Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Bàn thêm về những “làng ung thư” …Văn hóa nhận trách nhiệm

Posted by BEAR trên Tháng Một 12, 2009

Bàn thêm về những “làng ung thư”

08:20-25/12/2008

Cá chết do nước thải nhà máy tại làng ung thư Thạch Sơn, Phú Thọ

Chúng ta vẫn ngạc nhiên tại sao các tin tức về làng ung thư lần lượt xuất hiện trên báo chí, mà ngành y tế có vẻ quá dửng dưng, không vào cuộc gì cả.u trả lời có thể là, họ cho rằng tử vong vì ung thư ở các làng như thế là … bình thường.

Trong bài viết mang tựa đề hoài nghi “Sự thật về làng ung thư Thạch Sơnđăng trên trang nhà của Tổng cục Môi trường, tr lời phỏng vấn của báo chí về làng ung thư Thạch Sơn (Phú Thọ), Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Ngọc Trọng nói: tỉ lệ ung thư tại Thạch Sơn tương đương các tỉnh thành phía Bắc. Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.


Một chuyên gia ung thư khác (giáo sư Phạm Duy Hiển của bệnh viện K) thì cho biết: “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”. Có lẽ xuất phát từ đánh giá như thế của các quan chức, dù các làng ung thư lần lượt xuất hiện mà ngành y tế chưa có động thái nào để kiểm soát tình hình.


Nhưng rất tiếc là dữ liệu thực tế không phù hợp với những đánh giá trên của các vị quan chức! Tôi đã thu thập một số dữ liệu về các làng ung thư và trình bày trong bảng dưới đây. Theo nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia, ở nước ta cứ 100.000 dân số thì có 106 nam và 59 nữ tử vong vì bệnh ung thư. Áp dụng tỉ lệ này cho làng Thạch Sơn với dân số khoảng 7.000, chúng ta kì vọng sẽ có khoảng 6 người tử vong vì bệnh ung thư, nhưng trong thực tế ở làng này mỗi năm có 15 người chết vì ung thư. Nói cách khác, tỉ lệ tử vong vì ung thư ở Thạch Sơn cao hơn tỉ lệ quốc gia đến 2,6 lần! Như vậy, không thể nói rằng “tỉ lệ mắc bệnh ung thư của Thạch Sơn không phải là cao”.


Thật ra, số liệu mà tôi thu thập trong bảng dưới đây (rất có thể chưa đầy đủ) cho thấy ở bất cứ làng ung thư nào mà báo chí nêu, tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư đều cao từ 3 đến 9 lần so với tỉ lệ tử vong của cả nước. Chẳng hạn như làng Kim Thành (Nghệ An) chỉ 1.900 dân số, mà trong thời gian 7 năm có đến khoảng 100 người tử vong vì ung thư, và tỉ lệ này cao gấp 9 lần so với tỉ lệ của toàn quốc.


Tỉ lệ tử vong vì ung thư tại một số làng xã

Làng / xã (tỉnh)

Dân số (ước tính)

Số tử vong do bệnh ung thư mỗi năm

Tỉ lệ tử vong tính trên 100.000 dân

So sánh với tỉ lệ trung bình toàn quốc (1)

Thạch Sơn (Phú Thọ)

7.000

15

214

2,6 lần

Đông Lỗ (Hà Tây)

5.800

22

379

4,6 lần

Minh Đức (Hải Phòng)

?

67

?

?

Thổ Vị (Thanh Hóa)

1.700

80 (14 năm)

336

4,1 lần

Kim Thành (Nghệ An)

1.900

100 (7 năm)

752

9,1 lần

Khánh Sơn (Đà Nẵng)

760

10 (5 năm)

263

3,2 lần

Đại An (Quảng Nam)

1.140

33 (10 năm)

289

3,5 lần

(1) Tính trên tỉ lệ tử vong do nguyên nhân ung thư toàn quốc là 82.5 trên 100.000 dân số (nguồn: PH Anh, ND Duc. Jpn J Clin Oncol 2002;32:S92-S97).

Tôi cực kì kinh ngạc trước phát biểu “Chưa có bằng chứng về sự liên quan của tình trạng ô nhiễm môi trường và bệnh ung thư.”

Trong vài thập niên qua, đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh ung thư. Chỉ lấy vài trường hợp tiêu biểu:

· Nghiên cứu ở nước láng giềng Trung Quốc cho thấy những cư dân sống trong vùng phải dùng nước giếng (khoan từ lòng đất) có nguy cơ mắc bệnh ung thư đường ruột cao gấp 2 lần so với nguy cơ trung bình trong dân số.

· Nghiên cứu ở Nhật cho thấy nồng độ NO2 và SO2 trong không khí có ảnh hưởng đến sự phát sinh ung thư phổi.

· Ở Mĩ, có nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị phơi nhiễm diesel có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cao gấp 1,4 lần so với nguy cơ trong dân số.

Cái mẫu số chung của các “làng ung thư” này là sự hiện diện của các nhà máy kĩ nghệ và xuống cấp môi trường.

Cho dù hiện nay chưa có dữ liệu để kết luận mối liên quan giữa sự hiện diện các nhà máy này và ung thư, các nghiên cứu từ các cụm/làng ung thư ở Mĩ cho chúng ta biết rằng các chất sau đây làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư trong cộng đồng: arsenic, cadmium, chronium, nickel, asbestos, và benzene. Các chất hóa học này cũng giải thích tại sao cư dân thành phố và cư dân sống trong vùng gần nhà máy kĩ nghệ có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn cư dân trong các vùng nông thôn.

Ô nhiễm nước ở làng ung thư An Bình (Cam Thanh, Cam Lộ)

Nước ta đang trong quá trình độ thị hóa rất nhanh. Nhưng phát triển kinh tế nhanh thường kèm theo những hệ lụy về môi sinh và môi trường có ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Chúng ta nhìn sang Trung Quốc và đã thấy những tàn phá về môi trường, nhưng chúng ta chưa có giải pháp tránh những tàn phá như thế ở nước ta. Hệ quả là ngày nay rất nhiều sông rạch ở nước ta đang trong tình trạng ô nhiễm ở mức báo động. Chất lượng không khí ở những vùng kĩ nghệ và thành phố lớn cũng bị ô nhiễm ở mức báo động. Với những hóa chất có khả năng gây ung thư như vừa kể trên, không ai ngạc nhiên khi thấy tần suất bệnh ung thư trong cộng đồng càng ngày càng gia tăng. Hai thập niên phát triển kinh tế đã giúp nâng cao thu nhập cho người dân, nhưng e rằng cái giá về suy giảm chất lượng cuộc sống mà chúng ta phải trả vẫn chưa được cân đo đúng mức. Nếu không quan tâm ngay từ bây giờ, thu nhập kinh tế có thể sẽ không bù đấp được cho những hao hụt trong chi tiêu cho các dịch vụ sức khỏe.

Nền tảng của y tế dự phòng là: duy trì sức khỏe lành mạnh tốt hơn là mắc bệnh hay chết. Đó là tiền đề và cũng là cứu cánh của một nền y tế hiện đại. Phát biểu đó cần và đủ. Mỗi cái chết là một mất mát cho quốc gia. Sứ mệnh của ngành y tế là cứu người và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Nếu không hoàn thành sứ mệnh này thì không nên gọi là “y tế” làm gì.

Nguyễn Văn Tuấn

Top Ten về ô nhiễm môi trường

Tổ chức bảo vệ môi trường Green Cross Thụy Sỹ và Viện Blacksmith của Mỹ đã bình chọn 10 nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tệ hại nhất trên thế giới. Sự xếp hạng này nhằm định hướng dư luận chú ý đến những điều đang diễn ra hằng ngày mà thường bị lãng quên khi đề cập đến các vấn đề bảo vệ khí hậu và môi trường.

1: Khai thác vàng thủ công.


2: Ô nhiễm mặt nước.

3: Ô nhiễm nước ngầm.

4: Ô nhiễm không khí trong căn hộ.

5: khai khoáng công nghiệp.

6: Các lò nung và chế biến hợp kim .

7: chất thải phóng xạ và chất thải từ việc khai thác Uran.

8: Nước thải không được xử lý.

9: ô nhiễm không khí ở các đô thị.

10: Tái tạo bình ắc quy.

Văn hóa nhận trách nhiệm

Có thể chỉ do trùng hợp ngẫu nhiên, mà cũng có thể theo đúng quy luật ngặt nghèo, nhiều (quá nhiều) sự kiện xảy ra, đồng loạt hoặc liên tiếp trong năm, làm lộ rõ những sai sót, yếu kém của bộ máy quản lý, điều hành.

Báo chí đã có dịp đưa tin, bình luận về những vụ nổi cộm: dự báo sai về tình hình cung cầu lương thực dẫn đến quyết định bất hợp lý về xuất khẩu gạo; dự báo sai về tình hình thời tiết, dẫn đến sự bị động trong việc ứng phó với đợt mưa lũ lịch sử tại Hà Nội; chuyện vi phạm pháp luật môi trường rành rành và kéo dài của các doanh nghiệp lớn như Huyndai Vinashin, Vedan, Hào Dương, Miwon,…, đến khi bị phát hiện thì việc chế tài chẳng đi đến đâu và cũng chẳng thấm vào đâu, dù các phương tiện truyền thông và người dân đã tạo sức ép rất dữ dội và quyết liệt đối với bộ máy bảo đảm thực thi pháp luật.


Bức xúc vì thiệt hại gây ra cho xã hội quá nặng nề trong khi sự trừng phạt không hề có hoặc không cân xứng, dư luận, thông qua nhiều diễn đàn, đòi hỏi giải quyết thấu đáo vấn đề trách nhiệm của những người giữ vị trí lãnh đạo, then chốt ở các cơ quan, thiết chế được giao chức năng công trong các lĩnh vực.

Ai cũng hiểu rằng trách nhiệm, một khi được quy kết cho người nắm một chức vụ công, trở thành căn cứ để áp dụng chế tài pháp lý; việc chế tài, về phần mình, thường ảnh hưởng bất lợi ít nhiều đến sự thăng tiến và cả việc nắm giữ chức vụ đang có. Chức càng cao, quyền càng to, thì tầm ảnh hưởng của công việc thực hiện càng rộng, sâu, do đó, trách nhiệm càng lớn và chế tài tương ứng cũng nặng nề.


Trong nhiều trường hợp, được ghi nhận chủ yếu ở các nước chậm tiến, những người nắm quyền lực công mà làm bậy đến mức không né tránh được trách nhiệm, thường tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của chế tài đối với mình, về phương diện vật chất. Song cả khi ấy, thì sự chế tài cũng là cái gì đó không dễ chịu đựng: dù sao, người bị chế tài cũng là một nhân vật được xã hội biết đến một cách rộng rãi, như là người cổ vũ cho cái tích cực, cái tốt, cái đúng; chế tài, trong điều kiện đó, dễ khiến người ta có cảm giác bẽ bàng, như khi nhìn thấy một chiếc mặt nạ rơi xuống và làm lộ ra khuôn mặt xấu xí, đầy khuyết tật.


Bởi vậy, “cố gắng” không nhận trách nhiệm là cách cư xử được ưu tiên lựa chọn bởi một người luôn “tận tâm” với chức vụ của mình mà lỡ làm bậy. Trong chừng mực nào đó, nó còn có mối liên hệ gắn bó với bản năng tự vệ để sinh tồn và được hiểu là một cách phản ứng tự nhiên của một thực thể sống trước sự đe doạ, tấn công từ bên ngoài.


Muốn ngăn chặn sự phổ biến tràn lan của xu hướng đó trong khu vực công, chỉ kêu gọi ý thức tự giác, tự trọng của con người thì không đủ. Phải làm thế nào đặt “đương sự” ở trong tình trạng không thể chối bỏ hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho người khác mà phải chấp nhận để trách nhiệm được quy cho mình, một cách rành mạch, dứt khoát.


Để đạt được điều đó, trước hết cần hoàn thiện hệ thống quy tắc pháp lý chi phối tổ chức và vận hành của guồng máy hành chính quốc gia. Tư tưởng chủ đạo là trách nhiệm gắn với chức vụ công, trên nguyên tắc, phải được cá nhân hoá. Mỗi hành vi ứng xử nhân danh quyền lực công, trong khuôn khổ giao tiếp chính thức, như ra một quyết định, công bố một quan điểm, một chính kiến,… đều phải gắn chặt với một chủ thể nào đó, có lai lịch được xác định rõ ràng. Tất nhiên, qua trình bàn bạc, thảo luận về việc xây dựng phương án ứng xử có thể diễn ra với sự tham gia của nhiều chủ thể, đặc biệt là với tư cách người tham mưu, tư vấn; nhưng, một khi được lựa chọn, phương án ứng xử phải mang tên một cá nhân nào đó, đảm nhận một tư cách nào đó.


Chẳng hạn, trong việc ra một văn bản pháp quy cấp Bộ, trách nhiệm về hệ quả luôn phải được xác định thuộc về Bộ trưởng, cho dù người biên soạn thường là một hoặc nhiều công chức thuộc quyền; thậm chí người ký văn bản có thể chỉ là một cấp phó.


Bên cạnh đó, cn phải phát huy khả năng phản biện của xã hội đối với công việc quản lý, điều hành của nhà chức trách.


Quy tắc cơ bản là: nếu xã hội, tức là người dân, buộc phải tuân thủ một chính sách hay một quyết định của nhà chức trách, thì, một cách hợp lý, xã hội phải có quyền tham gia vào việc kiểm tra tính hợp pháp, đúng đắn của chính sách, quyết định đó.


Chất vấn công khai ở nghị trường đối với người quản lý, điều hành, như việc chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với thành viên Chính phủ, là một trong những hình thức phản biện, mang ý nghĩa kiểm tra, cho phép làm rõ chủ thể của trách nhiệm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người bị chất vấn có thể trả lời quanh co và đẩy câu chuyện đi vào chỗ bế tắc. Cần có cơ chế kiểm tra trực tiếp, khách quan, nghĩa là do một người thứ ba tiến hành, cho ra kết luận vô tư mà tất cả các bên trong vụ tranh cãi, dù muốn hay không, đều phải chấp nhận.

Trong xã hội có tổ chức, chỉ có toà án mới đủ tư cách đảm nhận vai trò người thứ ba đó. Rõ hơn, cần thừa nhận cho công dân quyền khởi kiện trước toà án để yêu cầu xem xét tính đúng đắn, hợp pháp của một chính sách, một quyết định của nhà chức trách hành chính. Trong trường hợp việc áp dụng một chính sách, quyết định bị cho là không đúng dẫn đến thiệt hại vật chất, tinh thần cho công dân, thì người bị thiệt hại phải có quyền yêu cầu bồi thường thoả đáng.

Vấn đề còn lại là: trong suốt năm vừa vừa qua, chưa thấy biện pháp nào trong các biện pháp kể trên có dấu hiệu khởi động chính thức để hình thành. Bước vào năm mới, câu chuyện về xây dựng văn hoá nhận trách nhiệm trong khu vực công vẫn đang lẩn quẩn ở những chương đầu,… mãi chờ một cú hích của nhà chức trách, để sang trang.

Nguyễn Ngọc Điện


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: