Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Ngành chăn nuôi kêu cứu

Posted by BEAR trên Tháng Mười 19, 2008

Kỳ 1: Bảo hộ thịt nội bằng thuế: Cần nhưng chưa đủ

Thứ sáu, 10/10/2008, 07:00 GMT+7
LTS: Trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO: không đếm hết những hội nghị cấp trung ương, cấp địa phương mổ xẻ nguy cơ các ngành “hot” như ngân hàng, tài chính, bán lẻ… sẽ bị nước ngoài thôn tính. Không có hội nghị nào nói về khả năng mất thị phần thịt vào tay nông dân ngoại. 2 năm sau khi vào WTO, các ngành “hot” trên vẫn thuộc top “thu nhập cao”, nhà nhà vẫn đổ tiền đầu tư bất chấp nỗi lo sợ “họ nuốt chửng ta đến nơi rồi”. Chỉ có ngành chăn nuôi đang “chết” từng ngày vì khó cạnh tranh với thịt ngoại, riêng thị phần gà đã bị thịt ngoại “ngoạm” đến 30%, sản lượng nhập thịt lợn cũng tăng tới 20 lần… Người chăn nuôi đang quay lưng lại với nghề dù nhu cầu tiêu thụ thịt của 86.25 triệu người mỗi ngày càng một “nở” thêm. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 6 tháng đầu năm, sản lượng thịt trong nước chỉ tăng…0.03% – gần như bằng 0. Ước tính cả năm 2008 sẽ phải nhập 200.000 tấn thịt mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước. Chuyện gì đang xảy ra ở đất nước có tới 60 triệu dân làm nông nghiệp?

Đây thực sự là tin vui cho người chăn nuôi trong nước, mối lo “thịt ngoại đè thịt nội” trước mắt đã được tháo gỡ. Nhưng thuế tăng trở lại có cứu được ngành chăn nuôi, khi những vấn đề của chăn nuôi không chỉ nằm ở giá cả…

Lép vế vì giảm thuế

Bất cứ ai nhìn vào biểu thuế hiện nay đối với các mặt hàng thịt ngoại đều có thể nhanh chóng rút ra được kết luận trên. 2 năm trước, thịt lợn ngoại phải chịu thuế 30% nay chỉ còn 20%, thịt gà có mức 40% và 20% (với đùi, cánh) nay chỉ còn 12%, trứng gà hạ từ 80% xuống còn 20%, thịt bò cũng chỉ chịu mức thuế 12%…

Ảnh: Phong Doanh

Sở dĩ có sự cắt giảm thuế đột ngột vì Chính phủ đã đi trước cam kết với WTO từ…4 đến 6 năm. Lẽ ra, đến năm 2012, Việt Nam mới phải cắt giảm thuế suất nhập khẩu các sản phẩm thịt lợn xuống còn 15-25% tùy loại, thịt gà xuống 15%, thịt bò 14%… Nhưng cuối năm 2007, do thiếu hụt nguồn cung thịt cho Tết 2008 lại thêm giá thịt chiếm tỷ trọng khá cao trong rổ hàng hóa nên để kiềm chế lạm phát, bình ổn thị trường, Bộ Tài Chính đã ra quyết định 106 ngày 20-12-2007, giảm thuế mạnh ở các mặt hàng thịt.

Kết quả, chỉ trong vòng 8 tháng đầu năm 2008, số lượng các sản phẩm từ lợn nhập khẩu như thịt, nội tạng đã tăng vọt lên 18 lần so với cả năm 2007, đạt 8.612 tấn, trị giá 12,5 triệu USD. Thịt bò và nội tạng bò nhập khẩu đạt 6.086 tấn, trị giá 17 triệu USD.

Đặc biệt lấn át ấn tượng thị phần thịt nội là thịt gà. Nhờ vào sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng, thịt gà đông lạnh không chỉ có giá cạnh tranh mà đã rẻ lại càng …rẻ hơn. Lý do là trong khi người Việt thích ăn thịt đùi, cánh gà thì thị trường quốc tế chỉ chuộng lườn, ức, coi đùi, cánh là… phụ phẩm. Vì thế, dù đã đội thuế 12%, thịt gà nhập ngoại vẫn rẻ chỉ bằng phân nửa giá thành sản xuất gà nội. Dễ hiểu vì sao, gà ngoại mau chóng chiếm được 30% thị phần thịt gà trong nước với 103.401 tấn, trị giá 83 triệu USD.

Cơ cấu tiêu thụ thịt hiện nay

1st : Thịt lợn: trên 80%

2nd : Thịt gà : 11-12%

3rd : Thịt trâu bò : 4-5%

4th : Loại thịt khác

Những con số trên, tốc độ tăng trưởng thịt nhập ngoại trong năm 2008 được các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu đánh giá là “quá choáng váng”, thậm chí nhiều ý kiến đã không ngần ngại quy kết thuế thấp đang giúp thịt ngoại “giết” thịt nội.

Ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho rằng, việc giảm thuế nhập khẩu thịt đã kéo dài quá lâu khiến thịt nội thậm chí phải bán dưới giá thành. Hệ quả là nhiều hộ chăn nuôi cá thể lẫn công nghiệp không chịu nổi sức ép thịt ngoại đành phải để “trại không chuồng trống” từ vài tháng nay.

Tăng thuế có cứu được chăn nuôi?

Trước những khó khăn của ngành, trong tháng 9, Bộ NN & PTNT đã liên tục có những động thái kêu cứu lên Chính phủ. Hai cuộc hội thảo được tổ chức ngày 17 và 19 tại HN và Tp HCM đã công bố ra công luận những con số “giật mình”, đầy báo động về thực trạng ngành chăn nuôi. Tiếp đó, trong ngày 25 và 29, Bộ cũng đã gửi văn bản kiến nghị lên Chính phủ yêu cầu tăng thuế nhập khẩu thịt để bảo hộ ngành chăn nuôi trong nước.

Cuối cùng, ngày 3-10, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà đã ký ban hành Quyết định số 83/2008/QĐ-BTC tăng mạnh thuế nhập khẩu thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ kể từ 12-10.

Cụ thể, thịt gia cầm tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh tăng lên gần gấp 3 so với hiện nay từ 12% lên 40%. Riêng đùi, cánh, gan gia cầm có mức thuế tăng 5% so với hiện hành, lên 20%.


Ảnh: Phong Doanh

Thịt trâu bò, lợn chỉ tăng thêm 5%-7% các loại. Từ 12% lên 17% đối với thịt trâu, bò, tươi hoặc ướp lạnh và thịt trâu, bò, đông lạnh tăng, từ 20% lên 27% đối với thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh. Các phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò, cừu, dê, ngựa, la, lừa tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh sẽ được áp dụng đồng loạt mức 13% (hiện các loại phụ phẩm không được liệt kê áp dụng mức 10%).

Như vậy, mức điều chỉnh tăng chủ yếu tác động lên nhóm thịt gia cầm với mức gần 3 lần và tăng không nhiều lắm với các loại thịt khác. Lý do theo ông Giao là hiện trong nước đã chủ động được đàn gia cầm nhưng từ giờ đến cuối năm dự báo sẽ vẫn thiếu thịt trâu bò, nhất là thịt bò.

Thực tế, dù lo ngại sự xâm lấn của thịt ngoại nhưng theo chính Bộ NN& PTNT cũng phải thừa nhận từ nay đến cuối năm, thậm chí cả 2009, Việt Nam vẫn phải trông thêm vào nguồn thịt này để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước.

Chênh lệch giữa nhu cầu tiêu dùng và sản xuất thịt


Nguồn: agro.gov.vn

Trong khi đó, nguồn cung thịt ngoại trên thị trường quốc tế lại khá dồi dào. Theo bản tin của Bộ NN & PTNT, lượng thịt lợn đông lạnh tồn kho của Mỹ năm nay có số lượng lớn hơn cùng kỳ năm ngoái. Trên thị trường giao sau, giá thịt lợn nạc tháng 12 tại Chicago chỉ còn 1.44 USD/k, tương đương 24.000đ/kg, nếu đội thêm 27% thuế (mức sẽ tăng) chỉ dao động ở mức 30.000 đ/kg, vẫn quá sức cạnh tranh khi so sánh với giá lợn hơi trong nước– sẽ có xu hướng tăng vào dịp cuối năm- dự đoán vào khoảng 42.000 đ/kg trở lên.

Hiện tại, hạn chế lớn nhất khiến thịt ngoại chưa lấn át được thịt nội là thói quen thích tiêu thụ thịt tươi và “thịt ta” hơn thịt đông lạnh của người tiêu dùng. Và vì là thịt đông lạnh nên còn cản trở trong khâu tiêu thụ do phải bảo quản lạnh. Do vậy, thịt ngoại mới chỉ có sức lan tỏa chủ yếu trong các siêu thị ở các đô thị lớn và bỏ mối cho các nhà hàng, khách sạn. Tuy nhiên, theo thông tin từ thành phố Hồ Chí Minh- thị trường tiêu thụ thịt gà lớn nhất- sau khi giảm thuế xuống 12%, các nhà cung cấp gà ngoại đã đồng ý chia nhỏ các thùng gà từ 10-30kg, tiện lợi cho gà ngoại xâm nhập vào các chợ để người bán có thể tự rã đông.

Vì thế, không thể chủ quan là ngành chăn nuôi chưa bị đe doạ trên diện rộng vì nếu thị trường chấp nhận và có nhu cầu lớn thì các nhà buôn sẽ có cách khắc phục.

Trong khi đó, giá thực phẩm trong nước tháng 9 đã giảm tới 0,7% so với tháng 8. Đây là tin vui với người tiêu dùng nhưng với các hộ chăn nuôi, điều đó đồng nghĩa với việc họ càng mất động lực sản xuất vì với mức giá hiện nay họ không có lãi hoặc lãi rất ít và đương nhiên, càng không thể so găng nổi với thực phẩm ngoại, kể cả khi đã tăng thuế trở lại.

Như vậy, việc nâng thuế nhập khẩu thịt hay đưa ra hàng rào kỹ thuật như có ý kiến đề xuất bằng cách áp đặt một số tiêu chuẩn nhất định, xem xét việc thực thi thuế chống bán phá giá…xét cho cùng vẫn chỉ là các giải pháp “ngọn”, chỉ tác dụng trong thời gian trước mắt, mang tính tình thế. Bởi nếu nguồn cung thịt trong nước vẫn không đảm bảo thì khả năng hạ thuế trở lại để bình ổn giá cả và đáp ứng nhu cầu thịt trong nước là không tránh khỏi.

Câu hỏi là tại sao nguồn cung thịt nội địa lại rơi vào cảnh thiếu hụt như hiện nay ở một đất nước có tới 60 triệu nông dân có nghề chăn nuôi và 86.25 triệu người có nhu cầu tiêu thụ thịt?.


Kỳ 2: Vì sao nông dân bỏ chăn nuôi?
“Gia đình tôi làm chăn nuôi này đã được hai mươi năm, trước lúc nào cũng có 4-5 nghìn vịt nuôi lấy thịt và trứng, thuê 2-3 nhân công nhưng giờ khó khăn quá. Tính riêng hai tháng vừa qua, mỗi ngày nhà tôi lỗ “nhẹ nhàng” cũng tới bảy tám trăm ngàn thậm chí hơn triệu đồng. Bỏ thì không dám vì còn cái máy ấp trứng, chuồng trại mà tiếp tục thì làm sao chịu được” – Anh Nguyễn Minh Thắng, xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc vừa chỉ vào chuồng vịt trống không vừa xót xa than vãn.

Khi giá trứng không “cập” giá cám

Câu chuyện của anh Thắng không cá biệt. Ở quy mô hộ gia đình, anh Nguyễn Thế Toản, xã Bình Dương, Vĩnh Tường cũng đang “mếu máo” vì chuồng trại đã đầu tư kha khá tiền nhưng từ khi nuôi gà thì chỉ thấy “lỗ là lỗ”. Anh tính toán: “gần 250 con gà Ai Cập nuôi lấy trứng, bình quân đầu tư cho mỗi con là 100 nghìn đồng, vị chi tất cả là 25 triệu. Nhưng giá trứng không “cập” được với giá cám giờ đã lên 185 nghìn/bao 25 kg. Mỗi ngày nguyên tiền lỗ là một, hai trăm ngàn”. Vậy là mới tập tành chăn nuôi “quy mô” được một năm anh đã phải tạm dừng, đeo theo khoản nợ lãi ngân hàng gần 10 triệu không biết khi nào mới trả xong.

Ảnh: Nguyễn Phong Doanh

Giá cám cũng chính là nguyên nhân khiến gia đình chị Trần Thị Nhâm lâm vào cảnh “bỏ thì thương, vương thì nợ” gần năm nay. “Mấy tháng thôi mà giá thức ăn tăng “chóng mặt” từ 140, 150 tới 220 và hiện trên 300 nghìn/bao 25kg mà giá thịt bán chỉ ở mức 37-38 nghìn/kg, mỗi ngày nuôi lãi được một hai chục bạc, còn công xá đổ vào đấy nữa, lỗ quá nên chẳng đành nhà tôi mới phải “bán tháo” đi”.

Dãy chuồng trại nhà chị đã bỏ không 6 tháng nay nhưng khi “ngắm” cơ ngơi đã đầu tư gần bằng một sào ruộng đất, tính cả tiền đầu tư giống má, thức ăn ngót trăm triệu, chị lại thở dài vớt vát “tiền lỗ đã lên đến 45-50 triệu rồi nhưng chắc sau này đỡ khó khăn thì vẫn phải nuôi thôi vì đầu tư tốn kém quá”.

Tình hình khó khăn vì “giá trứng không “cập” giá cám” không chỉ khiến người chăn nuôi ở Vĩnh Phúc lao đao. Từ Bắc Ninh, Hà Tây (cũ), Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An… đến các tỉnh phía nam đâu đâu cũng kêu than giá thức ăn chăn nuôi quá sức chịu đựng. Mức tăng bình quân ước tới 60% so với cùng kỳ năm 2007 do một số nguyên liệu tăng đỉnh điểm, như khô đậu tương (150%), methionin (207%)… Kết quả thức ăn hỗn hợp cho gà broiler hiện lên đến tăng 48,8%, hỗn hợp thức ăn lợn thịt tăng 33,1%…

Nhưng theo ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi –các doanh nghiệp sản xuất thức ăn cũng chẳng sung sướng gì. Nông dân dừng chăn nuôi đã kéo theo 35 doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi “chết chìm” theo.

“Trại không chuồng trống” từ nhiều tháng do chăn nuôi thua lỗ. – Ảnh: Nguyễn Phong Doanh

Thực tế, tình trạng chăn nuôi ko đủ “lấy công làm lãi” mới “tấn công” các hộ chăn nuôi có quy mô tương đối mấy tháng nay khi giá thức ăn lên đỉnh điểm vào tháng 7, tháng 8 nhưng đã diễn ra với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ kiểu “tăng gia” từ vài năm trước. Nếu cách đây chục năm, mỗi gia đình nông thôn Việt Nam đều gắn với một mảnh vườn nhỏ, dăm con gà, vài ba con lợn thì nay rất nhiều nhà đã để “chuồng không trại trống” vì hiệu quả chăn nuôi quá thấp.

“Giờ ai mà đi vớt bèo về nấu cám lợn như trước nữa, nuôi thế, giỏi lắm cả năm mới xuất chuồng được 2 lứa, nuôi cám công nghiệp thì đắt đỏ càng nuôi càng lỗ, “hầu nó” lại mệt nên nhiều nhà thôi lâu rồi”- ông Phạm Quang Việt (Kim Sơn, Ninh Bình) vừa chỉ tay về kho để củi – nguyên là chuồng lợn cũ- vừa bảo. Theo ông, đến nửa xã đã bỏ nuôi lợn gà vì “thanh niên đi thoát ly hết, ông già bà cả nuôi vất lắm mà có lời lãi gì”. Còn nuôi vịt, gà theo ông, dân lại sợ dịch bệnh “cứ dịch vào là thôi cụt hết cả vốn, bị vài lần, nản chả muốn nuôi nữa”.

Dịch bệnh – rủi ro rình rập

Nỗi lo lắng của ông Việt là thể hiện tâm lý bất an có thật của những người nông dân. Theo ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, ngay trong 2 tháng đầu năm, những đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã làm chết hơn 200 nghìn trâu, bò; dịch bệnh tai xanh, lở mồm long móng đã khiến thêm 300.000 trâu, bò, lợn bị chết, hoặc buộc phải tiêu hủy. Trong khi đó, số lượng đầu lợn trên cả nước lại giảm trên 3% do hồi đầu năm, một số lượng lớn lợn thương phẩm bị tư thương xuất khẩu qua đường tiểu ngạch. Vì vậy, giá lợn giống có lúc tăng tới 106% so với cùng kỳ năm ngoái, gây khó khăn cho việc gây dựng lại đàn lợn.

Trong 8 tháng đầu năm 2008, dịch cúm gia cầm đã tái phát cũng tại 74 xã thuộc 51 huyện, quận, thị xã của 27 tỉnh, thành phố. Số gia cầm chết và tiêu hủy là 75.170 con trong khi “lỗ hổng” từ những đợt dịch các năm trước chưa kịp được bù đắp.

Tất cả những thiệt hại trên không chỉ làm giảm nghiêm trọng nguồn cung thịt cho thị trường mà còn làm nản lòng người chăn nuôi. Dịch bệnh liên miên làm tăng chi phí sản xuất do phải phòng chống dịch, phải tiêu hủy theo yêu cầu nhưng nguy cơ tái phát các bệnh dịch vẫn rất khó kiểm soát khiến không ai an tâm đầu tư lớn. Có những hộ chăn nuôi đã đóng của chuồng cả năm nay vì không thể vay tiếp vốn ngân hàng sau nhiều lần “vỡ nợ” vì dịch bệnh.

Vấn đề môi trường – Ảnh: Huệ Chi

Bỏ nuôi vì không chịu được… xú uế

Với diện tích chăn nuôi hơn 1500m2, gồm 17 chuồng nuôi lợn, chị Vân, thôn Lai Gián, xã Cổ Đông, huyện Sơn Tây, Hà Nội có thể coi là hộ chăn nuôi quy mô công nghiệp. Nhờ có ký kết “trọn gói” với công ty chăn nuôi CP Xuân Mai, Hoà Bình, chị không phải lo lắng về giống má, thức ăn hay đầu ra mà chỉ cần bỏ vốn đầu tư chuồng trại là có thể yên ổn sản xuất.

Nhưng cách đây 4 tháng chị đã phải dừng việc chăn nuôi khi đáo hạn hợp đồng. Lý do không đến từ phía chị hay công ty CP mà từ chính những người… hàng xóm. “Tôi đã xây chuồng trại đúng mẫu công ty, cũng xây hầm Bioga nhưng vẫn có mùi lắm vì số lượng lợn lớn quá, dân xung quanh họ không chịu được mùi nữa nên không cho mình kí tiếp”. Đầy vẻ tiếc nuối, chị cho biết, trước một năm, chị lãi khoảng 200 triệu nhưng giờ ô nhiễm quá thì không còn cách nào khác phải dừng.

May mắn hơn chị Vân, chị Minh, chủ trại lợn 4000 con vẫn chưa bị dân xung quanh “cấm” nhưng chị cũng không thể phủ nhận mùi nồng nặc phát ra từ khu chăn nuôi nhà mình. Giờ nếu muốn được ký tiếp hợp đồng với công ty, chị vẫn phải chờ xem có được cơ quan xã và bà con dân xung quanh cấp “quota” cho không.

Thực tế, khi số lượng chăn nuôi lên đến cỡ vài trăm con đã nảy sinh vấn đề xử lý môi trường. Cho dù đã làm theo thiết kế của công ty CP nhưng do nằm giữa khu dân cư nên việc xử lý mùi xú uế không thể triệt để được.

Các số liệu thống kê cho thấy năm 2007 đã có 61 triệu tấn chất thải chăn nuôi, trong đó chỉ có 40% là được xử lý còn lại đều xả thẳng ra môi trường gây ô nhiễm tại các vùng tập trung chăn nuôi quy mô lớn. Số liệu khảo sát của Sở Khoa học công nghệ Hà Tây (cũ) tại xã Trung Châu, Đan Phượng – nơi có 93,33 hộ nuôi lợn, quy mô trung bình từ 3-43 con cho thấy ô nhiễm khá nghiêm trọng. Mức độ nhiễm khí NH3, H2S trong không khí cao hơn cho phép 4,7 lần, nhiễm khuẩn ecoli trong nước rất cao, 25% số mẫu nước thải nhiễm trứng giun….

Do vậy, người dân khó mà phát triển chăn nuôi quy mô công nghiệp khi có quy hoạch vùng chăn nuôi riêng rẽ khỏi khu dân cư cũng như chưa tìm ra giải pháp xử lý môi trường chấp nhận được.

*******

Mặc dù giá thức ăn, dịch bệnh, môi trường…. đều là những vấn đề nổi cộm “níu chân” ngành chăn nuôi phát triển nhưng trong thời gian vừa rồi, thủ phạm trực tiếp gây ra cơn khốn khó của ngành chăn nuôi chính là giá thức ăn. Đó là thực tế khó thể phủ nhận khi giá thức ăn có lúc đã chiếm gần 70% giá thành sản xuất. Một tỷ trọng quá cao và quá phi lý, ai sẽ được lợi từ việc giá thức ăn chăn nuôi bị đẩy lên cao? Vietimes mời độc giả cùng đối thoại với ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn Chăn nuôi vào kỳ 3:

Ai được lợi khi giá thức ăn quá đắt?


Kỳ 3: Ai được lợi khi giá thức ăn quá đắt?

“Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thế giới có giảm tương đối nhưng là giảm trên thị trường kỳ hạn giao sau, nghĩa để có được mức giá giảm thực sự đến tay người chăn nuôi cũng phải đợi ít nhất 2 tháng nữa. Chứ giờ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn mới ký hợp đồng giá mới thì sao có thể giảm ngay được”- ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn Chăn nuôi Việt Nam – trả lời trước những ý kiến cho rằng các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi cố tình trì hoãn giảm giá bán, không chịu chia sẻ khó khăn với nông dân…

“Chúng tôi chỉ có thể kêu gọi thôi…”

Ông Lê Bá Lịch chủ tịch Hiệp Hội TACN – Ảnh: Phan Hùng

Hiện giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi (TACN) trên thị trường thế giới đã giảm khá mạnh nhưng giá cám bán trong nước chỉ giảm nhỏ giọt, khiến nhiều người chăn nuôi thất vọng. Thậm chí có ý kiến cho rằng các nhà sản xuất chỉ lo thu vén cho lợi ích của họ, chưa chia sẻ với khó khăn của các khách hàng. Ông nói sao về chuyện này ở cương vị đại diện cho các nhà sản xuất – chủ tịch Hiệp hội thức ăn Chăn nuôi Việt Nam?

Đúng là giá nguyên vật liệu TACN và nhiên liệu đầu vào đã giảm so với thời điểm đỉnh cao là tháng 6, tháng 7 nên ngay từ tháng 9, Hiệp hội đã kêu gọi các thành viên giảm giá bán trên thị trường. Ví dụ một loại giá cám đã hạ từ 11.000 đ/kg xuống hơn 9000 đ/kg rồi 8.500 đ/kg…

Doanh nghiệp cũng muốn giảm giá TACN xuống nữa để bà con nông dân đỡ khó khăn và cũng là một cách để “nuôi dưỡng” thị trường nhưng giảm đến mức nào còn phụ thuộc vào giá thế giới. Như giá khô dầu đậu tương theo báo giá tháng 12 tại thị trường kỳ hạn giao sau giảm từ 550 USD xuống 350 USD, nếu ký hợp đồng mua từ bây giờ thì cũng phải đến lúc đó các nhà sản xuất mới nhận được nguyên liệu ở giá mới này. Chứ giờ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn mới ký hợp đồng giá mới thì sao có thể giảm ngay được trên thị trường.

Đó cũng là một lý giải nhưng liệu đây có phải là cái cớ để các doanh nghiệp trì hoãn lâu hơn việc hạ giá cám hoặc có hạ giá nhưng dưới khả năng cho phép?

Không đúng. Khi Hiệp hội yêu cầu là các doanh nghiệp chấp hành ngay.

Nếu có doanh nghiệp không chịu giảm giá thì Hiệp hội sẽ làm thế nào?

Hiệp hội chỉ có thể kêu gọi thôi chứ áp đặt sao được. Nhưng họ sẽ buộc phải giảm theo thôi vì đây là vấn đề cạnh tranh. Thành viên Hiệp hội tuy chỉ có trên 70 doanh nghiệp trên 214 nhưng đều là các doanh nghiệp lớn như CP, Newhope…. có sức chi phối thị trường. Mà những anh to này đã giảm thì các anh bé cũng sẽ phải giảm theo hết.

gia cam giam nho giot

Nguyên liệu TACN thế giới đã giảm mạnh nhưng giá cám trong nước chỉ giảm nhỏ giọt
– Ảnh: Đức Chính


Thực tế những “đại gia” này cũng giảm giá rất nhỏ giọt. Ông có nghĩ đến khả năng vì chi phối thị trường nên họ nhìn nhau để cùng trì hoãn không?

Không, việc này đâu có dễ thế. Quy luật thị trường là cạnh tranh, họ phải cạnh tranh với nhau để bán hàng chứ.

Ông dự đoán giá cám trên thị trường cuối năm sẽ giảm đến mức nào?

Căn cứ vào giá bán nguyên liệu trên thị trường quốc tế thì có thể sẽ giảm tói 45% giá thành TACN so với lúc cao điểm hồi tháng 6.

“Ngành TACN nó qúa nhỏ bé…”

TACN là câu chuyện nóng bỏng-nguyên nhân trực tiếp khiến nhiều nông dân không muốn tiếp tục làm nghề. Ông có thể giải thích vì sao giá TACN lại đắt như vậy và ai được lợi từ đây?

Không ai được lợi cả. Giá đắt do các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu chiếm đến 45-50% giá trị TACN nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Chúng ta phải nhập trên 2 triệu tấn khô dầu đỗ tương từ Achentina, Hoa Kỳ, Ấn Độ, nửa triệu tấn ngô Hoa Kỳ, Achentina, Brazil…Ngay cả các nguyên liệu bổ sung khác như Đicanxi phốt phát (DPP), … lyzine cũng phải nhập hết. Lệ thuộc nhập khẩu không chỉ khiến ta rơi vào thế bị động về giá mà còn bị động luôn về nguồn ngoại tệ, càng khiến đấy giá TACN lên

Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam mà lệ thuộc vào đỗ tương, ngô… ông có nhận thấy đấy là nghịch lý?

Chủ yếu là do đất đai cho vùng trồng nguyên liệu TACN có hạn, không được quy hoạch gì cả. Muốn nói gì thì nói chỉ có gần 300.000 ha trồng đậu tương, năng suất 1,2-1,4 tấn, phục vụ nhu cầu người ăn còn chưa đủ (sữa đậu nành, đậu phụ…). Ngô cũng vậy, chỉ có 1,1 tr ha, năng suất lại quá thấp, có 36-37 tạ, trên dưới 4 tr tấn, kém năng suất ngô Mỹ đến 2.5 lần.

Vậy nên Nhà nước cần có chính sách ưu đãi để kêu gọi nước ngoài đầu tư vào sản xuất vùng nguyên liệu hơn nữa, chứ như bây giờ hình như ngành TACN nó quá nhỏ bé nên không được chú ý, trong khi chăn nuôi nó là cái nghề của 13 triệu hộ nông dân tức là khoảng 60 triệu dân. Là một cái nghề rất quan trọng mà người ta cố tình không thấy.

Vậy theo ông hậu quả khó khăn của ngành chăn nuôi hôm nay là do thiếu sự quan tâm, chú trọng từ cấp vĩ mô?

Tôi không rõ nhưng chắc chăn nuôi chưa phải hạng mục ưu tiên đầu tư vì giờ người ta chỉ chú ý đến sắt thép, rồi các ngành nào xuất khẩu được kể cả trong nông nghiệp cũng ưu tiên trồng những cây gì xuất khẩu được. Ngay cả sắn – một thành phần của TACN ta tự túc được thì lại cho xuất khẩu hết với thuế suất bằng 0%. Rồi thì bột cá (một thành phần TACN), ta có hàng nghìn km bờ biển mà lại phải đi nhập hàng trăm tấn bột cá từ Peru. Thật quá vô lý!

Các phụ phẩm bổ sung khác cho TACN đa số phải nhập khẩu hết cả. Trước chỉ có mỗi Vedan sản xuất mỳ chính thì có kèm thêm Lyzine nhưng cũng để xuất khẩu là chính.

Người chăn nuôi mong chờ giá cám hạ – Ảnh: Đức Chính

Để ngành TACN bớt lệ thuộc, theo ông cần tháo gỡ từ đâu?

Về lâu dài, Nhà nước cần chủ động quy hoạch vùng nguyền liệu cho TACN và có sự điều hành chính sách linh họat. Ví dụ là ngô, ta có thể tự túc nếu có sản lượng cao hơn. Nhưng diện tích mấy năm nay không tăng, năng suất thì kém Mỹ đến 2,5 lần… Vậy thì phải có tính trồng ngô chuyển gien để đẩy năng suất lên. Các nước khác như nước châu Mỹ, Trung Quốc…họ làm cả rồi nên tôi ủng hộ trồng ngô chuyển gien chuyên phục vụ chăn nuôi. ‘

Còn về đỗ tương, thực tế, Việt Nam không có thế mạnh về sản xuất do điều kiện khí hậu, đất đai nên 5-7 năm nữa cũng chưa tự túc được. Để tránh căng nguồn cung khô dầu đỗ tương và các phụ phẩm Nhà nước cần hạ thuế trong khi thuế nhập khẩu xuống thấp hoặc 0%. Ngược lại phải tăng tăng thuế xuất khẩu một số như sắn để bảo vệ nguồn nguyên liệu trong nước. Chứ giờ đầu vào của TACN cứ nhập vào thì chịu thuế mà xuất ra bằng 0% bảo sao giá TACN không đắt.

Nhà nước cũng nên dùng đến các hàng rào bảo hộ theo quy định của WTO, không chỉ dâng thuế nhập thịt về mức cam kết mà còn phải dâng hàng rào kỹ thuật như kiểm nghiệm vi sinh vật, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế…

Tuy nhiên, ở góc độ Hiệp hội, trước mắt và cấp thiết nhất theo tôi là làm sao hạ lãi suất Ngân hàng xuống, chứ cứ 18-19%/năm thì kinh doanh nào lại nổi. Mà tăng giá TACN lên theo thì không cạnh tranh được với các doanh nghiệp trường vốn, chủ động được vốn (đa số là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) nên đã có 35 trong số 214 doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động, chiếm 16,3% lực lượng sản xuất.

Nông dân phải làm “khách hàng thông thái”

Chất lượng của TACN cũng là một vấn đề. Có những chất bị cấm nhưng vẫn được lưu hành hoặc hàm lượng, chất lượng thức ăn không đúng như quảng cáo…

Cách đây 1 năm chúng tôi đã kêu gọi các doanh nghiệp thành viên không được phép dùng các chất mà Bộ Nông nghiệp có ghi cấm. Thành viên Hiệp hội đều là những nhà sản xuất uy tín nên họ chấp hành tốt còn doanh nghiệp ngoài Hiệp hội thuộc trách nhiệm, chức năng của Bộ Nông nghiệp quản lý.

Tôi nghĩ người nông dân nên học cách đọc nhãn và tỷ lệ các chất trên bao bì, hàm lượng bao nhiêu, thế nào… và phải chủ động chọn những thương hiệu TACN uy tín.

Theo ông trong hoàn cảnh hiện nay để giảm giá thành, người chăn nuôi nên chọn cách dùng TACN thế nào cho hiệu quả?

Người chăn nuôi hộ gia đình hoặc số lượng ít nên mua thức ăn đậm đặc về trộn với ngô, sắn từ 1kg thành 2-3 kg tinh bột để giảm giá nhưng quy mô trang trại nên chọn thức ăn tổng hợp thì đỡ mất tốn công sức hơn.

Lâu dài, tốt nhất là làm sao khép kín từ khâu sản xuất thức ăn đến chăn nuôi. Tôi khuyến khích mô hình từ nhà máy đến trang trại, không phải mất 10% chi phí qua khâu đại lý nữa. Nhưng để làm được vậy chăn nuôi cần theo quy mô lớn, số lượng nhiều, ký hợp đồng ổn định sẽ giảm được nhiều chi phí vận chuyển, bai bì nhãn mác…Hiện quy mô phân tán, hộ tiêu dùng nhỏ lẻ làm giá TACN cũng đội lên nhiều.


Kỳ 4: Nỗi buồn thịt rẻ giống đắt

“Tốt nái tốt một ổ, tốt đực tốt cả đàn” nhưng bấy lâu nay giống má đang là câu chuyện đau đầu của nhà nông bên cạnh giá thức ăn chăn nuôi đắt đỏ. Chưa nói đến chất lượng, nguồn cung con giống bị thu hẹp đã khiến giá giống tăng vọt suốt nhiều tháng qua như giá lợn giống có lúc đã lên đến 50.000-60.000 đ/kg ở miền Bắc và 70.000 – 100.000 đ/kg tại miền Nam. Giống là khâu quyết định thành bại trong chăn nuôi nên giống đắt là một trở ngại lớn cho việc tái lập đàn gia cầm, gia súc ….

Khan hiếm nguồn cung

Đã vào tháng 10 nhưng ông Đỗ Duy Bảng – chủ hộ chăn nuôi gia cầm ở Phú Lâm, Tiên Du, Bắc Ninh vẫn đang lo méo mặt khi nghĩ đến vụ chăn nuôi mùa đông tới. Số là đàn vịt đẻ 500 con nhà ông đã quá lứa, con nào con nấy rạc cả đi. Ông muốn “thanh lý” để thay bằng một đợt mới hoàn toàn nhưng lại không thể dùng trứng của lứa vịt nhà do lo không đảm bảo chất lượng. Dự định mua trên 100 vịt con siêu đẻ để rồi tự nhân ra, ông khăn gói lên thành phố Bắc Ninh. Vậy mà, đi mấy lò giống ông đều nhận được cái lắc đầu vì họ chê ông “làm ăn trẻ con”, bán cho ông họ không đủ giá vốn. “Chúng tôi phải bán số lượng lớn mới đủ chi phí điện đóm, nhân công, mấy tháng trước, điện chập chờn toàn phải chạy dầu để ấp nên chi phí cao lắm”, một chủ lò ấp phân bua. Sở dĩ giá giống tăng bên cạnh các nguyên nhân đầu vào còn bởi mấy tháng đầu năm, dịch cúm gia cầm tái phát đã gây thiếu hụt hàng trăm ngàn con.

Đàn vịt nhà ông Bảng đã đến lúc thay giống mới – Ảnh: Đức Chính

Dịch bệnh cũng là nguyên nhân chính đẩy giá lợn giống tăng chóng mặt. Ước tính 300.000 đầu lợn đã bị chết và tiêu hủy, thêm vào đó một số lượng lớn lợn thương phẩm bị xuất khẩu qua đường tiểu ngạch hồi đầu năm càng khiến tình hình thêm trầm trọng. Nhiều hộ chăn nuôi muốn tái phát triển đàn trở lại nhưng lại gặp khó khăn vì thiếu nguồn cung con giống. Các hộ chăn nuôi quy mô trang trại hoặc đã ký kết với các công ty chăn nuôi còn thể tự chủ phần nào hoặc trông vào nguồn giống từ công ty nhưng các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thì vô cùng đau đầu. Chị Phạm Thị Huyên ở thành phố Bắc Ninh vốn thường xuyên nuôi 4-5 lợn thịt nay đã “treo chuồng” 2 tháng. Nguyên do là sau khi bán hết lứa cũ chị “không tài nào mua được giống tốt, cũng có chỗ giống tốt nhưng giá cao quá, cám lại đắt nên tôi tạm nghỉ”.

Thực tế, giá lợn giống đã tăng nhanh chóng, có lúc có nơi đã tăng gấp 2-3 lần giá giống năm 2007. Tính riêng tại các tỉnh phía Nam, giá lợn giống có lúc đã lên đến mức 70.000-80.000 đ/kg, đỉnh điểm còn vọt lên 100.000 đ/kg. Với mức giá đắt như vậy, giá vốn cho một con giống nhỏ cũng già nửa triệu bạc, lớn thì gần 2 triệu trong khi đầu ra lợn hơi lại bị “đao” với giá rẻ non nửa, chỉ chừng 35.000-38.000 đ/ kg. Dễ hiểu vì sao người chăn nuôi chán nản quay lưng lại với nghề, nhất là khi cám bã cũng tăng vòn vọt so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình cũng không khả quan hơn với trâu bò. Chỉ riêng vụ rét đầu năm đã có hơn 200 nghìn trâu, bò trên cả nước bị chết, trong đó có đến 70% là bê, nghé. Theo dự báo của Cục Chăn nuôi, do không quay vòng nhanh như gà, lợn nên chắc chắn nguồn cung thịt trâu bò năm 2008 không kịp hồi phục, sẽ thiếu hụt đáng kể.

Sự khan hiếm giống má khiến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi bị chững lại. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm của Tổng cục Thống kê mức tăng chỉ đạt 0,03%, nghĩa là gần như không có tăng trưởng. Đáng lo ngại là trong khi đầu vào: giống và thức ăn chăn nuôi đắt đỏ thì giá bán thịt hơi lại giảm bất chấp việc Chính phủ đã tăng thuế đánh vào thịt ngoại.

Nỗi lo sợ thiếu thịt cho năm 2009 không phải là không có cơ sở bởi khó khăn của thị trường thịt trong nước không chỉ nằm ở chuyện cạnh tranh với thịt ngoại mà là những câu chuyện đau đầu nội tại.

Chất lượng giống: thiếu ổn định

Giống ít đã đành mà chất lượng giống cũng trôi nổi, kém ổn định. Nhìn vào hai mặt hàng chiến lược của ngành chăn nuôi là thịt bò và thịt lợn có thể thấy rõ điểm yếu này. Những vùng chăn nuôi quy mô trang trại còn kiểm soát được phần nào do có quy trình phối, chọn giống tương đối tốt, có nguồn tinh lợn ngoại. Nhưng nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn còn thói quen gây giống theo cách truyền thống nên chất lượng giống không ổn định. Anh Phạm Văn Đệ, huyện Kim Sơn, Ninh Bình làm nghề chăn “lợn dẽo” (lợn đực chuyên dắt đi phối giống cho các nhà có lợn nái) nhiều năm nay cho biết, tuy ở quê đã có bán tinh lợn ngoại nhưng nhiều hộ vẫn quen cách cũ.

Điều đáng nói là nhiều năm qua, các nhà nông học đã liên tục lai tạo được nhiều giống lợn tốt, tăng tỷ lệ thịt và rút ngắn thời gian xuất chuồng nhưng việc nhân rộng những giống lai tốt cho dân còn nhiều hạn chế. Mặc dù Bộ NN&PTNT đã đầu tư 1.040 tỷ đồng cho 129 dự án xây dựng trung tâm giống ở các địa phương (giai đoạn 2000-2005) đến nay, nhiều trung tâm giống vẫn trong tình trạng thiếu thốn và chưa hoàn thiện.

90% bò giống không đủ chất lượng – Ảnh: Phan Hùng

Tương tự như đàn lợn, chất lượng đàn bò giống cũng còn nhiều vấn đề phải bàn. Theo phản ánh của người chăn nuôi, hơn 90% giống bò khi mua về không bảo đảm chất lượng. Lý do là người nuôi bò thường phải mua từ thương lái chứ ít có điều kiện mua qua trung tâm khuyến nông hay trung tâm giống. Vì thế, chất lượng giống không đảm bảo hoặc có đảm bảo thì cũng sẽ bị thoái hóa giống do người nuôi không được tâp huấn đúng quy trình chăm sóc đúng kỹ thuật mà thường nuôi theo lối chăn thả, tận dụng tự nhiên.

Đây cũng là nguyên nhân khiến việc nhân rộng đàn bò lai dù đã thực hiện nhiều năm nhưng vẫn không cho kết quả như mong muốn dù bò lai có ưu thế hơn hẳn bò vàng địa phương (chiếm 65%) vốn có trọng lượng nhỏ, tỷ lệ thịt xẻ thấp, chất lượng thịt không cao và năng suất kém.

Giải pháp nào?

Vẫn biết để có ngành chăn nuôi mạnh thì giống má là khâu quyết định: năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong Chiến lược phát triển ngành đến năm 2020, Cục Chăn nuôi cũng đang đặt ra mục tiêu sẽ có trên 70% giống được chọn lọc và đánh giá bình tuyển.

Nhưng làm thế nào để cải thiện giống không hề đơn giản, nhất là có đến 80% số lượng người chăn nuôi là kinh tế hộ gia đình quen kiểu manh mún nhỏ lẻ, tận dụng theo nhiều tập quán cũ?

Một mặt, Cục Chăn nuôi đang chỉ đạo các tỉnh, thành xây dựng các trạm truyền tinh nhân tạo để phục vụ phối giống cho đàn gia súc, gia cầm ở từng khu vực. Với đàn lợn, ngoài biện pháp phổ cập tinh lợn, hạn chế tự nhân giống, Cục còn khuyến khích các trang trại lọc bỏ các con đực còi cọc, chuyên nghiệp hóa các công đoạn nuôi lợn thịt thương phẩm với sản xuất giống.

Tương tự với đàn bò, Cục đang chỉ đạo các địa phương quản lý con giống chặt chẽ, cung cấp tinh bò về các cơ sở, tránh để dân tự mua giống bò trôi nổi ngoài thị trường. Việc bán bò giống phải đi đôi với chuyển giao quy trình kỹ thuật cho người nuôi cũng như có các biện pháp hỗ trợ nông dân trồng cỏ….

Muốn có giống lợn tốt, đồng đều cần tăng cường thụ tinh nhân tạo – Ảnh: Huệ Chi

Cục cũng đưa mô hình quản lý chăn nuôi hiện đại, áp dụng theo dõi bằng sổ sách để đảm bảo kiểm soát tốt nguồn giống, chất lượng thịt và an toàn thực phẩm. Thực tế, cùng con giống tốt như nhau nhưng cách nuôi khác nhau sẽ cho ra các kết quả trái ngược. Ví dụ, cũng một giống lợn nhưng cho ăn cám khác nhau năng suất khác nhau, thậm chí cùng giống lợn, cùng loại cám mà cho ăn vào các giai đoạn phát triển sinh lý khác nhau chất lượng thịt cũng khác nhau.

Như vậy để thấy, “nhất giống” thật nhưng nếu công nghệ nuôi không đúng sẽ cho ra hiệu quả không như mong muốn. Do đó, giải pháp cần thiết để mở rộng giống tốt cần đi đôi với chuyển giao quy trình kỹ thuật, chuyên nghiệp hóa chăn nuôi.

Đó cũng là cách để chăn nuôi có thể tăng năng suất, hạ giá thành. Không có lý gì, mở cửa vào WTO mà để mất nghề của 60 triệu người ở nông thôn. Nhưng sẽ càng vô lý hơn nếu để 86 triệu người tiêu dùng phải ăn thịt đắt chỉ vì ngành chăn nuôi trong nước quá yếu kém.

Là cơ quan của Chính phủ “quản” việc này, Bộ NN & PTNT sẽ giải thích thế nào và sẽ có định hướng ra sao cho tương lai ngành chăn nuôi. Vietimes mời độc giả đối thoại với Cục trưởng Cục Chăn nuôi Hoàng Kim Giao vào kỳ tới.


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: