Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Việt Nam đang bị tác động mạnh bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Posted by BEAR on Tháng Hai 9, 2009

Việt Nam đang bị tác động mạnh bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Việt Nam đang bị tác động mạnh bởi hiện tình khủng hoảng kinh tế tài chánh toàn cầu chứ không còn đứng bên ngoài như lần khủng hoảng tài chánh khu vực năm 1997 nữa.

Đó là quan điểm của hai chuyên gia trong nước, bà Phạm Chi Lan, cựu phó chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, thành viên ban cố vấn thời cựu thủ tướng Phan Văn Khải, nay là chuyên gia kinh tế độc lập, và ông Bùi Kiến Thành, từng làm việc nhiều năm trong lãnh vực tài chính ở nước ngoài, nay là tư vấn cao cấp cho các tập đoàn kinh doanh ở Hà Nội. Bài do Thanh Trúc thực hiện.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, bùng phát mạnh từ giữa 2008, đã khiến kinh tế Việt Nam thực sự bị ảnh hưởng chứ không chỉ hời hợt như thời kỳ suy thoái kinh tế khu vực năm 1997.

Việt Nam bây giờ đã hội nhập nhiều cho nên thế giới bị khủng hoảng thì Việt Nam cũng bị khủng hoảng nhiều hơn chứ không như hồi 1997.

Ông Bùi Kiến Thành

Bà Phạm Chi Lan, cựu phó chủ tịch Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, từng có ba năm làm cố vấn cho cựu thủ tướng Phan Văn Khải, nay là một chuyên gia kinh tế độc lập, cho rằng khi đó trên thực tế Việt Nam chưa mở cửa thị trường tài chính, chưa tham gia nhiều về các hoạt động tài chính bên ngoài cho nên ảnh hưởng về tài chính không quá nặng nề:

“Nhưng cuộc khủng hoảng lần này thì tôi e là càng ngày cái qui mô tác động của nó sẽ lớn hơn, sâu hơn, bởi vì bây giờ nền kinh tế của Việt Nam đã mở cửa và hội nhập hơn rất nhiều so với lúc trước.”

Ông Bùi Kiến Thành, từng có nhiều năm làm việc ở nước ngoài, hiện là chuyên gia tư vấn cao cấp của các tập đoàn kinh doanh ở Hà Nội, thì cho rằng khi đó Việt Nam chưa thực sự hội nhập, chưa xuất khẩu được bao nhiêu, cũng chưa vào WTO, chưa ký hiệp định thương mại với Mỹ, vì thế phát triển kinh tế của Việt Nam năm 1997 còn rất thấp:

“Vì thấp như vậy cho nên tác động từ bên ngoài không mạnh lắm, thị trường cũng khác, và cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 chỉ ở trong khu vực ASEAN chứ không phải toàn thế giới. Việt Nam bây giờ đã hội nhập nhiều cho nên thế giới bị khủng hoảng thì Việt Nam cũng bị khủng hoảng nhiều hơn chứ không như hồi 1997.”
Xuất khẩu sụt giảm

Dưới mắt bà Phạm Chi Lan, đã có một số lãnh vực xuất khẩu bị sụt giảm rõ rệt, nhất là dệt may, giày dép, đồ gỗ, tức là ba mặt hàng xuất khẩu lớn:

“Việt Nam thường xuất hàng sang Mỹ và Châu Âu hoặc Nhật Bản, và đấy là tác động rõ rệt nhất. Về đầu tư nước ngoài cũng vậy. Một số nhà đầu tư thường đặt Việt Nam làm gia công hoặc là dùng Việt Nam để làm hàng hóa xuất đi các nước thì nay họ cũng đình lại vì họ không còn làm được. Thậm chí có người tạm thời đóng cửa nhà máy.”

Đầu tư không phát triển

Đề cập đến nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2009, ông Bùi Kiến Thành giải thích là khủng hoảng đã làm cho cả hệ thống ngân hàng tài chính thế giới bị lung lay, tín dụng trên thị trường thế giới bị cạn kiệt:

Vấn đề tham nhũng được nêu ra nhiều lần trước quốc hội mà giải quyết không xong. Tham nhũng là từ nơi có quyền lực, mà quyền lực nằm trong tay ai?
Ông Bùi Kiến Thành

“Trong trường hợp mà các nhà đầu tư nước ngoài, mà đa số là vốn vay để đầu tư ví dụ 20% vốn tự có còn 80% vốn vay, mà trong khi vốn vay đó không còn được huy động một cách dễ dàng nữa thì cái số mà đăng ký hay đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng không dễ gì mà giải ngân. Vì vậy cho nên dầu có đăng ký tới sáu mươi mấy tỷ đô la đi nữa thì cái việc giải ngân không đơn giản, cho nên nó sẽ bị giảm sút xuống. Cũng không phải chỉ vấn đề vốn đầu tư mà thị trường đầu ra nữa, nó phải như thế nào? Tất nhiên nó ảnh hưởng đến vấn đề đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đây là nói về đầu tư trực tiếp thôi, chứ còn đầu tư gián tiếp là chuyện khác.”

Ông nói tiếp là vì các quĩ đầu tư nước ngoài sẽ cần thu hồi tài chính về lại trong đất nước của mình để sử dụng vào trong những chuyện khác nên chưa hẳn đã là có đủ tiền để đầu tư vào Việt Nam nữa. Điều này khiến đầu tư gián tiếp không phát triển như mọi người có thể mong đợi.

Các chuyên gia dự kiến năm 2009 là một năm đầy thử thách mà muốn vượt qua thì Việt Nam phải biết tận dụng những nét đặc thù trong nền kinh tế của mình hầu cầm cự trước tình hình kinh tế tài chính toàn cầu càng ngày càng rơi vào suy trầm. Bà Phạm Chi Lan góp ý:

“Việt Nam cũng đang đề ra cho mình chỉ tiêu tăng trưởng độ khoảng hơn 6%. Nhiều ước tính thì cho là đạt được 5% tăng trưởng GDP của 2009 cũng là tốt rồi. Quan trọng nhất không hẳn chỉ là chỉ tiêu tăng trưởng GDP mà quan trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay là quan tâm đến việc làm, tiếp tục giữ việc làm và tạo việc làm mới bởi vì Việt Nam có một lực lượng lao động rất lớn.”

Theo bà, Việt Nam phải lo làm sao cho các khu vực kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành có khả năng cạnh tranh tương đối khá, có thể tiếp tục thúc đẩy khả năng cạnh tranh lên. Đối với những dự án đầu tư lớn, bà nói tiếp, kể cả đầu tư nước ngoài, mà nếu không chứng tỏ được hiệu quả thì đây cũng là lúc Việt Nam nên rà soát lại và không nhất thiết phải tiếp tục theo đuổi những dự án đó.

Thời cơ chính đối với Việt Nam là tự xem lại cấu trúc kinh tế của mình, tính hợp lý và tính cạnh tranh của nó để tập trung phát triển vào những ngành có khả năng cạnh tranh tốt hơn, những ngành liên quan nhiều đến dân sinh, đến công ăn việc làm của người dân. Trên cơ sở ấy Việt Nam có thể sắp xếp lại sự phát triển của mình cho mang tính hiệu quả cao và bền vững hơn trong tương lai.”

Phát triển thị trường nội địa

Không chối cãi những khó khăn trước mắt năm 2009, ông Bùi Kiến Thành viện dẫn là vì một mặt Việt Nam sẽ không còn thị trường xuất khẩu phong phú như 2008 và trước đó nữa, do đó Việt Nam phải tính một hướng khác là phát triển thị trường nội địa:

“Việt Nam có dân số trên tám mươi triệu, thị trường Việt Nam hiện nay phần lớn là nông dân, hơn 70%. Sự tiêu dùng trên thị trường Việt Nam còn rất lớn, không phải giống như những thị trường tiên tiến bên Mỹ gọi là thị trường tiêu dùng đã bị bội thực-saturated- không còn sức để mà tiêu thụ nhiều nữa. Việt Nam vẫn còn là thị trường cần được cung ứng hàng hóa để tiêu dùng. Có thể nói một ưu thế đặc biệt của Việt Nam là thị trường nội địa có thể phát triển được để nền kinh tế tiếp tục phát triển tốt.”

Mặt khác, ông nói, tùy theo chính sách và tùy theo quyết tâm của cấp lãnh đạo, nếu cố phát triển về mặt công suất, sản xuất và tiêu thụ trên thị trường nội địa thì chẳng những Việt Nam tránh bị suy thoái nặng mà còn có thể giữ mức tăng trưởng đề ra.

Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong ba tháng cuối 2008, một số xí nghiệp nước ngoài dựa vào lợi thế của Việt Nam là nhân công giá rẻ bắt đầu gặp khó khăn. Bà Phạm Chi Lan cho hay khoảng ba vạn lao động ngành dệt may ở thành phố Hồ Chí Minh đã mất việc làm. Vẫn theo lời bà, tình hình này sẽ tiếp tục lan sang những ngành khác, và đứng về góc độ kinh tế thì đây là mối lo mà chính phủ phải quan tâm nhiều nhất:


Một số nhà đầu tư thường đặt Việt Nam làm gia công hoặc là dùng Việt Nam để làm hàng hóa xuất đi các nước thì nay họ cũng đình lại vì họ không còn làm được. Thậm chí có người tạm thời đóng cửa nhà máy.
Bà Phạm Chi Lan

“Chính phủ trong các nhóm giải pháp của mình cũng đã nhận thức được cho nên trong các ưu tiên thì cũng là hỗ trợ khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là khu vực xưa nay tạo được nhiều việc làm nhất, đồng thời cũng đang chăm lo cho khu vực nông nghiệp, cho lực lượng lao động ở nông thôn. Gần 60% lao động của Việt nam làm việc ở nông thôn. Nếu có chính sách hỗ trợ tốt để cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đứng được thì đây là những lực lượng chính tạo việc làm mà người dân cũng sẽ tìm được cách ra khỏi khó khăn của chính mình.”

Ông Bùi Kiến Thành thì tính toán là mỗi một năm khoảng một triệu rưỡi lao động đi vào thị trường, một triệu hai lao động từ nông thôn chuyển qua thành thị, vị chi mỗi năm phải tạo thêm khoảng hai triệu rưỡi việc làm mới . Đó là chưa kể tới con số những lao động bị sa thải. Theo ông, tạo ra bao nhiêu triệu công ăn việc làm mỗi năm rất là quan trọng cho vấn đề an sinh xã hội:

“Muốn được như vậy phải có chính sách phù hợp. Việt Nam giàu lao động cần cù, có bản lĩnh, nhưng mà lại thiếu vốn. Việc đấy là nhà nước cần giải quyết vấn đề vốn để cho các doanh nghiệp phát triển. Cái đấy nằm trong tầm tay nhà nước qua một chính sách tiền tệ phù hợp.”

Cần tiêu diệt tham nhũng

Vấn đề thứ hai, ông cho rằng quản lý nhà nước thế nào cho thông thoáng, tạo điều kiện, tạo môi trường hoạt động bình đẳng.

Ông kết luận vấn đề then chốt là kinh tế càng khó bao nhiêu thì nhà nước càng phải tránh vấn để tham nhũng, bởi vì:

“Vấn đề tham nhũng được nêu ra nhiều lần trước quốc hội mà giải quyết không xong. Tham nhũng là từ nơi có quyền lực, mà quyền lực nằm trong tay ai? Đó là hoàn toàn trong phạm vi nhà cầm quyền phải giải quyết để đưa nền kinh tế tiến lên, tránh nguy cơ thất nghiệp và nguy cơ mất an ninh xã hội.”

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: