Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Biến động tài chính Mỹ tác động VN

Posted by BEAR trên Tháng Chín 19, 2008

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/09/080918_viet_us_impact.shtml

Một quan chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói khủng hoảng tài chính ở Mỹ có tác động “khá mạnh” đến kinh tế Việt Nam.

Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển Ngân hàng, cho BBC biết giới chức có thể phải chuẩn bị hỗ trợ cho thị trường bất động sản và xử lý nợ xấu của các ngân hàng.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn thẳng thắn ngày 18 tháng Chín, ông Lê Xuân Nghĩa nói theo dự đoán, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm mạnh và tăng trưởng kinh tế chỉ ở khoảng 5.5% vào năm 2009.

Lê Xuân Nghĩa: Tác động trực tiếp thì không lớn vì Việt Nam không có định chế tài chính nào đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu của các tập đoàn ấy [Lehman Brothers, AIG…]. Nhưng tác động gián tiếp khá mạnh. Trước mắt có những vấn đề, ví dụ lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế – LIBOR và SIBOR – đang tăng. Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp. Mặc dù nợ này không lớn, khoảng hai tỷ đôla, nhưng người ta buộc phải tái cấu trúc kỳ hạn và lãi suất, và như thế có thể ảnh hưởng tình hình tài chính của một số ngân hàng và doanh nghiệp.

Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm người dân dự đoán đồng đôla sẽ xuống giá nghiêm trọng, và họ có thể rút đôla khỏi ngân hàng, hoặc bán đôla mua tiền Việt gửi vào. Nó có thể làm cấu trúc tài sản của các ngân hàng rơi vào bất lợi.

Giá bất động sản, thị trường chứng khoán cũng có thể xuống thấp hơn nữa. Mà bất động sản xuống thì tài sản ngân hàng cũng xuống theo và nợ xấu có thể tăng lên. Kết quả tài chính của nhiều ngân hàng thương mại có thể không được như mong muốn vào cuối năm nay.

Đấy là những tác động ngắn hạn. Về dài hạn, khủng hoảng ở Mỹ có thể khiến các cam kết đầu tư vào Việt Nam sẽ chỉ giải ngân chậm chạp, hạn chế.

Xuất khẩu của Việt Nam dự kiến cũng có thể giảm mạnh. Có hai lý do: giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ. Thứ hai là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường hàng hóa, và dẫn đến nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.

Tất cả những điều đó có thể khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại. Trong nước hiện nay, người ta dự báo tăng trưởng có thể chỉ còn 5.5 – 5.6% trong năm 2009.

BBC:Sau một đêm, giá vàng tăng đến 1.3 triệu đồng một lượng. Liệu chuyện này có ảnh hưởng nhiều đến số tiền gửi trong ngân hàng?

Thời gian còn ngắn, chưa đủ để thấy rõ hiệu ứng. Nhưng điều đó chắc chắn sẽ diễn ra. Dân chúng có thể bắt đầu thay đổi công cụ tài chính họ dùng để tiết kiệm. Ví dụ, thay vì tiết kiệm bằng bất động sản, chứng khoán, ngoại tệ, tiền Việt thì bây giờ có thể có thay đổi nhất định.

Khủng hoảng ở Mỹ có thể khiến các cam kết đầu tư vào Việt Nam sẽ chỉ giải ngân chậm chạp, hạn chế

Tôi dự đoán người dân sẽ dự trữ vàng nhiều hơn. Điều đó có thể ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng tiền gửi tiết kiệm của dân cư ở ngân hàng.

BBC: Nó có dẫn đến tình trạng thiếu tiền mặt ở các ngân hàng, thưa ông?

Chưa có hiện tượng đó vì hiện nay các ngân hàng đang có dư thừa về thanh khoản (liquidity surplus). Nhưng trong mấy tháng tới, chưa biết thế nào.

BBC:Theo ông, khu vực ngân hàng của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn không?

Không phải quá lớn. Tôi không nghĩ sẽ có đổ bể nghiêm trọng của hệ thống tài chính Việt Nam.

Nhưng lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số có thể lỗ. Đến cuối năm nợ xấu có thể tăng lên và lúc bấy giờ chính phủ có thể buộc phải có giải pháp để xử lý các khoản nợ xấu. Gần đây do lạm phát và khó khăn trong nước, lại có điểm lợi là hệ thống tài chính được chấn chỉnh, củng cố khá tốt, thanh khoản được cải thiện. Giám sát tín dụng và nợ xấu đã khá chặt chẽ.

BBC:Những cam kết đầu tư vào Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng vì cuộc khủng hoảng tại Mỹ.

Cam kết rất lớn, nhưng thực hiện có thể thấp. Dĩ nhiên cho đến nay, việc thực hiện rất tốt, giải ngân FDI đã đạt tám tỷ đôla cao hơn năm ngoái (6.5 tỷ đôla). Nhưng trước chúng tôi kỳ vọng cả năm nay, việc giải ngân FDI trên 10 tỷ, cộng cả ODA là 12 tỷ, để đỡ cho thâm hụt thương mại. Nhưng tình hình thế này, việc giải ngân ba tháng cuối năm chắc gặp khó khăn.

BBC:Như vậy nó có làm dự đoán lạm phát cao hơn không, thưa ông?

Lại có một khía cạnh khác trong lạm phát: nó phụ thuộc chính sách thắt chặt tiền tệ. Hiện nay, chính sách ấy gần như chưa có gì thay đổi. Vì thế, tôi nghĩ lạm phát vẫn tiếp tục xu hướng giảm do việc thắt chặt tiền tệ.

Giải pháp và bài học

BBC:Trên đây là những nguy cơ cho kinh tế Việt Nam, sau khủng hoảng ở Mỹ. Nhưng Việt Nam có thể làm gì để tránh những nguy cơ đó?

Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang có những chuẩn bị để giảm thiểu nguy cơ. Trước hết, chúng tôi đang giám sát chặt chẽ và chuẩn bị những hỗ trợ cần thiết cho thanh khoản của các ngân hàng thương mại.

Thị trường bất động sản Việt Nam đang gặp khó khăn

Đồng thời kiểm tra lại chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là tín dụng dành cho bất động sản.

Chính phủ cũng có thể phải chuẩn bị các gói biện pháp để hỗ trợ thị trường bất động sản và hỗ trợ việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới nếu nó xảy ra một cách nghiêm trọng.

BBC:Từ cuộc khủng hoảng ở Mỹ hiện nay, ở góc độ nhà quản lý và chuyên gia ngân hàng, ông thấy có thể rút ra bài học gì cho Việt Nam?

Theo tôi, điều quan trọng nhất là sự giám sát của chính phủ đối với hệ thống tài chính, đặc biệt là hoạt động của ngân hàng đầu tư và quỹ đầu tư thanh khoản (hedge fund). Hoạt động này có thể làm nóng thị trường bất động sản, làm nóng nền kinh tế và vì thế ảnh hưởng trực tiếp với các ngân hàng thương mại. Để tạo nên “bức tường lửa” giữa hệ thống ngân hàng đầu tư, hedge fund với các ngân hàng thương mại là điều rất khó khăn.

Nhìn lại khủng hoảng châu Á 1997, các ngân hàng đầu tư và hedge fund đã đầu tư ào ạt rồi tạo ra bong bóng ở đó. Bong bóng châu Á vỡ thì họ kéo về Mỹ, Tây Âu, làm nó nóng lên và bây giờ bong bóng ở nhà họ lại nổ.

Nó cho thấy sự bùng nổ của ngân hàng đầu tư và hedge fund thời gian qua đã làm giảm đáng kể khả năng chi phối thị trường của các ngân hàng trung ương và chính phủ. Đấy là kinh nghiệm không chỉ cho Việt Nam mà cả nhiều nước, từ nay về sau, phải rất cảnh giác với các định chế tài chính phi ngân hàng đầu cơ rủi ro trên thị trường tài chính.

Xem thêm:

Lehman Brothers xin phá sản

Ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của Mỹ, Lehman Brothers, nộp đơn bảo hộ phá sản, làm giá cổ phiếu trên toàn cầu suy giảm.

Lehman đã thua lỗ hàng tỷ đôla trên thị trường vay mua nhà trả góp của Mỹ.

Trong khi đó, Merrill Lynch, vốn cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tín dụng, đã đồng ý về tay Bank of America.

Sự sụp đổ của Lehman đã gây ra chấn động khắp thế giới. Thị trường chứng khoán ở châu Âu và châu Á giảm mạnh.

Đồng đôla cũng giảm so với đồng yen, euro và franc Thụy Sĩ trong khi vẫn còn quan ngại về khả năng chống chọi của hệ thống tài chính toàn cầu.

Chỉ số FTSE gồm 100 cổ phiếu hàng đầu của Anh giảm 212.6 điểm hay 3,9% xuống 5.204,2 điểm khi kết thúc ngày giao dịch.

Cuối ngày trên thị trường New York, chỉ số công nghiệp Down Jones giảm 337 điểm hay 2.95% ở mức 11.084,99.

Chỉ số Standard & Poor’s 500 giảm 3,04% và chỉ số Nasdaq giảm 2,34%.

Ứng cứu

Nhằm ổn định thị trường tiền tệ, Ngân hàng Anh và Ngân hàng Trung ương châu Âu đã bơm 5 tỷ bảng và 30 tỷ euro.

Ngoài ra, Cục dự trữ liên bang Mỹ nói lần đầu tiên sẽ chấp nhận cổ phần của các ngân hàng như là khoản ký quỹ cho vay ngắn hạn nhằm mở rộng chương trình cho vay khẩn cấp của cục này.

Các chính phủ can thiệp tài chính

Chính phủ Hoa Kỳ cứu công ty bảo hiểm AIG

Giá dầu tăng ngày thứ nhì

Giá 1 ounce vàng tăng hơn 85 đô la

Khủng hoảng Tài chính Hoa Kỳ

Các tập đoàn đầu tư Hoa Kỳ sụp đổ hàng loạt có đẩy kinh tế Mỹ vào khủng hoảng hay không? Sau những chấn động tài chính liên tục xảy ra tại Hoa Kỳ, thế giới sẽ còn bị những gì nữa?

Liệu có thể là một cuộc tổng khủng hoảng như thời 1929? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vấn đề qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do, ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Việt Long thực hiện.

Cơn địa chấn ngân hàng

Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Việc ngân hàng đầu tư Lehman Brothers khai báo phá sản và ngân hàng đầu tư Merill Lynch được bán rẻ cho ngân hàng thương mại Bank of America đã gây chấn động cho các thị trường tài chính thế giới. Sau vụ sụp đổ của ngân hàng đầu tư Bear Sterns vào tháng Ba và việc Chính quyền Hoa Kỳ phải giám hộ hai công ty tài chính bán công Fannie Mae và Freddie Mac vào tuần trước, thì vụ khủng hoảng của hai tổ hợp đầu tư thuộc loại lớn nhất và lâu đời nhất của Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng Chín vừa qua đã khiến thế giới e ngại.

Trong chương trình kỳ này, chúng tôi đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về hậu quả của những chấn động liên tục đó đối với kinh tế Hoa Kỳ, một đầu máy của kinh tế thế giới. Nhận xét sơ khởi của ông về toàn bộ vấn đề này là như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết, tôi xin đề nghị là chúng ta cùng đặt vấn đề vào đúng bối cảnh và kích thước của nó, từ đó mình mới có thể lượng định về hậu quả của cơn chấn động. Sở dĩ như vậy vì việc tập đoàn Lehman Brothers, một tổ hợp đầu tư tài chính ra đời từ thời Tự Đức của nước ta và trải qua bốn cơn chấn động lớn là Nội chiến Hoa Kỳ, hay trận Thế chiến và vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933 mà lại sụp đổ vào tuần qua rất dễ gây ấn tượng kinh hoàng hơn thực tế.

Và việc ba trong năm ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ lại tiêu vong trong có sáu tháng là chuyện không thể coi nhẹ. Tuy nhiên, chúng ta cần vén tấm màn tài chính ở trên để nhìn vào nền kinh tế thực tế ở dưới thì mới thấy hết kích thước của vấn đề.

Việt Long: Xin hỏi ngay một câu, là dường như ông có phân biệt hai lãnh vực là phần sản xuất của kinh tế thực tế bên dưới và bức màn tài chính của các ngân hàng hay công ty đầu tư tài chính ở bên trên. Điều ấy có đúng không? Nếu như vậy, việc khủng hoảng tài chính làm các thị trường chứng khoán đều tuột giá có phải là hiệu ứng của lãnh vực tài chính xuống lãnh vực sản xuất không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Đó là câu hỏi mà các kinh tế gia thực ra chưa có giải đáp đích xác. Nôm na là chưa ai biết được hậu quả sẽ còn kéo dài bao lâu của cơn chấn động tài chính này. Nhưng cũng vì vậy mà mình cần nhìn lại toàn bộ vấn đề. Tôi xin lấy một thí dụ mà nhiều người còn có thể đã quên rồi.

Tháng Chín năm 2001, Hoa Kỳ bị một vụ khủng bố kinh hoàng chưa từng có trong lịch sử. Tai hoạ xảy ra khi kinh tế Mỹ lại đang bị hiệu ứng bể bóng đầu tư trong khu vực công nghệ tin học sau năm năm liên tục tăng giá cổ phiếu.

Đến cuối năm 2001 thì bùng nổ hàng loạt khủng hoảng về kế toán và quản trị khiến nhiều tập đoàn kinh doanh lớn của Mỹ bị phá sản, đó là vụ Enron, Worldcom hay Arthur Anderson, xảy ra khi Hoa Kỳ đã lâm chiến tại Afghanistan. Chúng ta nhớ rằng lúc ấy, các thị trường chứng khoán thế giới đều bị rúng động và ai ai cũng chờ đợi là kinh tế Hoa Kỳ bị khủng hoảng, suy thoái, chí ít thì cũng bị suy trầm, tức là sản lượng sút giảm liên tục trong nhiều quý.

Vậy mà thực tế lại khác. Hoa Kỳ có bị suy trầm nhẹ trong một giai đoạn ngắn và đã phục hồi từ đó, đến độ ngày nay mình còn phải nhắc lại thì thiên hạ mới nhớ đến những chấn động vào mùa Thu năm 2001.

Những tác động trước mắt

Việt Long: Chúng tôi hiểu cách ông đặt vấn đề vào một khung cảnh rộng lớn hơn. Nhưng, cơn chấn động năm 2001 hay những khủng hoảng tài chính liên tục từ tháng Tám năm ngoái cũng gây ra nhiều thiệt hại cho dân Mỹ chứ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tất nhiên là như vậy thưa ông. Năm xưa, nhiều nhà triệu phú trong vùng thung lũng điện tử tại miền Bắc California đã bỗng chốc trắng tay và đi kiếm việc làm như mọi kỹ sư bình thường. Nhiều tỷ phú đầu tư cũng thấy cổ phiếu của mình biến thành giấy lộn, và nhiều cơ sở bị phá sản. Nhưng, trên sự hoang tàn ấy lại xuất hiện nhiều doanh nghiệp mới và cơ hội đầu tư khác khiến kinh tế Mỹ lại phục hồi sau khi thị trường chứng khoán đã mất mấy trăm tỷ tiền lời trên giấy.

Cũng cần nói thêm cho rõ là do sự phục hồi và hồ hởi ấy mà thị trường gia cư đã tăng giá mạnh và thổi lên một trái bóng đầu tư khác cho tới khi bóng bể nên gây ra khủng hoảng tín dụng thứ cấp và một chuỗi biến động tín dụng và tài chính như ta đã thấy từ năm ngoái.

Trong khi ấy, và ngược với dự báo của đa số, kinh tế Mỹ có bị đình trệ nhưng chưa suy trầm như theo định nghĩa thông thường, và phải nói là vụ sụt giá chứng khoán hôm Thứ Hai 15 vừa qua vẫn còn thấp hơn trận sụt giá ngay sau vụ khủng bố 9-11 vào ngày 11 tháng Chín năm 2001.

Việt Long: Nếu hiểu không lầm chuỗi lý luận của ông thì sinh hoạt kinh tế có lúc thăng lúc trầm và một cơn khủng hoảng có thể đào thải các cơ sở kinh doanh bế bối hoặc bất lực nhưng lại nhường chỗ cho doanh nghiệp khác xuất hiện với nhiều cơ hội làm ăn mới? Phải chăng đó là khái niệm “sáng tạo sau hủy hoại” mà giới kinh tế thường nói tới?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ như vậy và cũng coi đó là một quy luật của sự tiến hoá, với hai điều kiện căn bản. Thứ nhất, phải có tự do sinh hoạt trong kinh tế để cơ sở kinh doanh năng động hơn có quyền xuất hiện, gia nhập thị trường, và thay thế các cơ sở bị đào thải.

Nếu e sợ sự đào thải của các cơ sở kinh doanh bê bối mà tìm cách bênh vực hay trợ giúp, Chính quyền đã không tôn trọng tự do của thị trường và còn khuyến khích tinh thần ỷ thế làm liều, mà lại khuyến khích bằng công sản, tài sản của quốc gia, cụ thể là tiền thuế của dân. Chính là tinh thần này mới khiến bộ Ngân khố và Ngân hàng Trung ương Mỹ quyết định là không cứu vãn ngân hàng Lehman Brothers nữa.

Việt Long: Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này nếu có thời giờ. Còn điều kiện thứ hai mà ông vừa nói đó, để quy luật đào thải và tái tạo này có thể vận hành thì người ta cần những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ rằng điều kiện thứ hai đó là thông tin thị trường. Một trong các nguyên do gây ra khủng hoảng tài chính tại Mỹ và lan rộng qua xứ khác là thị trường không thể biết đích xác về tình hình lời lỗ hay trị giá tài sản đầu tư của các doanh nghiệp này, thậm chí, các doanh nghiệp này cũng chẳng biết luôn.

Trong không khí hốt hoảng của thị trường, càng ít thông tin người ta càng dễ hốt hoảng và sự hốt hoảng mới gây ra khủng hoảng. Muốn có thông tin rõ ràng, tôi cho rằng Hoa Kỳ phải cải tổ luật lệ và chế độ giám sát để doanh nghiệp, giới đầu tư và thường dân được biết rõ tình hình thực tế mà cân nhắc rủi ro.

Nếu có được hai điều kiện ấy, tôi tin rằng sẽ có nhiều cơ sở khác xuất hiện để trám vào khoảng trống do Lehman Brothers để lại sau 158 năm hoạt động. Chúng ta cũng không nên quên rằng Merrill Lynch được thành lập từ năm 1914 và lớn mạnh nhờ đưa cổ phiếu đến tay các nhà đầu tư cò con, nghĩa là đại chúng hoá hệ thống tư bản.

Chức năng đó vẫn còn và sẽ do cơ sở khác đảm nhiệm, miễn là Chính quyền phải cải sửa lại luật lệ hay luật chơi kinh doanh để sự ung thối khó xảy ra như đã từng xảy ra vào lúc thịnh đạt. Sau những ồn ào trách móc trong đà tranh cử hiện nay tại Mỹ, Chính quyền và Quốc hội mới của Hoa Kỳ sẽ phải thực tế giải quyết việc cải tổ này. Kết quả có khi là sự thành hình của nhiều cơ sở mới, ở tiểu bang khác, chứ hết tập trung vào khu vực Wall Street của New York và đây là một kết quả tích cực nhất của vụ khủng hoảng!

Viễn tượng kinh tế Mỹ

Việt Long: Chúng ta hãy bước qua phần thứ hai, là nhìn vào hệ thống sản xuất kinh tế ở bên dưới, liệu kinh tế Hoa Kỳ có đủ vững để vượt qua những sóng gió trên hệ thống tài chính hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Nếu có thể trình bày một hình ảnh tổng hợp thì tôi xin nói như thế này. Lãnh vực tài chính của Mỹ có nhiều nhược điểm nguy ngập, nhưng hệ thống tài chính và ngân hàng của Hoa Kỳ thật ra vẫn còn vững, chứng cớ là ngân hàng JP Morgan đã lập tức mua lại Bear Sterns và ngân hàng Bank of America lập tức mua lại Merrill Lynch sau khi đã mua công ty CountryWide.

Tất nhiên là trong mấy tuần trước mắt, sự hốt hoảng của thị trường và những tranh luận hay cáo buộc của chính trường trong mùa bầu cử có thể còn tạo thêm khó khăn cho hệ thống tài chính ngân hàng nhưng vẫn không thể gây ra khủng hoảng kinh tế. Lý do là ở bên dưới, tình hình thật ra không đến nỗi tệ như vậy. Mà càng không tệ nếu mình so sánh với tình hình kinh tế của hai đầu máy kia là Nhật Bản và Âu Châu.

Việt Long: Trên diễn đàn này, ông thường hay cảnh báo khủng hoảng vậy mà lại có vẻ lạc quan về nền kinh tế Hoa Kỳ trong khi dư luận cứ nghe nói tới viễn ảnh đen tối tương tự như trận Tổng khủng hoảng năm 1929-1933. Ông có thể giải thích vì sao hay không?

Sự hốt hoảng của thị trường và những tranh luận hay cáo buộc của chính trường trong mùa bầu cử có thể còn tạo thêm khó khăn cho hệ thống tài chính ngân hàng nhưng vẫn không thể gây ra khủng hoảng kinh tế.

Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong mọi mùa bầu cử tại Mỹ, nếu có nghe nói đến tổng khủng hoảng, sụp đổ, hay suy thoái, suy trầm thì mình đừng ngạc nhiên! Nhưng, cũng vì yêu cầu thông tin trung thực mà chúng ta đang theo đuổi, mình nên nhìn sự việc một cách lạnh lùng và khách quan hơn.

Đà tăng trưởng thực tế của kinh tế Hoa Kỳ trong quý hai vừa qua vẫn là 3,3% sau khi giảm trừ ảnh hưởng của lạm phát. Và xuất khẩu tại Mỹ cũng đã tăng vọt. Dù sản xuất có thể bị đình trệ hơn mấy năm trước, nạn suy trầm mà nhiều người báo động thật ra chưa xảy ra.

Nạn thất nghiệp có tăng nhẹ, lên tới 6,1%, nhưng vẫn không vuợt qua mức bình quân của 10 năm về trước và còn rất thấp so với tỷ lệ thất nghiệp của Âu châu. Bội chi ngân sách cũng vậy, cứ được thông báo là lên tới số kỷ lục.

Nhưng với đà tăng trưởng kinh tế hàng năm thì năm nào ta cũng có kỷ lục tuyệt đối, chứ nếu so với Tổng sản lượng GDP thì vẫn ở mức độ có thể khắc phục được, và còn thấp hơn bình quân của Âu Châu.

Việt Long: Nhưng còn sự sa sút của thị trường gia cư và nạn nhà cửa bị tịch biên vì dân chúng không có tiền trả nợ, những vấn đề ấy không ảnh hưởng tới nền tảng kinh tế hay sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tất nhiên là có và sự sợ hãi về những tai họa ấy do truyền thông loan tải hàng ngày càng gây ra tác dụng cộng hưởng, là gây ra hốt hoảng. Nhưng, theo Hiệp hội Ngân hàng Địa ốc MBA thì tỷ lệ thiếu nợ chỉ là 6,4% tổng số dư nợ tín dụng gia cư và số nhà bị kéo vì thiếu nợ chỉ lên tới 2,75%.

Xét vào chi tiết thì loại nợ thứ cấp có nhiều rủi ro nhất chỉ chiếm 12% tổng số tín dụng gia cư và phân nửa số nhà bị tịch biên là thuộc loại nợ này. Nhìn trên một viễn ảnh dài thì từ vụ Tổng khủng hoảng 70 năm về trước, bình quân hàng năm có 94 ngân hàng Mỹ bị phá sản.

Số ngân hàng bị phá sản khiến cơ quan bảo đảm ký thác FDIC phải đứng ra trả nợ đậy cho trương chủ chỉ có 11 cái trong năm 2008 mà ta gọi là khủng hoảng. Năm 2007 có ba cái và không ngân hàng nào phá sản trong suốt hai năm 2005 và 2006.

Để kết luận, tôi trộm nghĩ rằng dân Mỹ có đặc tính tâm lý là lạc quan thái quá vì tin rằng Hoa Kỳ có định mệnh riêng, cái gì cũng làm được. Nhưng sau đó, cũng họ lại bi quan thái quá và dễ hốt hoảng khi thấy tin xấu dồn dập và chính sự hốt hoảng ấy mới gây ra tai họa cho kinh tế.

Thâm thủng mậu dịch của Hoa Kỳ tăng cao kỷ lục và số người thất nghiệp cũng cao

Con số thất nghiệp ở Mỹ cao nhất từ 5 năm qua, theo báo cáo của Bộ Lao Động

Unemployment rate(%) 2008 Country Ranks

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đi về đâu ?

Lao Động Điện tử Cập nhật: 8:12 AM, 17/09/2008
“Tháo chạy” khỏi Lehman Brothers, từng là biểu tượng quyền lực tài chính.
(LĐĐT) – LTS: TS Vũ Quang Việt (Cục Thống kê LHQ – New York) gửi đến Lao Động những phân tích về nguyên nhân và các diễn tiến  của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay tại Mỹ đồng thời chỉ rõ những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này đến kinh tế toàn cầu và những lưu ý đối với Việt Nam.

Sau khi cứu Bear Stearns, Fed đã phải dồn dập cứu Fannie Mae và Fredie Mac tuần trước, và hiện nay là Lehman, Merrill Lynch, hai công ty tài chính lớn số 4 và số 3 của Mỹ, và công ty AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ.

Số tiền bỏ ra để cứu nguy vượt hẳn số tiền bỏ ra cứu Bear Stearns. Tình hình nghiêm trọng đã đưa chỉ số chứng khoán vào hôm thứ hai 15.9 xuống hơn 500 điểm, giảm 4,4%.

Cho đến giờ, không ai có thể tiên đoán được cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ đi đến đâu, vì những tiên đoán trước đây cho rằng tình hình đã ổn định đều sai cả.

FED ra tay

Việc cứu Fannie Mae và Fredie Mac là cuộc cứu nạn thuộc loại lớn nhất của nhà nước Mỹ sau thế chiến thứ hai. Hai công ty tư nhân Fannie Mae và Fredie Mac, chủ yếu cho vay và bảo hiểm vay nhà đất, mà hiện nay số nợ của họ đã lên tới  trên 5.000 tỷ đô la,  lớn hơn một phần ba GDP của Mỹ, và bằng nửa tổng số nợ địa ốc của cả nước.

Hai công ty này nguyên là công ty nhà nước được lập ra để bảo hiểm các khoản nợ vay nhà của gia đình nghèo và trung lưu, nhưng sau này được các nhà chính trị nhằm mục đích kiếm phiếu đã cho phép mở rộng, rồi tư nhân hóa, nhưng vẫn được coi là có nhà nước đứng sau lưng trợ giúp.

Vì được hiểu ngầm là nhà nước bảo trợ nên hai công ty bành trướng mạnh vào thị trường các loại nợ “rác”, không cần bảo chứng đủ tin cậy, mục đích là làm lợi nhuận nhanh. Các nhà chính trị ủng hộ chúng được tiếng là giúp dân nghèo và trung lưu có nhà cửa, và cũng nhận được tiền ủng hộ ứng cử từ hai công ty trên.

Tín dụng thừa thãi, giá nhà lên cao, và bất chấp cảnh báo, Fed vẫn rất nhiều năm giữ lãi suất thấp để bảo vệ thị truờng chứng khoán, và do đó đẩy giá nhà cửa lên mức phi lý.  Khi giá nhà đất xuống, đến nay có đến trên 9% số nợ vay trên mất khả năng chi trả, hai công ty trên cũng bị đẩy tới mất khả năng chi trả.vì số nợ quá lớn nhà nước phải trực tiếp can thiệp.

Để cứu Fannie Mae và Fredie Mac, và có thể cần phải dùng ngân sách (tức là tiền thuế của dân) ở mức độ lớn, nhà nước phải truất quyền quản trị và quản lý của ban quản trị hiện nay và tuyên bố sẵn sàng bỏ ra 200 tỷ đô la trong việc cứu nạn.

Con số này có thể không đủ vì chỉ bằng 4% phần nợ của hai công ty trên (trong khi đó như đã nói, đã có 9% số nợ trên mất khả năng chi trả và tỷ lệ này vẫn còn tăng và nếu bán tháo để lấy lại tiền thì chưa chắc đã lấy lại được một nửa).

Đây là hình thức quốc hữu hóa dù thực chất chưa rõ ràng. Vì nếu rõ ràng là quốc hữu hóa, thì khi công ty mất khả năng chi trả, giá trị công ty đã âm (vì nợ lớn hơn tài sản có), giá trị cổ phiếu là con số 0 tròn chĩnh, nhà nước có thể lấy quyền sở hữu, đuổi ban giám đốc cũ, thay bằng ban giám đốc mới, và có thể trong tương lai sẽ tư hữu hóa trở lại bằng cách bán cổ phần ra thị trường.

Làm như thế, các cổ phiếu ưu tiên mà Trung Quốc và Ngân hàng và công ty tài chính của các nước khác mua sẽ bị mất sạch và sẽ gây ảnh hưởng lâu dài.

Dường như chính phủ Mỹ vẫn muốn bảo đảm các cổ phiếu ưu tiên này vì kinh tế Mỹ đang phải dựa vào luồng vốn từ nước ngoài đổ vào, từ năm 2004 đã vượt 500 tỷ và hiện nay vào khoảng 800 tỷ; như vậy chỉ có các cổ phiếu thường là mất sạch giá trị. Sắp tới, hình thức quốc hữu hóa như thế nào sẽ tùy thuộc Chính phủ sau Bush quyết định.

Các nạn nhân mới

Thông tin liên quan
>> Hậu vụ Lehman Brothers “sập”: Nguy cơ khủng hoảng hệ thống ngân hàng toàn cầu
>> Chứng khoán Châu Á lao dốc
>> Ngày 15-16.9: Giá dầu xuống gần 91 USD/thùng
>> Thị trường toàn cầu bị chấn động
>> Phố Wall đứng sát mép vực
>> Khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tồi tệ hơn

Một tuần sau khi cứu Fannie Mae và Fredie Mac, ngày thứ hai 15.9.2008,  Fed lại đành phải để cho Lehman phá sản. Fed cũng buộc phải đồng ý cho phép công ty chứng khoán và đầu tư tài chính Merrill Lynch, có khoản nợ 900 tỷ, sau khi tuyên bố lỗ 40 tỷ đô la, tự cứu bằng cách để cho nhà băng Bank of America mua với giá rẻ một nửa. Còn AIG, một công ty bảo hiểm lớn nhất Mỹ, cũng đang tìm nguồn tài chính tự cứu mình vì những hành động phiêu lưu buôn bán tài chính.

Chiều thứ hai cùng ngày, chính phủ Bang New York nơi công ty AIG đặt đại bản doanh đã cho phép nó mượn 20 tỷ từ các công ty con (bảo hiểm ở tiểu bang) để giúp vốn cho hoạt động đầu tư vào chứng khoán rác, còn Fed thì đề nghị hai công ty tài chính lớn là JPMorgan và Golden Sách bỏ ra 70 tỷ cho AIG vay ngắn hạn. Chưa biết họ có đồng ý không.

Không ai có thể tiên đoán được là tình hình sẽ đi đến đâu vì những tiên đoán trước đây cho rằng tình hình đã ổn định đều sai cả. Lehman vào đầu tháng 7 có số nợ là 600 tỷ và tất nhiên là số chứng khoán tương đương là 600 tỷ, đã phải chịu bán lỗ, thu về 30 tỷ (với giá 20 xu đối với mỗi đồng đô la ghi trên chứng khoán), tưởng như có đủ tiền để giải quyết vấn đề nhưng thực sự không đủ và đến hôm nay thì phá sản.

Nguyên nhân bắt nguồn từ đâu?

Bất ổn tài chính bắt nguồn từ những “phát minh” về tài chính trong thời gian qua, qua đó thế đứng của ngân hàng đã dần dần bị các công ty kinh doanh tài chính đánh đổ dần, trong lúc  Fed chỉ được giao nhiệm vụ kiểm sát hệ thống ngân hàng.

Fed đã cứu công ty tài chính Bear Stearns. Dù không thuộc nhiệm vụ của họ, Fed đã vào cuộc với hy vọng là chận đứng được tình hình hoảng loạn tài chính, nhưng thật ra họ đã lầm.

Tình hình khủng hoảng tiếp tục mở rộng và Fed không thể đứng ra cứu tiếp, vì đây không phải là nhiệm vụ của Fed, và về mặt chính trị cũng như khả năng vốn, Fed không thể tiếp tục cứu.

Các công ty tư nhân này đã đòi quyền tự do kinh doanh tài chính làm giầu, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của Fed, thì Fed không thể lấy thuế của dân để cứu chúng. Bơm tiền cứu sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát, hiện nay nếu tính theo 12 tháng chấm dứt vào tháng 7 vừa qua thì lạm phát đã là 5,6%, nhưng nếu tính dựa vào 3 tháng qua thì lạm phát đã ở mức rất cao là 10,6% một năm và đang tăng, và không kể thực phẩm và năng lượng thì mức lạm phát tương đương là 2,5% và 3,5%.

Các chuyên gia đều đánh giá rằng lạm phát sẽ tăng trong năm tới. Và như thế khả năng tăng lãi suất cho vay trên thế giới để kiềm chế lạm phát cũng là điều khó tránh. Đây là điều Fed sẽ phải nhức đầu: Tăng tín dụng để cứu nguy các đại gia hay kiềm chế lạm phát?

Phát minh tài chính vừa qua là gì?

Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho người có tiền (các công ty đầu tư tài chính chấp nhận rủi ro cao, quĩ bảo hiểm, qũi hưu trí và dân chúng), qua đó họ lại ăn thêm hoa hồng. Tiền bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà.  Mọi rủi ro về nợ sau khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán, chứ không phải công ty tài chính. Cái mới là ở chỗ đó: ăn nhiều tiền nhưng mọi rủi ro thì đẩy cho người khác.

Biểu đồ mô tả doanh thu của Lehman Brothers trong 6 tháng qua. Theo AP.
Biểu đồ mô tả doanh thu và lợi tức của Lehman Brothers trong 6 tháng qua. Theo AP.

Thường thì lãi suất mua nhà là 7%, nhưng vì tình hình vừa qua, chỉ vì muốn tăng lợi nhuận và hoa hồng, các công ty tài chính chẳng cần điều kiện bảo chứng, có thể cho vay tới 100% giá mua nhà với lãi suất 9%. Nếu so với lãi tiền để dành khoảng 2% thì lãi suất trên quả là lớn, lại thêm các khoản dịch vụ phí cho vay đáng kể khác. Và khi người mượn mất khả năng chi trả, thì tất nhiên trong toàn hệ thống số tiền lãi thu được không đủ để chi cho tiền mất vốn này.

Với cách làm trên, các công ty tài chính hy vọng thay thế ngân hàng, bỏ qua sự kiểm soát của Fed, tha hồ mở rộng hoạt động làm giầu, bất chấp các định chế tài chính cần thiết mà Fed áp dụng cho ngân hàng.

Trước cuộc đại khủng hoảng năm 1933, các ngân hàng ở Mỹ cũng không chịu sự kiểm soát nào. Nhưng sau này, Fed, một loại ngân hàng trung ương (NHTU), ra đời đã thiết lập các định chế về cho vay, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền ký gửi, và qua đó kiểm tra chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm khả năng chi trả của chúng và tất nhiên nếu cần NHTU sẽ đứng ra giải quyết.

Vai trò của Ngân hàng Trung ương rất quan trọng bởi vì nếu một ngân hàng thương mại phá sản, tâm lý bày đàn có thể đẩy mọi người có tiền ký gửi rút tiền, đưa đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống, nếu không được Ngân hàng Trung ương can thiệp.

Về nguyên tắc, cách làm của công ty tài chính cũng không khác gì ngân hàng, tức là làm trung gian giữa người có vốn và người muốn mua nhà, nhưng quá trình thì ngược, nói chung họ phải là vay nóng, ngắn hạn cho vay mua nhà rồi chia nhỏ thành chứng khoán, bán ra thu hồi vốn để trả lại nợ ngắn hạn.  Đáng lẽ người mua chứng khoán phải chịu mọi thiệt thòi, nhưng trớ trêu thay, các công ty tài chính đã không thể bán đi hết các khoản nợ để đổ toàn bộ rủi ro cho người khác.

Tình hình đang đi về đâu?

Khó lòng biết tình hình đi về đâu. Nhưng rõ ràng là có một số vấn đề sẽ tiếp tục xảy ra trong nền kinh tế Mỹ:
• Giá nhà sẽ tiếp tục xuống. Cho đến nay giá nhà ở một số nơi như thành phố New York gần như chưa bị ảnh hưởng. Nhưng với số người trong khu vự tài chính mất việc làm, khả năng xuống giá ở New York là rất cao.

• Lạm phát trong tương lai sẽ tăng cao dù giá xăng dầu xuống vì mức tín dụng được Fed đẩy mạnh để cứu nguy các công ty tài chính và để nền kinh tế không đi vào suy thoái. Điều có thể xảy ra là nền kinh tế suy thoái hoặc phát triển chậm nhưng lạm phát vẫn cao.

• Suy thoái ngày càng mang tính toàn cầu. Thị trường chung Châu Âu (quí hai là 0,1%) và Nhật (quí hai là -0,7%) đã đi vào suy thoái, còn Mỹ thì quí hai bất ngờ tăng 3,3% vì tăng được xuất khẩu, giảm nhập khẩu và tăng chi tiêu quốc phòng. Nhưng điều này sẽ không tiếp tục vì đồng Mỹ đang lên giá trở lại và dấu hiệu chi tiêu của dân chúng sẽ giảm mạnh, nhất là vào tháng 8, số thất nghiệp tăng lên 6,1% và thêm 84 ngàn người mất việc.

• Có thể khủng hoảng tài chính sẽ không xảy ra ở châu Á và châu Âu nói chung, nhưng mất mát tài chính do đầu tư tài chính sang Mỹ sẽ rất lớn, làm ảnh hưởng đến đầu tư nói chung trên thế giới.

Nói chung lạm phát trên thế giới vẫn có khuynh hướng tăng, dù giá dầu tăng hay giảm, vì tình hình tăng tín dụng nói chung.

Lãi suất do đó cũng sẽ phải tăng để chống lại lạm phát. Việc thực hiện các hứa hẹn đầu tư rất ấn tượng vào Việt Nam, do các nước muốn chớp thời cơ tranh chỗ sau khi Việt Nam vào WTO, phần lớn là từ các nước Đông hoặc Đông Nam Á như Đài Loan, Mã Lai, Thái Lan, Singapore, Brunei, …cũng có khả năng khó thực hiện trừ các đầu tư vào lãnh vực dầu hỏa vì không có khả năng tìm ra nguồn vốn tài trợ.

Mọi suy nghĩ ở Việt Nam cần phải tập trung vào bảo đảm ổn định, chấm dứt từ từ lạm phát, chứ không thể tiếp tục theo đuổi con đường tăng GDP một cách ấn tượng với các đầu tư phí phạm, trong khi đa số dân chúng có lương không đủ sống. Việc tăng lương ở khu vực công không phải là không thể nhưng phải được tính toán kỹ lưỡng để không tạo ra lạm phát, như vậy là phải đánh đổi với việc giảm thêm đầu tư của nhà nước.

Vũ Quang Việt
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: