Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Chỉ tiêu tăng trưởng.

Posted by BEAR on Tháng Chín 20, 2008

‘Việt Nam duy trì tăng trưởng ở mức 6% là tốt rồi’

Việt Nam vẫn sẽ hút nhiều vốn ngay cả khi các nền kinh tế lớn chịu bão tài chính, song việc cần làm là kiểm soát rủi ro. Trao đổi với báo giới, cựu tổng giám đốc WTO Supachai Panitchpakdi cho rằng, mức tăng trưởng 6% là phù hợp trong bối cảnh hiện nay.
> ADB khuyên VN chấp nhận tăng trưởng chậm lại

– Dự báo năm nay GDP của Việt Nam tăng 6,5-7%. Ông nghĩ sao nếu đặt mục tiêu tăng trưởng tương đương cho năm 2009?

Ông Supachai Panitchpakdi.
Ảnh: PV

– Tôi nghĩ việc hạ mục tiêu tăng trưởng sẽ không tác động nhiều đến thành quả mà Việt Nam đã đạt được, vì tình hình suy giảm đang xảy ra toàn cầu. Mỹ cũng đã phải hạ tăng trưởng. Trong năm 2008, họ dự báo tăng 1%, nhưng sau biến động những ngày qua, theo tôi có thể xuống còn 0,8%.

Việt Nam duy trì tăng trưởng ở mức 6% là tốt rồi, và cũng không nên có cảm giác thua thiệt, vì đây là tình hình chung tại các nền kinh tế. Điều cần thiết hiện nay là củng cố các yếu tố cơ bản đối với nền kinh tế như khắc phục thâm hụt tài khoản vãng lai, bình ổn tỷ giá. Làm được những việc này thì mới duy trì tăng trưởng bền vững.

– Trong trường hợp khủng hoảng tài chính Mỹ lan rộng hơn, Việt Nam cần thay đổi như thế nào để thích nghi với việc nguồn vốn có thể bị thu hẹp?

– Chính sách kiểm soát lạm phát của Chính phủ Việt Nam hiện nay đi đúng hướng. Trong thời gian gần đây, giá dầu thô đang giảm, cho thấy chính sách giảm lạm phát của các chính phủ, trong đó có Việt Nam, đã có tác dụng.

Mặt khác, tôi cho rằng không phải lo ngại về nguồn vốn vì danh mục đầu tư của Việt Nam hiện rất phong phú. Tôi không nghĩ Việt Nam thiếu vốn hay thiếu các dự án đầu tư, mà điều đáng lo là làm thế nào hài hoà các dự án này trong tổng thể nền kinh tế.

TS. Supachai Panitchpakdi, quốc tịch Thái Lan, hiện là Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Ông là Tổng giám đốc WTO trong các năm 2002-2005, là người tiền nhiệm của ông Pascal Lamy.

Ông Supachai từng là Phó thủ tướng Thái Lan trong những năm xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ cuối những năm 1990 và tham gia giải quyết khủng hoảng.

Tôi quan sát thấy các địa phương cấp phép không theo quy hoạch tổng thể, mà cấp phép một cách tràn lan. Vốn đưa vào là được cấp phép, mà không có chiến lược phân bổ, hấp thụ ra sao. Đó là một điều rất nguy hiểm.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Mỹ là thị trường nhà đất phát triển bong bóng. Tôi cho rằng chính phủ Việt Nam cũng muốn tránh cuộc khủng hoảng bong bóng trên thị trường nhà đất. Vì thế, tốt nhất là kiểm soát nguồn vốn vay với các dự án địa ốc và tính thanh khoản của các bên đi vay.

Biến động tài chính Mỹ tác động VN

Thị trường lại có dấu hiệu thừa tiền!

Có tín hiệu dư thừa USD khiến từ đầu tháng 9, ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.495 đồng lên 16.513 đồng/USD, tiến hành mua USD nhằm giảm bớt nguồn cung USD dư thừa trên thị trường, giúp đưa tỷ giá VND/USD tăng lại.

Lại dư thừa USD

Chính nhờ hai hỗ trợ này mà tỷ giá USD tăng nhẹ gần đây. Tuy nhiên, USD vẫn còn “ứ đọng” nhiều, bởi các ngân hàng vẫn chưa sử dụng hết biên độ dao động tỷ giá cộng (trừ) 2%, và vẫn thủng thỉnh mua vào với giá mua thấp hơn trần biên độ nhiều.

Theo ông, có ba lý do khiến tỷ giá tăng. Thứ nhất, lượng USD dương của nhu cầu thanh toán do Nhà nước hạn chế nhập khẩu, ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu. Thứ hai, nhập khẩu bị hạn chế nên một lượng USD “ứ” lại ở nhiều ngân hàng. Cuối cùng là lâu nay tỷ giá không biến động nhiều khiến không ít người dân không còn muốn nắm giữ mà đẩy bán khiến cung USD tăng cao.

Theo ông Nguyễn Phước Thanh, tình hình tỷ giá tăng hay giảm còn phụ thuộc vào sự bình ổn thị trường của ngân hàng Nhà nước.

Nhà nước với quyết tâm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu nhằm kiềm chế lạm phát; cùng với nguồn dự trữ ngoại hối 20,7 tỉ USD (tính đến tháng 6/2008) ở ngân hàng Nhà nước, tỷ giá VND/USD được các chuyên gia cho là sẽ không biến động nhiều

Ông có lời khuyên gì cho Việt Nam từ kinh nghiệm các cuộc khủng hoảng trong khu vực?

– Một trong những vấn đề của khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay là thế giới làm thế nào để cải tổ một cách toàn diện các thể chế tài chính toàn cầu. Các tổ chức tài chính ở châu Á cũng cần phối hợp.

Cách đây 10 năm, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan được cho là do tình trạng thân quen móc ngoặc gây ra. Nhưng tôi cho đây là cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu, có tính hệ thống, vì Thái Lan thả nổi tỷ giá và để thâm hụt tài khoản vãng lai vượt quá mức cho phép.

Vì thế, cần rút ra bài học từ những cuộc khủng hoảng. Việc cải tổ hệ thống tài chính, thuế không cản trở việc chống lạm phát, mà nó giúp duy trì ổn định, tăng giám sát và minh bạch cho các tổ chức tài chính.

– Với tình hình lạm phát chững lại trong thời gian gần đây, nhiều người cho rằng Việt Nam đã có thể hạ lãi suất cơ bản. Ông nghĩ sao?

– Việc hạ lãi suất cơ bản là không tránh khỏi trong tương lai. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng tôi hy vọng việc này sẽ không bị làm thái quá, vì hiện tượng giảm cầu bắt đầu xuất hiện trên thị trường thế giới và trong nước.

Việc thực hiện chính sách tiền tệ phải thực hiện song song với chính sách tài khoá, tăng thu nhập cho người dân, vì lạm phát hiện nay là lạm phát về giá và lương.

– Trong thời điểm này, Chính phủ nên làm gì để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân?

– Như tôi đã nói, không nên thực hiện thái quá chính sách thắt chặt tiền tệ, vì nó sẽ giết chết các sáng kiến của khu vực kinh tế tư nhân. Việc thực hiện chính sách tài khoá kèm theo cũng phải làm sao thúc đẩy được kinh tế tư nhân.

Có thể cắt giảm một số hạng mục thuế để hỗ trợ họ. Đồng thời, khu vực tư nhân có trách nhiệm đa dạng hoá hình thức kinh doanh cũng như cơ cấu hàng xuất khẩu của mình.

Một điều nữa là Chính phủ không được để lương tăng theo giá, vì nếu điều này xảy ra thì việc tăng giá và lương diễn ra liên tục. Chúng ta phải gắn chính sách lương của các doanh nghiệp với tăng năng suất, cũng như kiểm soát lạm phát. Chính phủ chỉ nên có vai trò điều tiết.

VN tìm cách ngăn chận làn sóng phá sản doanh nghiệp

Sau nửa năm áp dụng các biện pháp chống lạm phát, nay chính phủ Việt Nam đang đề cập tới chủ trương duy trì thắt chặt tiền tệ nhưng linh hoạt uyển chuyển.

Ngày 15-9, Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam loan báo dành riêng nguồn vốn 33.000 tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ từ nay tới 2010.

Nếu xem đây là một sự tiếp cứu, thì liệu chương trình này có kịp thời ngăn chặn làn sóng doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản hay không.

Doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn vay với lãi suất 21% sẽ phải làm ra lợi nhuận như thế nào mới có khả năng tồn tạI?

Dựa vào các thông tin chính thức, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng năm 2007 là 56% thì qua năm 2008, con số này chỉ còn 30% tức là giảm gần một nửa.

Thế nhưng kể từ đầu năm tới nay có thể đã có khoảng 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đương 70 ngàn doanh nghiệp đã biến mất hoặc ngừng hoạt động, 60% doanh nghiệp gặp khó khăn giảm sản xuất sa thải công nhân hoặc hoạt động cầm chừng và chỉ có 20% tức 70 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động tốt, đủ sức đương đầu với lạm phát và biện pháp thắt chặt tín dụng.

Thị trường điện máy: Lo lắng trước giờ G

Chỉ còn hơn 3 tháng nữa là thị trường bán lẻ Việt Nam mở cửa ra thế giới. Nhiều doanh nghiệp (DN) bán lẻ điện máy trong nước đang lo lắng sẽ khó tồn tại khi những “người khổng lồ” nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam.

Khi đại gia ngoại vào cuộc

Theo cam kết gia nhập WTO, từ 1/1/2009, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ mở cửa, khi đó các DN bán lẻ nước ngoài sẽ được phép đầu tư thành lập các kênh phân phối, siêu thị 100% vốn nước ngoài. Và nhiều tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới đang chuẩn bị cho kế hoạch thâm nhập thị trường.

Các DN bán lẻ lớn của Việt Nam tuy gọi là lớn nhưng vẫn thua xa các tập đoàn nước ngoài về mọi mặt, vì vậy nếu không có kế hoạch và chiến lược phát triển chắc chắn sẽ bị “thôn tính” trong tương lai không xa, còn theo dự báo sẽ chỉ khoảng 20% các cửa hàng điện máy nhỏ lẻ tồn tại được và cũng chỉ tồn tại chủ yếu ở các vùng xa xôi.

Xem thêm:

03/06/2008 Quốc hội nhất trí hạ chỉ tiêu tăng trưởng xuống 7%

03/01/2008 Chỉ tiêu tăng trưởng 2008

Năm 2008 đòi hỏi phải có bước ngoặt trong cải cách nền hành chính để đạt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 8,5 – 9%.

Năm 2008 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm, năm nước ta có nhiều kinh nghiệm sau một năm gia nhập WTO, cũng là năm chính thức là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, chưa bao giờ vị thế của VN trên trường quốc tế được đề cao như hiện nay. Năm 2008 cũng là năm Chính phủ có nhiệm kỳ mới trẻ trung, năng động, theo đó thu hút đầu tư sẽ tăng mạnh.

Trong bối cảnh đầy hào khí ấy, Chính phủ đặt chỉ tiêu tăng trưởng GDP 8,5-9%.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: