đáng, phần lớn nhờ ở sự thúc đẩy, dụ dỗ của các nhà băng và các tay môi giới sẵn sàng cho vay nợ dựa trên giá trị của căn nhà. Nhờ những khoản nợ từ vốn nhà (home equity loan), phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, người dân Mỹ đã tha hồ mua sắm xe hơi sang trọng, TV màn ảnh lớn, đi chơi xa, đi du thuyền hoặc sẵn sàng chi tiền cho con cái đi học ở những đại học mắc tiền, để không thua kém với người quen hay hàng xóm. Trong tình hình khả quan và “hồ hởi” tạm bợ và cẩu thả ấy, chính phủ, thay vì giữ vai trò hướng dẫn và kiểm soát thị trường, lại khoanh tay làm ngơ để cho những con buôn chủ nợ xào nấu giấy tờ, dùng đủ mọi thủ thuật để chế biến các hình thức nợ nần nhằm mục đích dụ dỗ giới tiêu thụ nhảy vào trò chơi vay nợ.

Việc vay nợ, tự nó, không hẳn là một điều xấu hay tệ hại, kể cả chuyện vay nợ để tiêu xài trước khi mình có đủ khả năng. Và cũng không ai chứng minh một cách hoàn chỉnh rằng giữa hai lựa chọn hoặc là tằn tiện để giành vốn liếng cho đầy đủ trước khi tiêu xài hưởng thụ, hoặc là mượn nợ để tiêu thụ trước rồi trả dần nợ về sau thì điều nào có lợi và hay hơn. Hãy lấy thí dụ của anh A bắt đầu đi làm ở tuổi 30, sống tằn tiện, chắt chiu để giành tiền trong vòng 30 năm để tích luỹ đủ số tiền để mua và trả đứt một căn nhà. Vậy thì ở cái tuổi 60, anh làm chủ hoàn toàn được căn nhà nhưng phải đợi đến lúc đó thì anh mới được hưởng sung sướng. Nào ai biết sự sung sướng ấy sẽ kéo dài bao lâu (cho đến ngày anh ta chết). Ngược lại, anh B, cũng bắt đầu đi làm ở tuổi 30, nhưng đã quyết định vay một món nợ lớn để mua 1 căn nhà có trị giá tương đương, và sẽ trả nợ dần trong vòng 30 năm sắp tới. Sau thời gian dài trả dứt xong nợ, khi đến tuổi 60, anh ta cũng làm chủ hoàn toàn được căn nhà, nhưng ít ra mọi người đều thấy rằng anh ta đã được hưởng sung sướng, tiện nghi của căn nhà đó trong vòng 30 năm qua, và sẽ còn tiếp tục nữa trong thời gian tới. Giữa hai trường hợp này, nếu xét về mặt duy lý và duy vật, thì rõ ràng là anh B được hưởng lợi nhiều hơn anh A.

Thế nhưng, một khi đã mang nợ thì người ta bắt buộc phải tìm cách trả nợ, hoặc nếu không trả nợ nổi thì chỉ còn cách . . . xù nợ, tức là quịt, hay chạy làng. (Ở cấp độ cá nhân, người dân và các doanh nhân Mỹ có thể dùng khe hở luật pháp để khai phá sản. Ở cấp độ quốc gia, nhà nước Mỹ cũng có thể chơi khăm các nước chủ nợ bằng cách phá giá đồng Mỹ-kim. Chẳng hạn như nếu như đồng dollar bị mất giá từ 25 đến 50% so với nhiều đồng tiền khác, thì món nợ khoảng 1,000 tỷ Mỹ-kim của chính phủ Hoa Kỳ giờ đây chỉ có giá trị từ 500 đến 750 triệu Mỹ-kim, tức là nhà nước Mỹ đã ăn quịt từ 250 đến 500 triệu Mỹ-kim một cách danh chính ngôn thuận!)

Khi nền kinh tế nước Mỹ phát triển tốt đẹp, các công xưởng làm ăn phát đạt, người dân có được công ăn việc làm khả quan, lợi tức dồi dào, thì việc trả nợ không phải là một mối lo lớn. Hoặc là khi mức thu nhập của người dân tăng cao (nhờ trúng số hoặc nhờ trị giá căn nhà sở hữu gia tăng mạnh), thì việc trả nợ cũng không gặp khó khăn. Thế nhưng khi đồng lương người dân không còn khả quan (trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu) hoặc bị sa sút (vì bị bớt giờ làm việc hoặc bị sa thải) thì việc trả nợ mới bắt đầu gặp trở ngại. Ở mức độ cá nhân, nó sẽ gây khó khăn, khốn đốn cho con nợ nhiều hơn vì ảnh hưởng xấu tác động lên mức sống hàng ngày khi phải cắt bớt những tiện nghi. Ở mức độ quốc gia, nó có thể tạo ra những hậu quả tai hại rộng lớn hơn nhiều, dẫn đến một tình trạng khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hãy thử tưởng tượng một viễn cảnh nước Mỹ khai phá sản vì nền kinh tế bị kiệt quệ thì sẽ thấy rằng có nhiều quốc gia chủ nợ khác như Trung Cộng, Nhật Bản, và nhiều nước Ả Rập giầu có khác cũng sẽ chới với theo. Thứ nhất là gia tài của món nợ khổng lồ mà các nước này đã cho Hoa Kỳ mượn (dưới hình thức các công khố phiếu) sẽ không cánh mà bay. Kế đến là kinh tế tại các nước này cũng sẽ bị sụp đổ theo vì hậu quả giây chuyền khi mất đi một thị trường tiêu thụ béo bở và mạnh mẽ là Hoa Kỳ.

Đã từ lâu, nhiều kinh tế gia đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng không mấy thoải mái trong trường kỳ của hiện tượng vay nợ càng lúc càng tăng. Thế nhưng, dường như không ai muốn kết luận rằng tình trạng này sẽ dẫn đến một kết cục bi thảm hay tệ hại. Theo lời bình phẩm của ông Wiggin, tác giả cuốn sách có tựa đề là “Empire of Debt” (Đế quốc Vay nợ) thì dường như có rất nhiều chuyên gia cũng nhận định rất chính xác về tình hình kinh tế trong nước, nhưng rồi họ lại kết luận rằng nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ rất dẻo dai, bền bỉ; và chỉ cần một vài thay đổi, điều chỉnh cho thích hợp thì bộ máy sản xuất to lớn của siêu cường này sẽ lại trỗi dậy một cách mạnh mẽ tiếp. Đó là lý do giải thích vì sao mà các cuộc suy thoái kinh tế đều rất ngắn ngủi (chỉ vài tháng) trong vòng gần 30 năm qua. Đó là các thời gian vào năm 1980, 1981, 1991 và 2001.

Chi tiết nổi bật trong khoảng thời gian dài này, từ năm 1980 tới nay, là mức chi tiêu của người dân Mỹ đã gia tăng đều đặn từng mỗi tam cá nguyệt, chỉ trừ một thời gian ngắn của cơn suy thoái năm 1991. Và chính mức tiêu thụ gia tăng này đã là đầu tàu cho nền kinh tế tiếp tục phát triển mạnh. Nếu như tổng số tiền chi tiêu của giới tiêu thụ vào năm 1981 chiếm 61% của tổng lợi tức quốc gia GDP thì đến năm 2007, nó đã chiếm đến 70% của GDP. Đó là lý do vì sao nhiều chuyên gia lo ngại về mức tiêu thụ của người dân trong tình hình bi quan hiện nay; vì nếu như mức tiêu thụ tụt giảm mạnh, mức GDP sẽ bị tụt xuống theo, dẫn đến hậu quả tất nhiên là tình trạng suy thoái (recession), một từ ngữ mà thống đốc Ngân hàng Trung ương Ben Bernanke cũng như Tổng thống Bush và phe Cộng Hoà đều rất e ngại và tránh né, trong bối cảnh của cuộc vận động tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ hiện nay.

Do bởi những hoàn cảnh về lịch sử và văn hoá khác nhau, người Á đông và người Mỹ có thể có những quan điểm hơi trái ngược trong khái niệm về việc tiêu dùng hay tiết kiệm. Trong bối cảnh loạn lạc hay chiến tranh, hoặc thường gặp những tai ương khiến cho nhiều người không lường trước về tương lai, người ta dễ có thói quen tằn tiện, chắt chiu để giành phòng hờ cho một ngày mai có thể không tươi sáng. Thái độ tiết kiệm, để giành được coi như là một quyết định chín chắn, và thường được cổ động hay khuyến khích, nhất là trong khối di dân thuộc thế hệ đầu tiên. Trong xã hội phương Tây cũng có khái niệm này, nên mới có những quỹ phòng hờ trong trường hợp thiếu thốn bất ngờ (rainy day fund). Tuy nhiên, ở điểm này, trong kinh tế học, người ta đã khám phá một nghịch lý khá lý thú, thường gọi là “Nghịch lý của Tiết kiệm” (Paradox of Thrift), được đề ra bởi kinh tế gia lừng danh John Maynard Keynes vào thập niên 1930. Theo lý thuyết này thì khi một người để giành tiền thì đó là điều tốt vì về lâu dài họ sẽ có sức mạnh nhờ tăng vốn để giành. Nhưng khi mọi người trong một nước cùng để giành tiền thì lại là điều không tốt vì về lâu dài điều này sẽ khiến cho tổng số tiền để giành của cả nước bị tụt giảm. Thoạt mới nghe có vẻ phi lý, nhưng nó đã được chứng minh rất đúng và vững vàng.

Lý thuyết này cũng giải thích phần nào sự khác biệt giữa “kinh tế vi mô” (microeconomics), phân tích về những quyết định và ứng xử về kinh tế của một cá nhân, và “kinh tế vĩ mô” (macroeconomics), phân tích về kinh tế ở tầm mức của một tập thể, một quốc gia. Trong một xã hội tiêu thụ bình thường, nếu chỉ có mình anh A biết lo dành dụm đều đặn thì trong tương lai anh ta sẽ khá hơn nhiều người khác, nhất là trong thời kỳ khó khăn của suy thoái, nhờ ở cái vốn để dành nhiều hơn so với những người khác đã tiêu xài hết. Thế nhưng, cũng ở trong xã hội đó, nếu như mọi người cùng để dành như anh A thì hậu quả lại trái ngược. Vì nếu mọi người cùng để dành thì chuyện đầu tiên xảy đến là mức tiêu thụ của cả nước sẽ tụt xuống. Điều này sẽ khiến cho các hãng xưởng phải sản xuất ít hơn, khiến cho nền kinh tế chung đi xuống theo. Hậu quả là nhiều người sẽ thất nghiệp hơn khi các xí nghiệp, các cửa hàng phải đóng cửa hay bớt giờ làm việc. Và khi nhiều người thất nghiệp hơn trong xã hội thì cơ hội để dành sẽ giảm đi vì mọi người không còn dư dả tiền lương, nói chi nói đến chuyện để dành.

Điều này giải thích vì sao những người điều hành đất nước, từ ông Bernanke, TT Bush cho đến các lãnh tụ dân cử phe Dân Chủ ở Quốc Hội Mỹ, đều muốn khuyến khích người dân tiếp tục tiêu thụ để cho nền kinh tế nước này tiếp tục được đẩy mạnh. Đó là lý do vì sao cả hai phe Dân Chủ và Cộng Hoà đều dễ tìm được sự đồng thuận mỗi khi muốn thông qua những chương trình kích thích người dân tiêu thụ nhiều hơn (stimulus program), thường là dưới hình thức những tấm chi phiếu gọi là bồi hoàn trước về tiền thuế (tax rebate).

Tuy nhiên, điều đáng lo là phần lớn số tiền tiêu thụ này là do tiền vay nợ thay vì từ tiền lợi tức kiếm được của người dân. Vào năm 1983, tổng số tiền nợ của dân Mỹ, tính trung bình, chiếm 55% của lợi tức họ kiếm được. Nhưng đến giờ này, tỉ lệ đó đã tăng lên đến gần 130%, tức là dân Mỹ đã nợ như Chúa Chổm, nợ còn nhiều hơn là số tiền lợi tức kiếm được !!! (xem biểu đồ 1)

Theo tài liệu của chính phủ, qua các con số thống kê thu lượm được từ Nha Phân Tích Kinh Tế (Bureau of Economic Analysis) thì tỉ lệ tiết kiệm cá nhân – tức là phần còn dư được của tiền lương sau khi đã trừ đi mọi chi phí tiêu dùng – của người dân Mỹ vào năm 1981 ở mức 12%. Ít ra nó cũng là một con số dương, tuy rằng nhỏ hơn mức từ 25 đến 40% của nhiều nước Á Châu. Đến một thập niên sau, do bởi tinh thần tiêu thụ ào ạt được khuyến khích dưới nhiều hình thức, tỉ lệ tiết kiệm cá nhân tụt xuống chỉ còn 5%. Để rồi giờ đây, nó đã tụt xuống mức âm, tức là không những không để dành được một đồng xu cắc bạc nào mà còn lại đèo bồng thêm nhiều món nợ đến ngập đầu.

Dĩ nhiên, tình trạng bất thường này không thể nào duy trì được mãi, và trước sau gì thì người dân Mỹ sẽ phải đối phó với cái ngày tính sổ để trả giá cho sự tiêu pha quá độ kéo dài trong nhiều năm. Đúng ra, cái ngày đó đã phải đến từ lâu, nếu như không có sự tiếp tay nuôi dưỡng của nhà nước, một hành động tương tự như việc nuông chiều con quá đáng mà nhiều bậc cha mẹ biết là không nên nhưng không đành lòng bỏ rơi. Đó là việc ra tay của ông Alan Greenspan, thống đốc Ngân hàng Trung ương, liên tục cắt giảm phân lời trong nhiều năm liền trong những năm đầu thiên niên kỷ này, khiến cho lưu lượng tiền bạc tiếp tục đổ dồn vào thị trường, khuyến khích người dân tiếp tục vay mượn tiếp.

Vào những năm chót của thế kỷ trước, cả nước Mỹ gần như rơi vào tình trạng “hồ hởi sảng” (irrational exuberance) như lời cảnh cáo của ông Greenspan khi mọi người đều ồ ạt đổ tiền để đầu tư vào thị trường chứng khoán high-tech vì bị mờ mắt trước cái lợi nhất thời nên đã không thấy ra cái nguy hiểm của một cơn sốt giá đang lên như bong bóng. Đến khi cơn sốt giá này vỡ bùng ra vào đầu năm 2001, biết bao nhiêu người đã rơi vào cảnh cười đau khóc hận vì trắng tay bởi những vụ đầu tư này. Đáng lẽ ra nhiều người phải học được bài học về sự chi tiêu quá đáng, đến mức gần như bất cẩn vì quá hám lợi và quá tin vào những mối đầu tư kiếm lời cao và nhanh chóng.

Tình cờ trớ trêu của lịch sử đã khiến cho vụ khủng bố 9/11 xảy ra vào cùng thời điểm này khiến cho Ngân hàng Trung ương và chính phủ Mỹ lo sợ một cuộc suy thoái kinh tế có thể xảy ra khi người dân trở về thế co cụm, không còn tiêu xài rộng rãi nữa. Kết quả là ông Greenspan đã liên tục cắt giảm phân lời trong nhiều năm liền. Một trong những ngành có lợi nhất trong giai đoạn này là thị trường địa ốc vì tiền lời mua nhà, cũng như tiền lời của nợ trên vốn của nhà (home equity loan), rất thấp. Trên nguyên tắc, điều này chưa hẳn là một điều xấu hay có hại, vì nó giúp cho nhiều người dễ dàng tậu mãi được căn nhà, vốn là một giấc mơ tiêu biểu của người dân Mỹ, và như thế góp phần tạo nên một nền tảng vững chắc cho xã hội, theo đúng tinh thần của câu nói “an cư lạc nghiệp”. Khi nhiều người mua nhà (với giá tiền vừa phải để có thể trả nợ hàng tháng một cách thoải mái) thì xã hội có nhiều cơ hội phát triển hơn vì người dân sẽ siêng năng đi làm nhiều hơn và ngân quỹ của chính quyền địa phương và các khu học chánh cũng sẽ khá hơn do bởi tiền thuế thổ trạch và gia cư thu được hằng năm.

Tuy nhiên, cũng chính vì mức phân lời quá thấp này nên đã sản sinh ra nhiều hệ quả tai hại khác. Nó khiến cho nhiều nhà băng thấy rằng việc cho vay nợ để mua nhà không còn là một điều đáng lo nữa. Thứ nhất, các nhà băng này có thể mượn dễ dàng với phân lời thấp để cho khách hàng vay nợ lại để mua nhà, nhân tiện kiếm lời một cách nhanh chóng nhờ ở tiền huê hồng (commissions) và lệ phí (fees). Do đó, các nhà băng đã bày ra đủ chiêu thức để có thể cho vay dễ dàng dưới nhiều loại như tái-tài-trợ, vay nợ không cần đặt vốn (no down payment), cũng chỉ vì ham lợi nhuận về hoa hồng và lệ phí này. Sau đó, các nhà băng sẽ tìm cách bán lại các món nợ này trên một thị trường khác cho các tay đầu tư khác.

Thái độ ỷ y đến bất cẩn này cũng lan sang các con nợ. Vì được cho vay dễ dàng nên nhiều con nợ cũng đâm ra bớt e ngại, sẵn sàng lao đầu vào để mua những căn nhà vượt ngoài khả năng tài chính của mình, cũng như bị dụ dỗ để mua những món nợ thuộc loại ARM không có lợi vì phân lời sẽ tăng cao về sau. Việc nhiều người cùng ồ ạt đổ xô vào thị trường địa ốc đã khiến cho giá nhà bỗng tăng vọt đều đặn, lại càng lôi cuốn những tay có đầu óc đầu cơ nhập cuộc. Những kẻ này chẳng thiết tha gì đến việc tậu mãi căn nhà để ở. Họ chỉ chú trọng đến việc kiếm lời qua việc mua bán một căn nhà. Do bởi giá nhà liên tục gia tăng, họ sẵn sàng mua nhà với giá cao vì tin rằng sẽ kiếm được lời khi bán lại trong thời gian 6 tháng hay 1 năm sắp tới với cái giá còn cao hơn nữa. Cũng vì tình trạng tăng giá nhà này nên những kẻ đầu cơ cũng không ngần ngại đeo mang bất cứ loại nợ nào vì nghĩ rằng mình sẽ bán lại được căn nhà một cách nhanh chóng, và coi như sẽ sớm rảnh nợ. Tất cả những yếu tố đó tạo nên một cơn sốt giá mà sau này người ta mới bình tâm nhìn thấy rõ sự tai hại và điên rồ, nhưng vào thời điểm đó, ít ai chịu nhìn nhận và đều tự cho mình là khôn ngoan, có tinh thần “cả gan để làm giầu” không khác gì một người ngồi trên canh bạc.

Dĩ nhiên, giá nhà không thể nào tiếp tục gia tăng mãi. Nó bắt đầu đứng lại vào năm 2006 và dần dần rơi xuống, dẫn đến một cơn khủng hoảng của quả bóng vỡ bùng. Không những người dân mất nhà và các tay đầu cơ địa ốc cũng bị tán gia bại sản mà các ngân hàng cũng như các tổ hợp cho vay cũng điêu đứng theo vì các món nợ sở hữu trở thành mất giá trị khi hàng trăm căn nhà bị tịch biên và bỏ phế, không thể nào bán lại được để bù vốn hay trả nợ.

Khi phân tích về tình hình kinh tế bi quan hiện nay, người ta cũng phải nói đến một sự kiện bất ngờ khác là nạn tăng giá dầu và các món hàng tiêu thụ khác, nhảy vọt một cách kinh khủng ngoài mọi dự liệu, và có lẽ không liên quan gì đến cơn sốt về giá nhà cũng như tinh thần vay nợ kiểu “vung tay quá trán” của người dân Mỹ. Nếu như nguyên nhân gần dẫn đến tình trạng khó khăn hiện nay (mà người ta cũng chưa lường hết được hậu quả sẽ tệ hại đến mức nào) là cơn khủng hoảng về các món nợ địa ốc loại tồi (sub-prime loans) thì người ta cũng phải nói đến nguyên nhân sâu xa hơn làm động lực chính: đó là tinh thần vay nợ quá đáng, quá khả năng, và do đó sẽ trở thành quá mức chịu đựng của người dân Mỹ.

Câu hỏi được đặt ra là liệu lần này, giới tiêu thụ ở Hoa Kỳ có rút tỉa được bài học quý giá này để phải tự thay đổi cách sống, và không tiếp tục rơi vào chu kỳ lệ thuộc vào các món nợ để trang trải cho nhu cầu của cuộc sống? Trong một bài phân tích chính (cover story) của tuần báo thương mại lớn nhất ở Hoa Kỳ là Business Week phát hành hồi cuối năm ngoái, với tựa đề là “The Consumer Crunch” (Sự Co Cụm của Người Tiêu Thụ), ông Richard Hastings, một cố vấn kinh tế, nhận định rằng “đã đến lúc mà người dân bắt đầu nhận thức rằng tiền nợ mà họ đang gồng gánh đã trở thành quá nặng nề”.

Dĩ nhiên, việc co cụm của người tiêu thụ sẽ tác động không ít lên mức sản xuất GDP của cả nước, dễ dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế. Nhưng, có lẽ điều đó trước sau gì cũng phải xảy đến, vì tình trạng tiếp tục vay nợ này không thể nào kéo dài mãi; sẽ đến ngày con nợ, tức người dân tiêu thụ, phải trực diện trước thực tại: đó là khi biết rằng mình không thể suốt đời phải cật lực đi làm để trả nợ nhưng cũng không bao giờ trả xong nổi, khi mà tỉ lệ nợ còn cao hơn là mức thu nhập kiếm về được. Nói theo lời nhận định của ông Kenneth Rogoff, giáo sư tại Đại học Harvard và đã từng là kinh tế gia trưởng của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, thì có lẽ người dân Mỹ bắt đầu nhìn nhận ra rằng cái “thời kỳ vàng son” của người tiêu thụ ở Mỹ không thể nào tồn tại được mãi, bởi vì “cái gì có vẻ tốt quá đến mức khó tin thì có lẽ nó là điều khó tin thật” (It seemed too good to be true, and it was.)

Minh Thu

Houston, Texas

Biểu đồ chú thích : http://www.vnn-news.com/IMG/gif/image003-16.gif

́

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: