Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Ảnh hưởng của việc Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch 700 tỷ đôla

Posted by BEAR on Tháng Mười 1, 2008

2008-10-01

Vàng xuống dưới 18 triệu đồng/lượng, dầu nóng trở lại

Giá vàng đã nhanh chóng giảm mạnh trở lại do đồng USD bất ngờ tăng giá trong bối cảnh các nhà đầu tư hy vọng kế hoạch giải cứu thị trường tài chính 700 tỷ USD của Mỹ sẽ được thông qua. Trong nước, giá vàng giảm 230.000 đồng/lượng. Trong khi đó, giá dầu thô, vọt lên trên 101 USD/thùng.

Sức cầu vàng đã giảm khá mạnh sau khi các thượng nghị sĩ ở cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà tại Thượng viện đồng ý sẽ biểu quyết thông qua gói giải pháp của Bộ Trưởng tài chính Paulson trong phiên họp 1/10 (tối nay giờ Việt Nam) nhằm cứu thị trường tài chính Mỹ đang lâm vào tình cảnh khó khăn nhất trong gần 80 năm qua.

Bên cạnh đó, cuộc họp lại của Hạ nghị viện vào cuối tuần nhiều khả năng cũng sẽ thông qua bản kế hoạch này sau khi thị trường chứng khoán Mỹ đã có phản ứng rất mạnh với quyết định không thông qua hôm 29/9.

Giờ phút quan trọng đã đến cho kế hoạch cứu nguy 700 tỷ: Hai bên đã đồng thuận kế hoạch chung cuộc và quốc hội sẽ bỏ phiếu thông qua vào ngày thứ hai

Mỹ: Chứng khoán tăng giá, Quốc Hội tiếp tục thảo luận kế hoạch cứu nguy

2008-09-30

Cảnh báo về việc trì hoãn cứu trợ

Thị trường chứng khoán châu Âu dao động

Chứng khoán Á châu giảm mạnh

Cuộc trao đổi với Thanh Quang, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trụ sở tại tiểu bang California

Thanh Quang, phóng viên RFA
2008-09-30

Hạ Viện Hoa Kỳ vừa bác bỏ kế họach cứu nguy hệ thống tài chánh Mỹ trước khi dự luật này đến Thượng Viện. Điều mà mọi người đều lo lắng là diễn biến đó sẽ ảnh hưởng ra sao tới nền kinh tế Hoa Kỳ, và cả thế giới?

Qua cuộc trao đổi với Thanh Quang, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trụ sở tại tiểu bang California, Hoa Kỳ, trước hết nhận xét về ảnh hưởng của diễn biến này đối với thị trường tín dụng và tài chính đang rất khó khăn của Hoa Kỳ:

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thị trường tài chánh và ngân hàng ở Mỹ đang chết ngộp vì thiếu tiền và sẽ làm cho kinh tế bị kẹt, bị nạn ách tắc tín dụng tức là không có tiền cho vay, đi cùng với làn sóng nợ xấu tăng lên mỗi ngày. Kết quả là ngân hàng hết dám cho vay khiến doanh nghiệp không thể vay tiền kinh doanh.

Thành ra khủng hoàng tài chánh bên trên đang thấm xuống nền kinh tế thật ở bên dưới, có thể dẫn tới suy trầm, thậm chí suy thoái kinh tế trong những tháng tới.
“Bác bỏ việc chi ra 700 tỷ đô-la để mua lại nợ xấu hầu có thể khai thông ách tắc tín dụng như vừa nói, thì thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã mất toi một ngàn tỷ đô-la nội trong ngày thứ Hai.
Nguyễn Xuân Nghĩa

Cơn ác mộng của thị trường chứng khoán

Thanh Quang: Thưa ông, thị trường chứng khoán ở Hoa Kỳ đã bị ảnh hưởng nặng, mất điểm nhiều nhất từ xưa đến nay. Ông cho biết nhận xét về lãnh vực này ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Trong khi Hạ Viện Mỹ tranh luận và cuối cùng bác bỏ việc chi ra 700 tỷ đô-la để mua lại nợ xấu hầu có thể khai thông ách tắc tín dụng như vừa nói, thì thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã mất toi một ngàn tỷ đô-la nội trong ngày thứ Hai. Có nghĩa là người ta bị nghèo đi và tiêu thụ ít hơn. Doanh nghiệp cũng vậy, có thể sẽ sản xuất chậm hơn. Việc tranh luận trên thị trường tài chánh gây ra một tai họa vô cùng lớn trong sinh hoạt kinh tế của các doanh nghiệp.

Thanh Quang: Thưa ông, một trong những quan ngại hàng đầu hiện giờ là diễn biến vừa nói tại Hạ Viện có thể làm cho khó khăn trong hệ thống tài chánh Mỹ hiện giờ lan sang cả nền kinh tế Hoa Kỳ. Ông nhận xét như thế nào về nguy cơ này ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Hậu quả của nó gây ra sự mất niềm tin của dận chúng, mất niềm tin của giới sản xuất lẫn giới tiêu thụ. Yếu tố tâm lý này rất quan trọng. Rồi khi Hạ Viện Mỹ bác bỏ kế họach cứu nguy tài chánh này, nó phản ảnh tình trạng ít ai ngờ, đó là lãnh đạo Mỹ không chủ động giải quyết được những vấn đề lớn của xã hội trong lúc này mà lãnh đạo này gồm từ hành pháp sang lập pháp và cả 2 đảng Dân chủ và Cộng Hoà đều không bảo được nhau để khai thông một bế tắc cấp bách.
“Hậu quả của nó gây ra sự mất niềm tin của dận chúng, mất niềm tin của giới sản xuất lẫn giới tiêu thụ. Yếu tố tâm lý này rất quan trọng
Nguyễn Xuân Nghĩa

Vấn đề thứ hai nữa là trong hệ thống tài chánh Mỹ hiện giờ có một bên là các ngân hàng đầu tư cùng các tổ hợp đầu tư tài chính đang bị rung chuyển.

Trong 5 ngân hàng đầu tư lớn nhất thì 3 ngân hàng đã bị phá sản. Và một bên là các ngân hàng thương mại theo quy chế về kinh doanh và quản trị khác, và được Ngân hàng Trung ương kiểm soát kỹ lưỡng hơn.

Họ không có lấy những rủi ro đến mức độ bất cẩn, thậm chí bất lương, như hệ thống ngân hàng đầu tư vừa mới sụp đổ. Vì vậy khi các ngân hàng đầu tư sụp đổ thì chính các ngân hàng thương mại này bỏ tiền ra cấp cứu.

Thành ra trong hệ thống ngân hàng Mỹ thì chỉ có ngân hàng đầu tư bị ung thối chứ ngân hàng thương mại vẫn còn vững có có thể giúp cấp cứu tình trạng hiện giờ.

Tuy nhiên, sự mất niềm tin của dân chúng và sự ách tắc tín dụng gây ra khủng hoàng chung, khiến người ta có cảm quan là hệ thống tín dụng bị kẹt. Điều đó gây bất lợi cho các ngân hàng thương mại, dù là trong thực tế tình hình tài chánh của ngân hàng thương mại vững hơn nhiều lắm.

Thanh Quang: Thưa ông, ông thấy kế họach cứu nguy tài chánh trị giá 700 tỷ đô-la của chính phủ Hoa kỳ này có còn triển vọng gì không tại Quốc Hội Mỹ, nói chung ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng việc đầu tiên là người ta sẽ không dám nói tới con số 700 tỷ đô-la đó nữa. Vì sai lầm căn bản nhất và ngay từ đầu, là làm cho người dân Mỹ tưởng chính quyền lấy 700 tỷ đô-la tiền thuế của dân để đi chuộc nợ cho các ngân hàng đầu tư hay các cơ sở bất cẩn và bất lương ở Wall Street. Sự thật không phải như vậy, mà nó rắc rối hơn và không đến nỗi bi quan như thế.

Nhưng giới lãnh đạo từ hành pháp qua bên Quốc Hội của cả 2 đảng không giải thích cho rõ khiến dân chúng không thể chấp nhận được tình trạng này.

Và sau vụ thất bại ở Hạ Viện vừa rồi thì cả 2 đảng ở 2 viện Quốc Hội Mỹ đang cố gắng suy nghĩ lại, và có thể đưa ra được một kế họach cấp cứu khác về căn bản không có nhiều sai biệt, nhưng về nhận thức, tâm lý có thể làm cho dân chúng an tâm hơn.

Và người ta hy vọng đến thứ Năm tuần này sẽ có dự án khác được đưa ra. Nhưng đến giờ này người ta vẫn chưa biết sự việc sẽ ra sao.
“Quốc gia kế tiếp bị khủng hoàng lớn, cả hệ thống thị trường gia cư và hệ thống ngân hàng của họ có thể sụp đổ, chính là Trung Quốc.
Ngân hàng Societé General

Tác động đến thế giới và Việt Nam?

Thanh Quang: Diễn biến vừa nói ở Hạ Viện Mỹ gây ảnh hưởng tới các nền kinh tế, tài chánh trên thế giới, nhất là ở VN, ra sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng nó gây ra một nguy cơ trước mắt. Kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm, tức sản xuất sẽ sút giảm trong 2 quý liền, họăc là suy thoái, tức sản xuất không gia tăng mà còn sụt nữa, thì hậu quả đầu tiên là, vì Hoa Kỳ là thị trường lớn trên thế giới và ảnh hưởng 60% đà tăng trưởng của các nền kinh tế khác trên thế giới, trong khi tại Hoa Kỳ mức tiêu thụ đáng giá chừng 2/3, thậm chí tới 70 % tổng sản lượng nước Mỹ, do đó, nước Mỹ bị suy yếu sẽ xảy ra hiện tượng mà người ta sợ từ lâu là nạn suy trầm toàn cầu. Huống hồ là hiện tại nhiều quốc gia đã bị suy trầm rồi, tức đà tăng trưởng có giảm kèm theo nạn lạm phát.

Còn đối với VN thì tôi nghĩ tốc độ tăng trưởng sẽ sút giảm nặng, không đạt được 6%, trong khi nạn lạm phát tiếp tục đe dọa kinh tế VN và cả nhiều nền kinh tế khác ở Đông Á nữa.

Thanh Quang: Thế còn Trung Quốc thì sao, thưa ông ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trung Quốc có dự trữ ngọai tệ là 1.800 tỷ đô-la thì hơn một ngàn tỷ đô la này đã đầu tư vào thị trường Mỹ, gồm khoàng 540 tỷ đô-la công khố phiếu và hơn 400 tỷ đô-la vào các lọai trái phiếu hay cổ phiếu tại Mỹ. Thành ra nếu Hoa Kỳ sa sút thì TQ sẽ bị nặng về mặt dự trữ ngọai tệ của họ. Thứ hai là kinh tế Hoa Kỳ sa sút thì kinh tế TQ có thể bị khủng hoàng.

Hôm 22 vừa rồi, chiến lược gia đầu tư của ngân hàng Societé General của Pháp đã thông báo rằng là nếu kinh tế Hoa Kỳ bị rắc rối như chúng ta đang thấy thì quốc gia kế tiếp bị khủng hoàng lớn, cả hệ thống thị trường gia cư và hệ thống ngân hàng của họ có thể sụp đổ, chính là Trung Quốc.

Khi Thị Trường Wall Street Bắt Đầu Rối Loạn

Mai Loan

(LÊN MẠNG Thứ ba 30, Tháng Chín 2008)

(VNN)

Hoa Kỳ thường bị thế giới chê là hay có thói đạo đức giả, và thích “lên lớp”, dạy đời người khác, về những giá trị của một xã hội văn minh, tôn trọng tự do dân chủ. Thoạt nhìn, thì điều này cũng đúng. Người dân ở Mỹ vẫn có thói quen đáng khen là biết tuân thủ theo luật lệ công bằng, cho dù có hay không anh cảnh sát hiện diện để giữ trật tự. Ở Mỹ, ít thấy cảnh giành giật, chen lấn mà thông thường là những màn nối đuôi, đứng xếp hàng dài có trật tự, cho dù là để chờ được vào tiệm mua hàng “sale”, hoặc để vào các buổi trình diễn văn nghệ hay thể thao.

Thế nhưng, đó là cảnh của một xã hội thanh bình, thịnh trị, khi người dân được đầy đủ no ấm, và do đó không cảm thấy cần phải giành giật, chen lấn để đạt cho được thứ mình đang cần thiết. Nhưng khi bị đẩy vào cơn nguy khốn, lâm vào ngõ bí, hay cạn kiệt về tài nguyên để thoả mãn cho nhu cầu sinh tồn, lúc mà bản năng tự tồn trỗi dậy, người dân Mỹ cũng có những phản ứng chen lấn, giành giật để mong thủ đắc cho bằng được những thứ cần thiết mà hiếm hoi.

Vụ bão Katrina vào năm 2005 là một thí dụ điển hình. Khi hàng trăm ngàn người phải chạy sơ tán để tránh cơn lũ lụt tàn phá kinh hoàng này khiến cho tài sản của họ cũng bị trôi theo giòng nước, một số lớn đã chạy sang tá túc tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, trong cảnh xơ xác, thiếu ăn thiếu mặc và tương lai thì mịt mờ vô định, nhất là với thành phần trung lưu hay bình dân. Thế nên khi nghe tin là cơ quan FEMA, một tổng nha cứu trợ thiên tai của chính quyền liên bang, sẽ cấp phát cho mỗi người một tấm phiếu có trị giá đến 2000 Mỹ-kim để các nạn nhân di tản có thể tiêu xài khẩn cấp trong thời gian đầu, mọi người đã ùn ùn chen lấn và giành giật để được lọt vào trong khu Convention Center hầu mong lấy được phiếu, bất chấp sự có mặt của nhân viên giữ an ninh hoặc cảnh sát. Lý do là tin về vụ cấp phát phiếu tiền này không được loan báo rộng rãi để bảo đảm rằng mọi nạn nhân đều sẽ được hưởng, và nhiều tin đồn loan đi rằng các phiếu này sẽ được cấp phát theo nguyên tắc “đến sớm thì còn” (first come, first serve) cho đến khi nào hết phiếu. Không có một lời lên tiếng nào từ phía chính quyền cũng như của cơ quan Hồng Thập Tự để trấn an mọi người là không nên vội vã hay lo sợ vì mọi nạn nhân sẽ được chính phủ chăm lo đầy đủ và công bằng. Trong bối cảnh đó, nhất là khi có cả chục ngàn người đứng sắp hàng nhiều giờ trong cái nắng cháy người, họ không dễ gì kiên nhẫn nên sinh ra cảnh hỗn loạn, chen lấn gồm đủ loại sắc dân, từ Trắng tới Đen hay Mễ, để được lọt vào hàng và mong đến phiên mình thì sẽ còn được tấm phiếu cứu trợ đáng giá. Hơn nữa, trong những ngày trước đó, sự kiện những nhân viên của FEMA, cũng như của chính quyền Bush, đã không làm việc kỹ lưỡng và tận tình nên đã khiến cho mọi người hầu như không còn tin tưởng vào sự chăm lo cho đời sống của người dân khốn khổ. Nhìn cảnh hỗn loạn lúc bấy giờ, người ta mới hiểu và thông cảm tình cảnh và nỗi khổ của những vụ chen lấn giành giật, thường thấy tại các quốc gia nghèo đói, để được hưởng phẩm vật cứu trợ tại những nơi xảy ra tai hoạ. Từ đó về sau, cứ mỗi lần người nào ở Mỹ mà hay thích lên giọng dạy đời mỗi khi nhìn những cảnh chen lấn vô trật tự, người ta chỉ cần nhắc đến thảm cảnh giành giật chen lấn của các nạn nhân bão Katrina thì cũng đủ để đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn, cho thấy là khi con người lâm vào cơn hoảng loạn, người ta dễ có những hành động bồng bột, hay thiếu suy nghĩ, hay đúng hơn là phản ảnh đúng cái tâm trạng hoảng hốt của họ.

Lần này không phải là sự hoảng hốt của giới bình dân nhà nghèo, mà là của các “đại gia”, của những nhà tài phiệt hay các đại công ty tư bản của thị trường Wall Street ở Nữu Ước. Những biến động trong cuối tuần qua kéo dài đến đầu tuần này cho thấy là thị trường tài chính hàng đầu của thế giới đã không còn hoạt động như bình thường nữa, mà nó đã thể hiện một tâm trạng hoang mang đến cùng cực của đa số các nhà đầu tư. Từ đó dẫn đến những phản ứng giây chuyền theo kiểu hốt hoảng, càng khiến cho tình hình trở nên rối rắm hơn khi mà đa số đều dễ dàng tin vào những loại tin đồn hơn là dựa trên sự suy nghĩ và bình tâm phán đoán.

Thật ra thì điều này cũng dễ hiểu khi người nhìn lại những diễn biến trên thị trường tài chính trong năm qua với sự lỗ lã hàng trăm tỷ Mỹ-kim của các đại công ty tài chính, các tổ hợp ngân hàng lớn hàng đầu của nước Mỹ, do hậu quả của vụ khủng hoảng tài chính trên các thị trường địa ốc (từ các món nợ xấu khó đòi subprime) cũng như thị trường tín dụng (khiến cho các nhà băng đều rụt rè, không dám cho vay, càng khiến cho nền kinh tế èo uột theo). Hàng ngàn các công ty cho vay nợ mua nhà đã phải dẹp tiệm vì lỗ lã, với công ty hàng đầu là Countrywide Financial phải bị mua lại bởi Bank of America để mong được sống sót vào tháng giêng 2008. Rồi đến ngân hàng đầu tư Bear Stearns, một sớm một chiều cũng bị tiêu ma (vào tháng Ba) mặc dù đã làm ăn từ cả trăm năm qua với số vốn cả chục tỷ Mỹ-kim, và cuối cùng phải nhờ có sự trợ giúp của ngân hàng trung ương ở New York để được mua lại với giá rẻ mạt bởi nhà băng JP Morgan Chase. Đến tháng Bảy thì chính phủ, qua cơ quan FDIC, cũng phải nhảy ra mua lại nhà băng IndyMac khi người dân hoảng sợ nên đã ồ ạt đến để rút hết tiền ra. Trong khi đó thì Ngân hàng Trung Ương (Fed) đã liên tục giảm phân lời xuống thật thấp, cũng như tìm cách bơm thêm tiền vào thị trường tiền tệ để mong cho sinh hoạt tín dụng không bị đình trệ ảnh hưởng tai hại đến nền kinh tế chung.

Sự thể tưởng như có thể tạm yên được chút ít thì đùng một cái, người ta nghe nói đến chuyện nhà nước phải đứng ra gánh vác dùm cho hai đại công ty Fannie Mae và Freddie Mac, vốn nắm đến phân nửa tổng số các món nợ vay địa ốc (mortgage) trên toàn quốc. Đây là một quyết định trọng đại và khác lạ của chính phủ vào vụ này, mặc dù chính quyền Bush, theo truyền thống Cộng Hoà, luôn luôn chủ trương là chính phủ không nên can thiệp vào thương trường mà hãy nên để cho mọi sự được sinh hoạt, cạnh tranh theo tinh thần của thị trường tự do. Lý do biện minh cho sự dấn thân này là vì 2 công ty cho vay này quá lớn, trở thành một định chế quá quan trọng mà nhà nước không thể nào để cho nó bị tiêu tùng vì sẽ ảnh hưởng giây chuyền khiến cho nhiều ngành nghề và lãnh vực khác cũng có thể bị tiêu ma luôn.

Nhưng rồi đột nhiên người ta lại nghe đến sự khó khăn của một ngân hàng đầu tư lớn khác là Lehman Brothers, cũng có cơ nguy bị sập tiệm, lỗ vốn cả chục tỷ Mỹ-kim, nhưng lần này thì chính phủ quyết không ra tay nghĩa hiệp nữa, mà để mặc cho nhà băng này tự tìm những ân nhân nào chịu ra gánh vác, bỏ tiền ra để mua lại. Đến giờ chót, không công ty nào chịu nhảy ra mua, Lehman Brothers đành phải khai phá sản. Bỗng nhiên, mọi người lại nghe đến tin nhà nước quyết định cứu vớt cho công ty bảo hiểm AIG, với số tiền ứng ra có thể lên đến 85 tỷ Mỹ-kim. Cùng lúc đó thì Merrill Lynch, một công ty môi giới tài chính hàng đầu khác nhưng cũng bị thua lỗ nặng vì các món nợ xấu, cũng vừa bị mua lại bởi Bank of America.

Những tin tức dồn dập này đã khiến cho giới đầu tư khắp nơi hết còn tin tưởng vào các cơ quan tài chính hay các nhà băng, và đã thi nhau chuyển tiền từ chứng khoán sang để đầu tư vào công khố phiếu ngắn hạn, với phân lời quá ít gần như không có, nhưng được coi như là một loại đầu tư chắc ăn (được hiểu như là không bị lỗ vốn). Tâm lý hoảng loạn này không khác gì những người thi nhau rút hết tiền trong các trương mục ở ngân hàng, dẫn đến hậu quả trầm trọng nhất thời là nhà băng này có thể phải sập tiệm vì không thể nào đào đâu ra kịp cho đủ tiền để thanh toán. Trên bình diện quốc gia, tâm lý hoảng sợ của giới đầu tư tại Hoa Kỳ hiện nay có thể lan tràn sang các thị trường khác ở Âu châu và Á châu, với những hệ quả tệ hại nghiêm trọng, một khi đa số không còn quyết định đầu tư tiếp tại Hoa Kỳ. Chính cái tâm lý hoảng loạn này của giới đầu tư, muốn bán tống bán tháo các chứng khoán của các công ty tài chính, đã khiến cho những nhà băng còn tương đối vững mạnh như Goldman Sachs và Morgan Stanley cũng phải bị vạ lây. Tuy cả hai nhà băng này vừa mới đưa ra các báo cáo vào ngày thứ Ba cho thấy kết quả có lời khả quan, và trước đó được mọi người đánh giá như là những công ty chắc ăn, vững mạnh, khác với hầu hết với các nhà băng đầu tư khác như Lehman Brothers và Bear Stearns, nhưng qua ngày hôm sau, việc giới đầu tư đổ xô bán tháo cổ phần trong các nhà băng cũng đã khiến cho trị giá của cả hai đều tụt xuống, Morgan Stanley mất giá 25% trong khi Goldman Sachs bị tụt giá 14%. Trong những ngày sắp tới, người ta chờ đợi nghe thêm những công ty tài chính hay các nhà băng khác có thể được ghi tên vào bảng phong thần xoá sổ như: Washington Mutual Bank, Wachovia Bank, công ty bảo hiểm Ambac.

Khi nào thì tình trạng hoảng loạn này mới chấm dứt để cho thị trường chứng khoán ở Wall Street có thể trở về không khí sinh hoạt như bình thường, có lẽ không ai dám tiên đoán chắc chắn hay rõ ràng. Nhưng điều rõ ràng để có thể hiểu thêm về tình trạng rối rắm hiện nay là nguyên nhân của nó có thể bắt nguồn từ những thay đổi sâu rộng kể từ đầu thập niên 1980. Theo nhà báo Robert Samuelson, trong một bài phân tích cô đọng trên báo Washington Post đề ngày 17-09-2008, thì Wall Street – nói chung bao gồm các đại tổ hợp đầu tư, các đại công ty môi giới, các nhà băng, các quỹ đầu cơ hedge funds – đã thay đổi khá nhiều trên ba khía cạnh, dẫn đến những quyết định quan trọng góp phần vào tình trạng khủng hoảng hiện nay.

Đầu tiên là sự kiện các tổ hợp tài chính trên Wall Street đã không còn giới hạn hoạt động của mình trong vai trò thuần tuý của những cơ quan cố vấn và môi giới. Lúc trước, các đại ngân hàng đầu tư như Goldman Sachs hoặc Lehman Brothers phục vụ chủ yếu cho các thân chủ của mình. Thông thường, họ nhận lệnh để trao đổi chứng khoán hay trái phiếu cho các “khách sộp”, thường gọi là các “định chế đầu tư” (institutional investors), tức là những hãng có quá nhiều tiền nên cần phải tìm cách đầu tư nào cho có lợi nhất, gồm các công ty bảo hiểm, các tổ hợp đầu tư. Họ cũng cố vấn cho các đại công ty về nhiều mặt như khi cần bán cổ phần để gây quỹ hoặc khi cần sang nhượng, hay mua lại các công ty khác. Lợi nhuận chính kiếm được cho họ là từ tiền lệ phí hay hoa hồng.

Thế nhưng, sau này vì thấy có lợi nhiều nên các đại ngân hàng đầu tư trên Wall Street cũng bắt đầu quay sang đầu tư luôn, thay vì chỉ giữ vai trò cố vấn như lúc trước, bằng cách dùng tiền vốn của mình, tức là của cổ đông (shareholders) để đầu tư. Sự kiện này đem lại lợi nhuận cao khi thị trường đi lên, mọi sự đầu tư đều thành công, nhưng đồng thời cũng khiến cho công ty có thể bị rủi ro thua lỗ một khi các món hàng đầu tư bị hố nặng.

Điều thay đổi thứ hai là lợi tức sau này trên thị trường Wall Street đặt nặng nhiều hơn về mặt tiền thưởng bổng lộc (bonus), chứ không còn đặt nặng trên tiền lương. Tuỳ theo cách đầu tư của các tay môi giới, nếu đem lại lợi nhuận cao (khi giá cổ phần tăng giá nhanh chóng) thì tiền thưởng cuối năm cũng cao theo, thông thường là từ 5 đến 10 lần cao hơn tiền lương, dẫu rằng tiền lương căn bản của nhân viên trên Wall Street cũng không đến nỗi tầm thường, trung bình từ 200,000 đến 300,000.

Điều thay đổi thứ ba là các ngân hàng đầu tư càng ngày càng lệ thuộc vào số tiền vay mượn, thay vì dùng tiền vốn của mình, thường gọi một cách hoa mỹ bằng thuật ngữ “leverage” (đòn bẩy – Phải chăng ngụ ý là nhờ tiền mượn của thiên hạ để giúp làm đòn bẩy cho mình đầu tư và kiếm lời?) Trường hợp điển hình là của Lehman. Cho đến cuối năm 2007, Lehman có tổng số vốn (gồm chứng khoán và trái phiếu và các món nợ đủ loại) lên đến 700 tỷ Mỹ-kim, nhưng trong đó tiền vốn của các cổ đông chỉ chiếm có 23 tỷ Mỹ-kim. Tất cả phần còn lại là tiền nợ từ bá tánh. Tỷ lệ nợ trên vốn (leverage ratio) là 30/1.

Việc vay nợ làm đòn bẩy này có thể đem lại lợi nhuận rất cao. Chẳng hạn như khi ta mua một cổ phần với giá là 100 Mỹ-kim. Khi giá cổ phần lên thành 110, tức là chúng ta kiếm lời được 10 đồng, coi như có lời 10%, một tỉ lệ đầu tư không tệ lắm. Nhưng giả sử như chúng ta chỉ bỏ ra có 10 đồng, và vay mươn 90 đồng còn lại. Chỉ cần giá chứng khoán tăng lên từ 100 sang 101, là ta đã có lời được 10% rồi (lời 1 đồng trên 10 đồng bỏ ra). Còn nếu như giá chứng khoán tăng lên thành 110, tức là ta đã được lợi đến 100% (tiền vốn 10 đồng tăng thành gấp đôi). Đã quá! Bảo sao nhiều người không ham để nhảy vào.

Tất cả những yếu tố này khiến người ta dễ đi đến tâm lý và quyết định của một kẻ thích đánh bạc. Những nhà môi giới hay các tay giám đốc các quỹ đầu tư thường dễ bị ham muốn và kích thích để tìm cách sinh lời trong ngắn hạn, và như thế dễ được trả lương hậu hĩ hơn. Từ đó mà các món nợ xấu khó đòi cũng sãn sàng được chấp nhận, đem về xào nấu, trộn lẫn với các món nợ khác và “chứng khoán hoá” nó (securitize) – tức là biến nó có hình thức như một chứng khoán chắc ăn thay vì một món nợ địa ốc không bảo đảm – để rồi đem ra rao bán hay trao đổi trên thị trường, để tiếp tục có thêm hoa hồng. Các tổ hợp đầu tư cũng tìm cách vay nợ nhiều hơn để có thể đầu tư nhiều hơn. Trong lúc mọi sự êm đẹp theo kiểu xuôi chiều mát mái thì không ai than phiền gì cả, các công ty kiếm lợi nhuận cao, cổ phiếu gia tăng, và nhà nước thì bỏ mặc làm ngơ, không thèm ngó vào để xem công ăn việc làm có đúng đắn và nghiêm chỉnh hay không. Lập luận của nhiều chính trị gia, nhất là từ phe Cộng Hoà, thường là cho rằng chính phủ chỉ tổ gây rắc rối và khó khăn cho người dân và thương trường với đủ thứ quy luật nhiêu khê và rắc rối, và như thế nên nằm im chừng nào tốt chừng nấy, cứ để mặc cho thị trường tự điều chỉnh theo quy luật cung cầu thì mọi sự đều ổn thoả ngay.

Thế nhưng, sự đời không phải lúc nào cũng tươi đẹp và lạc quan mãi. Đầu tư cũng có lúc lên lúc xuống. Khi các món nợ xấu khó đòi trở thành vô giá trị, chẳng khác gì những tờ giấy lộn, giá trị của các công ty tài chính bỗng nhiên tụt dốc không phanh. Các món nợ để đầu tư càng trở thành nặng gánh hơn, vì vừa phải tìm cách trả nợ, đồng thời lại không tìm đâu ra lợi nhuận, hoặc vốn liếng của mình, để có thể trang trải. Và khi các công ty đầu tư này liên tục bị thua lỗ, mọi người bắt đầu hoài nghi về sự tồn tại của nó. Đó là lý do giải thích vì sao có tâm lý hoảng sợ và nghi ngờ các nhà băng hay công ty tài chính có thể sập tiệm, khiến cho mọi người thi nhau bán tống bán tháo các cổ phần như đã xảy ra trong thời gian qua.

Liệu Wall Street có rút tỉa được bài học đau thương nào trong vụ này để có thể vươn mình lên hay không? Không ai có thể trả lời được. Trong tạm thời, các công ty sẽ cần thêm vốn để có thể tồn tại. Các quỹ đầu tư có thể sẽ phải cẩn trọng hơn, giảm bớt tỉ lệ vay nợ để khỏi phải quá lo trước gánh nặng nợ nần to lớn. Các công ty có thể sẽ không “chơi bạo” và “chơi ẩu” nữa để mong kiếm lời nhiều và nhanh. Và nhiều tay sinh viên thông minh và học giỏi có thể sẽ không say mê lao đầu vào ngành tài chính vì mối lợi lương cao, để quay sang nhiều ngành nghề thực dụng và hữu ích khác.

Nhưng có lẽ hậu quả tức thời là nền kinh tế còn lại sẽ bị lao đao vì ảnh hưởng nghiêm trọng này. Hàng chục ngàn người đã mất việc, và chắc chắn sẽ còn nhiều người khác sẽ phải chịu chung số phận. Ngân quỹ của nhiều chính quyền (thu vào từ tiền thuế lợi tức) từ tiểu bang cho đến thành phố (như trường hợp của New York và New Jersey) chắc chắn sẽ bị hao hụt nặng một khi lợi nhuận từ Wall Street sẽ không còn dồi dào như lúc trước. Và như thế sẽ dẫn đến những hậu quả giây chuyền tiêu cực khác, như cắt bớt các chương trình trợ cấp dân sinh, sa thải bớt nhân viên hoặc công chức. Các nhà băng thương mại và ngân hàng đầu tư sẽ phải ngần ngại trong việc cho vay, vô tình khiến cho thị trường tiêu thụ khó cất cánh, triển vọng phục hồi kinh tế càng mong manh hơn. Quả là một tương lai đầy u ám, không ai biết rõ nó sẽ đi về đâu. Bởi vì người ta có thể biết chắc rằng các cơn khủng hoảng tài chính, giống như các cuộc chiến tranh, đều xảy ra vì những sự tính toán sai lầm của nhiều người.

Mai Loan


Kinh tế cuối tuần (tuần thứ 39 : 22- 28/9/2008

MartianMobile (Thành viên X-cafevn)

Việt Nam phải sửa soạn cho sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ

Câu chuyện khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ không những chỉ là đề tài nói chuyện của người dân Việt Nam tuần này, nhưng hậu quả của nó ảnh hưởng đến kinh tế của Viêt Nam như thế nào. Chúng ta nhìn vào hai khía cạnh nổi bật nhất.

Thật là ngây thơ nếu nghĩ rằng cuộc khủng hoảng kinh tế của Hoa Kỳ đang xẩy ra sẽ không ảnh hưởng gì hết cho nền kinh tế Việt Nam. Chưa một ai có thể tiên đoán là cái gì sẽ xẩy ra tiếp và thế giới vẫn còn đang tình trạng quan sát và xem xét hậu quả ảnh hưởng của nó đến thị trường trế giới.

+ Hậu quả mạnh nhất: Đầu tư ngoại quốc sẽ ít đi

Trong buổi làm việc của Câu Lạc Bộ Lãnh Đạo Kinh Doanh hôm qua, các nhà chuyên môn cảnh báo là các thương gia Việt Nam phải chuẩn bị cho hậu quả nghiêm trọng của việc ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, Chủ Tich Viện Nghiên Cứu Phát Triển tuyên bố rằng, khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam và ảnh hưởng này không phải là nhỏ.

Ảnh hưởng nhìn thấy rõ và hiển nhiên là thị trường chứng khoán. Tuần rồi thị trường chứng khoán Việt Nam phản ứng ngay lập tức, VN-Index rơi xuống đột ngột và mạnh mẽ, và chỉ được cứu lại một ít khi thị trường chứng khoán thế giới tăng trở lại khi được tin chính phủ Hoa Kỳ có kế hoạch chi ra $700 tỉ dollars bảo lãnh và cứu nguy thị trường tài chánh. Cùng với thị trường chứng khoán Việt Nam, thị trường vàng lên xuống cùng lúc lên xuống hay ngược lại với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.

– Tin mừng

Sự thật thì hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn nằm trong thời kỳ non nớt và chưa có nhiều kinh nghiệm. Việt Nam chưa có những hệ thống trao đổi buôn bán tinh vi như derivatives tại Hoa Kỳ hay các thị trường khác trên thế giới. Do đó có thể nói hệ thống tài chánh của Viêt Nam khó có thể dẫn đến tình trạng sụp đổ to lớn như xẩy ra tại các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ và Âu Châu. Đây là một điều đáng gọi là mừng cho Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam, trong nhiều khía cạnh khác sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh.

– Tin không vui

Như những các quốc gia khác, Việt Nam mua công phiếu của Ngân Khố Hoa Kỳ (US treasury bonds) với lời thấp từ 1% đến 2%. Tổng số trị giá của US treasury bonds mà Việt Nam làm chủ khoảng 30% – 40% so sánh với GDP. Việt Nam cũng vấp phải lỗi lầm là mua cổ phần của Fannie Mae và Fannie Mac, hai công ty to lớn nhất trong kỹ nghệ cho vay nhà cửa có vấn đề và chính phủ Hoa Kỳ phải bailout cách đây chưa tới một tháng. Trị giá cổ phần của hai công ty này chỉ còn $1.83 so với thời kỳ cao nhất cách đây gần 4 năm là $80.

Nếu tiền vốn tư bản của Hoa Kỳ thắt chặt lại, đây là điều mà Hoa Kỳ đang lo sợ nhất, Việt Nam sẽ phải chịu đựng nặng nề khi ngân hàng của mình sẽ rất khó khăn đi mượn những khoản nợ vay thương mại. Những tiền vốn đầu tư trong chương trình Official Development Assistance (ODA) sẽ bị cắt.

Tương tự như vậy, vốn của Foreign Direct Investment sẽ bị giảm rất mạnh khi các nhà đầu tư không thể kiếm được vốn tư bản.
Năm nay số tiền tiên đoán cho Foreign Direct Investment (FDI) tại Việt Nam gần đây đã lên một con số kỷ lục là $60 tỉ đồng, trong đó FDI đã đầu tư đến $57 tỉ cho đến nay. Nhưng nhìn kỹ vào chi tiết đã tiết lộ là đầu tư vào bất động sản và kỹ nghệ thép là có vấn đề cho việc quản trị kinh tế vĩ mô.

Dựa vào con số cho biết là FDI vào du lịch nhà cửa là $22.2 tỉ dollars, $4.8 tỉ dollars đầu tư vào nhà đắt tiền, $8.5 tỉ dollars vào cao ốc thương mại, và $8.8 tỉ dollars vào du lịch hotels. Đầu tư vào nhà cửa và bất động sản không thể xuất cảng được. Trong khi tiền lời kiếm được bằng tiền tệ Việt Nam sau đó sẽ phải trao đổi qua ngoại tệ để mang về bản xứ. Điều này làm cho cán cân trao đổi tiền tệ không cân bằng và bất lợi cho Viêt Nam. Cộng thêm công việc xây cất nhà cửa không tạo được những công việc kỹ thuật cao và tốn kém rất nhiều đất đai.

Đầu tư vào ngành thép cũng tạo ra câu hỏi. Dự án $10 tỉ dollars tại Ninh Thuận của công ty Vinashin-Lion Steel JV Limited và dự án $7.9 tỉ dollars tại Hà Tĩnh của công ty Taiwan’s Formosa Heavy Industries Corp. Nếu hai công ty này thành công đi vào sản xuất sẽ tạo ra dư thừa về cung cấp thép. Dựa vào chiến lược về thép hiện nay, nhu cầu về thép cần khoảng 10 đến 11 triệu tấn vào năm 2010 và 20 triệu tấn đến năm 2020. Và chỉ cần một trong hai hãng này là có thể sản xuất đủ cho cả nước.

Tiền gởi về từ thân nhân sống và làm việc tại nước ngoài, đây là nguồn tiền quan trọng nhất và có thể giúp đỡ Việt Nam thanh toán tiền nợ, sẽ giảm xuống vì cuộc khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ.

+ Xuất cảng sẽ bị ảnh hưởng xấu trực tiếp

Trông rất rõ là ngành xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng xấu trực tiếp, vì cuộc khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ dẫn đến việc người dân tiêu dùng ít đi.

Thí dụ từ ngành hải sản đã phải có những buổi họp để đối phó với nhiều vấn đề khác nhau, và có thể đi đến xuất cảng ít đi khi nghe được tin của sự khủng hoảng này. Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Âu Châu, là những quốc gia bị ảnh hưởng mạnh vì cuộc khủng hoảng tài chánh, lại là những quốc gia Việt Nam xuất khẩu chính yếu. Những công ty xuất khẩu này phải tự cứu bằng cách quay trở lại chinh phục thị trường quốc nội với 80 triệu người không tiêu thụ nhiều bằng, trong khi đi tìm các nguồn xuất khẩu khác.

Cộng thêm mối quan tâm tiềm tàng từ lâu nay trở thành một quan trọng mới là Trung Quốc, một quốc gia tương tự như Việt Nam về xuất khẩu với số lượng khổng lồ sang cùng một thị trường mà Việt Nam để ý là Hoa Kỳ, Nhật và Âu Châu, nay cũng phải đang tìm cách sống còn và đang kiếm cách xuất cảng hàng hóa rẻ sang thị trường Việt Nam.

Không biết Việt Nam đã chuẩn bị tinh thần như thế nào nhưng về vật chất, đây là một biến cố nghiêm trọng cho Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đang có những biện pháp ra sao hiện giờ vẫn còn sớm để tìm hiểu. Nhưng đã bắt đầu có nhiều yêu cầu chính phủ Việt Nam phải có những đạo luật quản lý chặt chẽ hơn trong ngành tài chánh, thị trường chứng khoán, đầu tư nhà đất và ngân hàng. Tuy nhiên các chuyên gia và đầu tư cũng muốn những đạo luật mới phải là nghiêm chặt chứ không phải là giới hạn.

Nếu bạn vẫn còn tiền để đầu tư vào cổ phiếu, Đây là những gì bạn nên quan tâm

Tin quan trọng nhất, tổng thống Bush và quốc hội Hoa Kỳ đã có thỏa thuận cho đạo luật $700 tỉ dollars cứu chữa kinh tế Hoa Kỳ. Ý chính là: lãnh đạo đảng Dân Chủ mặc dù có đa số phiếu tại lưỡng viện nhưng không muốn chỉ có một mình họ thỏa thuận với Ông Bush. Họ sợ rằng nếu $700 tỉ dollars này vẫn không chữa được cuộc khủng hoảng kinh tế kỳ này, dân chúng Hoa Kỳ sẽ đổ trách nhiệm cho họ. Do đó đảng Dân Chủ tuyên bố nếu đảng Cộng Hòa và cả hai Viện không bằng lòng ký vào đạo luật này, họ cũng không ủng hộ luôn. Do đó cuộc hội đàm vẫn tiếp tục trong cuối tuần này và đã có kết quả.

– Tin giờ chót

Tin cho biết vào nửa đêm Thứ Bẩy và rạng sáng Chủ Nhật giờ Washington DC, cuộc thảo luận đã thành công và sẽ tuyên bố vào Chủ Nhật. Những điểm chính được tiết lộ không chính thức cho báo chí là:

. Thay vì chấp thuận cho $700 tỉ, nay xuống chỉ còn một nửa. Nếu cần thêm, phải có chấp thuận của Quốc Hội.
. Nhằm mục đích bảo vệ tiền đóng thuế, những công ty tài chánh và ngân hàng tham dự vào chính sách kinh tế này sẽ phải trả lại và đặt cọc qua cổ phần và tài sản của công ty.
. Giới hạn tiền đền bù cho các nhân vật lãnh đạo của các công ty tham dự.
. Cho phép chính phủ mua tài sản có vấn đề từ những quỹ hưu bổng, trợ cấp, chính quyền địa phương, và ngân hàng nhỏ (tôi cần thêm tài liệu)
. Đòi hỏi phải minh bạch giấy tờ sổ sách và để trên online (Internet).
. Giúp đỡ các ngân hàng nhỏ cần credit để dùng cho chi tiêu, hoạt động thương mại hàng ngày. Những số tiền này được trừ vào khoản lỗ khi mua cổ phần của Fannie Mae và Freddie Mac.
. (more…)

Thị Trường Chứng Khoán trong tuần

Trước hết, tôi nói sơ về thị trường chứng khoán trong tuần. Chỉ số Dow Jones là 11,143.13 lúc đóng cửa hôm thứ Sáu. Dow Jones vẫn tiếp tục nằm trong Trend của “bear market” có nghĩa là tiếp tục đi xuống. Tôi vẫn chưa thấy một thay đổi quan trọng nào.

– Câu hỏi thông minh: Tại sao trong ngày thứ Năm và Thứ Sáu đều có những tin không tốt cho thị trường chứng khoán (TTCK) như Hành Pháp và Quốc Hội Hoa Kỳ chưa đồng ý dự thảo luật $700 tỉ dollars, đáng lẽ TTCK phải đi xuống nhưng trong hai ngày này TTCK lại đi lên.

– Câu trả lời, thứ nhất: hai công ty có vấn đề là Washington Mutual và Wachovia đã mất hết giá trị từ lâu rồi. Trước mấy ngày này, trị giá stock của hai công ty chỉ còn vài đồng, do đó về giá trị ảnh hưởng vào Index chỉ có giới hạn. Ảnh hưởng mạnh nhất chỉ là tâm lý thôi. Thứ hai, có lẽ là Lý do chính, chỉ vì chính phủ Hoa Kỳ tạm thời không cho phép sell-short 799 stocks của các công ty về tài chánh và ngân hàng, do đó nhà đầu tư chỉ được phép mua stock (làm tăng giá trị của TTCK) hay bán stock ra (làm giảm giá trị của TTCK). Do đó sức mạnh khổng lồ để kéo TTCK đi xuống mất đi rất nhiều. Các bạn phải nên cẩn thận điều này khi đạo luật này hết hạn, nếu nhà đầu tư nhất là hedge fund không tin tưởng vào TTCK, bạn sẽ thấy TTCK sẽ đi xuống rất mạnh và trong một thời gian rất ngắn. Tôi đã thấy nhiều stock để bán dưới giá mà vẫn không bán kịp. TTCK Việt Nam thông thường cũng ảnh hưởng theo TTCK Hoa Kỳ.

(Tại sao stock của hãng IBM được liệt vào trong danh sách của 799 công ty liên quan đến ngành tài chánh, ngân hàng và bảo hiểm này làm nhiều người tự hỏi… SEC… Why? Chỉ có trời biết).

Nhiều lần tôi cũng khuyên các bạn là nếu các bạn không thấy yên tâm về việc đầu tư vào TTCK, các bạn nên bán bớt đi. Tôi nghĩ đạo luật $700 tỉ này sẽ thông qua và có thể TTCK sẽ đi lên. Đây là cơ hội để bán đi nếu bạn không còn tin tưởng vào đầu tư qua stock.

+ Vàng và Commodity

Tôi không tin là vàng có giá trị trong dài hạn, tôi muốn nói là 10, 20 năm. Tuy nhiên trong ngắn hạn vài năm, tôi nghĩ vàng và commodity có giá trị để chống lại lạm phát mà trong đó trị giá tiền tệ trong nước bạn đang sinh sống – không cứ ở Hoa Kỳ và Việt Nam – tiếp tục đi xuống. Dựa vào quan điểm căn bản này, tôi nghĩ vàng và commodity phải có một phần trong portfolio của người đầu tư.

Ý kiến về mua bán hàng ngày như stock, vàng , options, bond, future, phân lời, etc… Technical trading hay Fundamental tradding. Xin xem: http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=18616

Nhìn ra thế giới 2: Mỹ và Nga giữa cơn Khủng hoảng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: