Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Mô hình tập đoàn nhà nước và mối lo vượt tầm kiểm soát

Posted by BEAR on Tháng Chín 9, 2008

http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/4756/index.aspx

09/09/2008 09:34 (GMT + 7)
Tách quyền lực chính trị ra khỏi quyền lực kinh tế, đặc biệt ra khỏi quyền sở hữu nhà nước của tại các TĐKT luôn là vấn đề nan giải và hầu như không có giải pháp hoàn hảo tuyệt đối, luôn phát sinh vấn đề mới, đòi hỏi giải pháp mới, thường xuyên cải cách – Nguyễn Trung viết về kinh nghiệm của các quốc gia trong hình thành và phát triển các TĐKT thuộc sở hữu nhà nước

Mô hình tập đoàn nhà nước sơ khởi và 3 chức năng

Mô hình Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 (khoảng từ 1830) tại một số nước châu Âu (chủ yếu là Tây Âu) trong giai đoạn công nghiệp hóa phát triển bùng nổ ban đầu.

Nguyên nhân chính của sự xuất hiện này là một số sản phẩm hay ngành kinh tế tự nó mang tính chất độc quyền rất cao, nếu để nằm trong khu vực tư nhân mà mục đích hàng đầu của nó là lợi nhuận thì sẽ có nguy cơ dẫn tới những chiều hướng phát triển thiên lệch, có hại cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nước, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của nước đó với các nước chung quanh.

Pháp đã từng loay hoay tìm cách quản Air France với tư cách tập đoàn kinh tế nhà nước trong một thời gian dài.

Vì những lẽ này, các thế lực kinh tế và chính trị của những quốc gia này – thể hiện tập trung trong vai trò Nhà nước – đã đi tới quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, tập trung vào các ngành cung cấp than, điện, hàng không, bưu chính viễn thông, một số sản phẩm trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng khác như cung cấp nước, giao thông vận tải thủy và bộ (ví dụ đường sắt)…

Ngoài ra một số đòi hỏi nhất định về an ninh và quốc phòng khiến cho Nhà nước cần trực tiếp nắm lấy, ví dụ ngành hàng không, ngành bưu chính viễn thông…

Thực tế vừa trình bày cho thấy ngay tính đặc thù của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, thể hiện trong 3 chức năng chính của nó:

a. Chống nguy cơ độc quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển chung kinh tế cả nước

b. Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả nước đối với các quốc gia khác trên thị trường thế giới, và

c. Đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh và quốc phòng.

Mô hình tập đoàn nhà nước và 4 đặc tính

Giai đoạn phát triển bùng nổ thứ hai các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu ở các nước Tây Âu, là những thập kỷ đầu tiên trong thời kỳ tái thiết và phát triển kinh tế sau chiến tranh thế giới II, từ 1950s – 1960s.

Trong thời kỳ này nét nổi bật là các yếu tố chi phối mới: Những đòi hỏi cấp bách của tái thiết sau chiến tranh, sự phát triển bùng nổ của công nghệ mới, việc chuyển từ năng lượng than là chủ yếu sang năng lượng dầu được cung ứng từ bên ngoài.

Trong giai đoạn hai này, các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước tăng nhiều về số lượng, nhưng chủ yếu vẫn giữ nguyên 3 chức năng đã khai sinh ra nó, mở rộng vào các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, công nghệ tin học, bảo hiểm, nhà ở…

Cả trong hai giai đoạn, các tập đoàn này trước sau vẫn có 4 tiêu chí hay đặc tính:

– Chịu sự quản lý theo luật pháp,

– Hoạt động trong thể chế tài chính công khai minh bạch,

– Có thể huy động vốn từ khu vực tư nhân hoặc khu vực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo những quy định chặt chẽ của luật pháp và của thể chế tài chính quốc gia – song không được phép có ngân hàng riêng,

– Phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thế giới.

Trong giai đoạn hai, sự xuất hiện của phong trào cánh tả – tiêu biểu là của các lực lượng theo khuynh hướng xã hội dân chủ (social democracy), góp phần nhất định thúc đẩy sự phát triển các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước. Khuynh hướng hoạt động của phong trào cánh tả trong thời kỳ này chủ yếu nhằm vào mục đích tăng cường các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong quá trình phát triển kinh tế.

Sự lỗi thời của một mô hình

Sự phát triển bột phá của công nghệ và khoa học kỹ thuật và quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng trong các thập kỷ 1960s – 1980s đã mang lại 2 hệ quả:

– Khả năng cạnh tranh của các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ngày càng giảm sút so với khu vực kinh tế tư nhân, và nhìn chung tính hiệu quả của chúng đối với toàn bộ nền kinh tế ngày càng thấp, ngày càng trở thành hiệu quả âm tới mức cản trở sự phát triển của nền kinh tế;

Chaebol Hàn Quốc đã từng gây nhiều rối loạn trong xã hội nước này. Ảnh BBC

– Sự phát triển năng động của công nghệ và dịch vụ thời kỳ đi vào kinh tế trí thức và toàn cầu hóa cho phép chuyển ngày càng nhiều sản phẩm kinh tế và dịch vụ vào khu vực tư nhân.

Tình hình trên đã khiến cho các quốc gia Tây Âu phải loại bỏ phần lớn các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu bằng hai bước gắn với nhau:

– Bãi bỏ những quy định có liên quan và

– Tư nhân hóa hầu hết những tập đoàn này.

Nguyên nhân chủ yếu của việc loại bỏ là do bản chất sở hữu nhà nước của những tập đoàn này khiến chúng chậm thích nghi hoặc không thể thích nghi với sự biến động năng động của môi trường kinh tế – thể hiện tập trung ở sự giảm sút khả năng cạnh tranh của nhóm tập đoàn này; đồng thời trong kinh tế và trong quản trị quốc gia ngày càng xuất hiện những công cụ hay phương thức điều tiết vỹ mô mới.

Nói một cách khác, trong bối cảnh kinh tế mới và quá trình toàn cầu hóa sâu rộng, mô hình tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước ngày càng trở nên lỗi thời.

Rất tiếc rằng các nước phát triển không có yêu cầu điều tra số liệu thống kê tỷ trọng tham gia của những tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước vào toàn bộ nền kinh tế quốc dân mỗi nước, bởi lẽ hiện nay các tập đoàn này chỉ còn rất ít, hoặc hầu như không có ở Mỹ và Canada.

Sản phẩm mang tính lịch sử của từng thời kỳ

Ở cả trong hai thời kỳ phát triển mạnh (1830 và 1950s-1960s), nếu nhìn nhận các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước phát triển châu Âu dưới góc độ tỷ trọng vốn (tài sản), tỷ trọng vốn đầu tư hàng năm, tỷ trọng sản phẩm của nhóm này làm ra trong tổng thể nền kinh tế cả nước… có thể phán đoán đấy là các tỷ trọng rất nhỏ.

Nếu căn cứ vào khối lượng sản phẩm của nhóm tập đoàn này làm ra rồi ước đoán các số liệu, thì tại cả hai thời kỳ phát triển cao nhất nói trên các chỉ số tỷ trọng % này (tài sản, vốn đầu tư hàng năm, khối lượng output hàng năm) trong tổng thể nền kinh tế mỗi nước có lẽ không thể lên tới 2 con số (nghĩa là dưới 10%). Tuy nhiên tầm quan trọng và tính hiệu quả của nhóm này vào những thời đoạn phát triển ấy là khẳng định.

Như vậy, toàn bộ lịch sử phát triển các tập đoàn kinh thế thuộc sở hữu nhà nước tại các nước công nghiệp phát triển cho thấy nó chỉ có vai trò nhất định vào những thời điểm và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đòi hỏi cần tạo lập một sự độc quyền nhà nước nhất định để đảm bảo sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nước trong bối cảnh ấy.

Một khi bối cảnh phát triển như vậy qua đi, đặc biệt từ thập kỷ 1980s đến nay, các nhược điểm cố hữu của nhóm tập đoàn này xuất phát từ tính chất quyền sở hữu của Nhà nước ngày càng trở nên khó khắc phục. Tới một thời điểm nhất định là trở thành trở ngại kìm hãm sự phát triển.

Từ thực tế này, các nước phát triển hầu như đi tới kết luận giống nhau: Dưới góc nhìn lợi ích tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, chỉ nên duy trì các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cho những sản phẩm mà khu vực kinh tế tư nhân làm không hiệu quả bằng hoặc không làm được.

Tách quyền lực chính trị ra khỏi quyền lực kinh tế

Trong kinh tế, việc quản lý quốc gia theo luật, cai trị đất nước theo luật, nói một cách khác là việc tách quyền lực chính trị ra khỏi quyền lực kinh tế (dù là thuộc khu vực tư nhân hoặc khu vực thuộc sở hữu Nhà nước) luôn luôn là vấn đề nan giải và hầu như không có giải pháp hoàn hảo tuyệt đối, luôn luôn phát sinh vấn đề mới, luôn luôn đòi hỏi những giải pháp mới, thường xuyên phải tiến hành những cải cách mới, không hiếm khi quyết liệt và gian khổ, cá biệt đã có trường hợp tình trạng tham nhũng dẫn tới làm sụp đổ nội các ở một vài nước phát triển (Ý, Nhật…)

Sự câu kết bền chặt giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị luôn là con đường ngắn nhất của các thế lực mafia. Ảnh minh họa

Đặc biệt việc tách quyền lực chính trị của Nhà nước ra khỏi quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn của nó là khó nhất, bởi lẽ quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn này đều nằm trong một thực thể chính trị chung, đó là Nhà nước.

Để hình thành sự câu kết giữa một bên là quyền lực chính trị của Nhà nước và một bên là quyền lực kinh tế (đặc biệt là quyền của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế mà Nhà nước là chủ sở hữu), trước sau sẽ là con đường ngắn nhất dẫn tới hình thành các thế lực mafia trong một quốc gia.

Đấy là vấn đề các nước phát triển thường xuyên phải tìm mọi cách loại trừ và phòng ngừa – bằng cách thường xuyên cải cách, phát triển thể chế kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. Song chính sự câu kết này lại đang là vấn đề hàng chục nước đang phát triển không sao gỡ ra được.

Có thể nói sự câu kết giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế (kể cả khu vực sở hữu tư nhân và khu vực sở hữu nhà nước) là nguồn gốc nguyên thủy bất khả kháng của tham nhũng và mọi tệ nạn khác trong các nước đang phát triển.

Sự bất lực trước thực trạng này của các nước đang phát triển nói lên nguyên nhân cơ bản nhất giải thích tại sao sau hơn nửa thế kỷ giành được độc lập mà họ vẫn họ không thể thoát khỏi số phận nước nghèo và lạc hậu. Một thời, tại một số nước đang phát triển tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước còn là công cụ trá hình của chủ nghĩa thực dân mới.

So với các nước công nghiệp phát triển, các nước NICs và một số nước đang phát triển có thu nhập cao vẫn còn duy trì nhiều tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước. Song có lẽ trừ trường hợp ngoại lệ là Singapore, các nước còn lại vẫn đứng trước nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, xu thế thu hẹp nhóm này vẫn đang tiếp diễn.

  • Nguyễn Trung

Phần 2: Cải cách tập đoàn nhà nước Việt Nam và một chữ Dám

Xem thêm:

Điện Lực – Lỗ hay không lỗ?

Tập đoàn tàu thủy lại xin đầu tư vào điện, thép

Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) và Tập đoàn Lion Diversiffied Holding Behard (Malaysia) đang đề nghị đầu tư 1 khu liên hợp thép tại Ninh Thuận với số vốn gần 10 tỷ USD, công suất 10 triệu tấn/năm.

Theo đó chủ đầu tư là Công ty Maju Stabil Sdn Bhd (thành viên của Tập đoàn Lion) và Vinashin muốn đăng ký thành lập Công ty TNHH thép Vinashin-Lion tại Ninh Thuận với tổng vốn điều lệ là 12.480 tỷ đồng (780 triệu USD), trong đó vốn góp của Maju Stabil chiếm 70% còn Vinashin chiếm 30%.

Dự án sẽ sử dụng 1.650ha đất, giai đoạn I là 662 ha. Sẽ xây dựng và vận hành khu liên hợp thép với công nghệ lò cao, lò chuyển ôxy, lò tinh luyện, cán nóng và cán nguội cùng cơ sở hạ tầng phụ trợ gồm 2 nhà máy điện công suất 1.450 MW và cảng biển công suất 50 triệu tấn/năm.

Quá nhiều dự án xin đầu tư vào thép

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, tính đến nay, Chính phủ đã cấp giấy phép chứng nhận đầu tư cho các dự án gồm: Dự án Guang Lian Steel Việt Nam 100% vốn nước ngoài tại khu kinh tế Dung Quất, công suất 5 triệu tấn thép thô/năm; Dự án Posco (Hàn Quốc) tại Bà Rịa – Vũng Tàu công suất giai đoạn I là 0,7 triệu tấn/năm, giai đoạn II dự kiến sẽ tăng công suất của nhà máy cán thép nguội lên 1,5 triệu tấn/năm và xây dựng một nhà máy mới để cán thép nóng với công suất 3 triệu tấn/năm, hoàn thành vào cuối năm 2012; Dự án Nhà máy thép cán nóng liên doanh Tập đoàn Essar (Ấn Độ) với Tổng công ty Thép, Tổng công ty cao su Việt Nam tại Bà Rịa Vũng Tàu công suất 2 triệu tấn/năm và Dự án Liên hợp thép của Tập đoàn Formosa (100% vốn Đài Loan) tại Hà Tĩnh công suất giai đoạn I là 7,5 triệu tấn/năm (hoàn thành vào 2013) và giai đoạn II nâng lên 15 triệu tấn/năm.

Tới đây sẽ có thêm Dự án Liên hợp thép Thạch Khê (Hà Tĩnh) do Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Xi măng Việt Nam và Tập đoàn thép Tata của Ấn độ với công suất 4,5 triệu tấn/năm được cấp phép.

Bên cạnh đó, Tập đoàn thép Posco (Hàn Quốc) cũng đang xin đầu tư Dự án liên hợp thép tại Vân Phong (Khánh Hoà) với số vốn khoảng 5 tỷ USD và sản lượng khoảng 5 triệu tấn thép/năm.

Một dự án mới được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng nữa là của Công ty FRRO China (Trung Quốc), tổng đầu tư 5 tỷ USD, công suất 10 triệu tấn/năm.

Ngoài ra, còn có dự án Nhà máy thép không gỉ của Tập đoàn Samoa Qian Ding Group (Đài Loan) đầu tư tại Bà Rịa – Vũng Tàu có tổng đầu tư 700 triệu USD, công suất 0,72 triệu tấn/năm, được cấp phép tháng 11/2005 nhưng tới nay vẫn im ắng.

Thép: Dự báo dư thừa công suất lớn

TIN LIÊN QUAN

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, thì đến năm 2010 Việt Nam sẽ cần khoảng 10 triệu tấn thép các loại, tới năm 2015 là 15 triệu tấn và tới năm 2020 là 20 triệu tấn/năm. Với nhu cầu này, đủ điều kiện cho việc sản xuất thép quy mô cỡ liên hiệp. Đây chính là cơ hội lớn của ngành công nghiệp thép Việt Nam, nhưng với sự “bùng nổ” đầu tư các dự án thép cũng đang báo hiệu sự dư thừa công suất lớn.

Tập đoàn kinh tế: Đã đặc quyền không thể đòi thêm quyền

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, những lập luận đòi đa dạng hoá ngành nghề của các Tập đoàn chỉ là bao biện. Các tập đoàn đã độc quyền, hưởng đặc quyền lại đòi quyền tự do kinh doanh như khu vực khác là không sòng phẳng.

Nói đa dạng ngành vì thiếu vốn là bao biện

Lãnh đạo các tập đoàn lí giải rằng họ cần “lấy ngắn nuôi dài”, ngành chính đã làm trong lĩnh vực mang tính công ích, nên cần mở rộng thêm những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao để thu hồi vốn nhanh, phục vụ tái đầu tư?

Đó chỉ là sự bao biện. Các đơn vị DNNN đã nắm ngành đó được đầu tư lâu nay, được ưu tiên cao, hưởng mọi ưu đãi về đất đai, tín dụng, nguồn lực đó. Anh không tập trung nổi để đẩy ngành mình lên, giờ nhân danh đầu tư ngành khác để đẩy ngành mình lên là không được.

Như ngành điện, anh một mình một chợ nhưng không đảm đương được, để mất điện như hiện nay thì rất phi lí, nhất là khi việc mất điện đã được cảnh báo cả 10 năm, không phải là đột biến mà không biết trước.

Nhà nước phải xử lý như thế nào đối với các DNNN trong tình hình hiện nay?

Trên thực tế, tìm sự tự nguyện không dễ. Nhà nước cần xiết lại quản lý, sắp đặt lại giám sát, đòi hỏi tối đa sự minh bạch của DNNN. Trước hết, nên giao trách nhiệm lớn cho các đơn vị: như Bộ tài chính để xem xét thêm hoạt động của DNNN như thế nào, kiểm soát chặt quyền tài chính của họ; SCIC tăng cường vai trò của mình tăng cường sự quản lý.

Hai là, kiểm toán nhà nước rất cần được giao quyền và năng lực đầy đủ để kiểm toán thường xuyên DNNN. Mật độ kiểm toán dày hơn. Kiểm toán để phát hiện sai phạm, không nhằm trừng trị mà phát hiện cái yếu, từ đó khắc phục vươn lên. Việc này vừa đảm bảo cái lợi về lâu dài cho năng lực cạnh tranh của tập đoàn, vừa giúp Nhà nước quản lý tốt hơn.

Ba là, hệ thống ngân hàng, đặc biệt các ngân hàng thương mại quốc doanh cần kiểm soát vốn vay tốt hơn. Trong cho vay tín dụng, vẫn còn tình trạng, nể nang, ảnh hưởng này khác, cho DNNN vay nhưng chưa chặt chẽ trong xem xét tính khả thi dự án trong so với DN tư nhân hoặc DNNN nhỏ.

Khẩn trương sơ kết mô hình tập đoàn

Căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại DN 100% vốn nhà nước và tình hình thực tế để bán bớt phần vốn nhà nước ở những DN mà Nhà nước không cần nắm cổ phần chi phối hoặc không cần nắm giữ cổ phần để đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng”, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng lưu ý với các tập đoàn, bộ, ngành tại buổi làm việc với Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN.

Giám sát vốn nhà nước khi cổ phần hóa

Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN phải thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác cổ phần hóa, kịp thời xử lý các kiến nghị. Bộ Tài chính tăng cường giám sát đối với việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các DN.

Phó Thủ tướng yêu cầu khẩn trương sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế. Các tập đoàn kinh tế tự tổ chức sơ kết theo đề án đã được phê duyệt, báo cáo Chính phủ trước tháng 12/2008.

Mới đây, đoàn giám sát của UB Thường vụ QH sau khi kết thúc đợt giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về xử lý đất đai, mua bán cổ phiếu trong CPH các DNNN đã công bố, trong 6 tháng đầu năm 2008 mới chỉ tiến hành CPH xong vỏn vẹn 30 DN. Trong khi năm 2007 là 150. Số DNNN cổ phần hóa xong hầu hết là DN vừa và nhỏ. Vẫn còn 1.700 DN chưa chuyển đổi.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: