Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Nhiều công nhân xuất khẩu bị mất việc nửa chừng

Posted by BEAR on Tháng Hai 20, 2009

Công nhân cần làm gì để được bồi thường?

Hồi đầu tháng 2, 2009 Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội tuyên bố doanh nghiệp nước ngoài phải bồi thường cho công nhân trong trường hợp này. Tuy nhiên đến nay điều đó vẫn chưa thấy xảy ra.

Một số tổ chức của người Việt hải ngoại bảo vệ quyền lợi của công nhân Việt Nam hiện đang chú ý đến vấn đề này, trong đó có Ủy Ban Hoa Kỳ Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam (UBHK-BVNLĐVN).

Nhã Trân phỏng vấn đại diện của tổ chức này nhằm tìm hiểu công nhân có thể làm gì để được doanh nghiệp bồi thường. Được hỏi theo Luật Lao Động người công nhân bị thôi việc trước hạn hợp đồng có được bồi thường hay không, Chủ tịch của UBHK-BVNLĐVN là Giáo sư Nguyễn Quốc Khải cho biết:

GS Nguyễn Quốc Khải: Trên nguyên tắc thì doanh nghiệp phải bồi thường. Ít nhất là họ phải cung cấp phương tiện để chuyên chở những người công nhân đó về quê hương. Đồng thời họ phải trả tiền bảo hiểm lao động, tùy theo những điều trong hợp đồng đã ký kết với người công nhân và tùy theo luật lao động của đất nước mà người công nhân đang làm việc.

Nhã Trân: Việt Nam cũng công bố như thế nhưng những công nhân mà chúng tôi hỏi thăm đều nói chưa nhận được một bồi thường nào từ doanh nghiệp nước sở tại. UBHK-BVNLĐVN có ý kiến thế nào? Công nhân phải về nước trước hạn hợp đồng có thể làm gì trong tình huống này?

Biết quyền lợi của mình

GS Nguyễn Quốc Khải: Thường thường các chủ nhân biết công nhân không rõ luật lệ nên họ có thể lờ chuyện bồi thường đi. Thành ra UBHK-BVNLĐVN cũng như tổ chức CAMSA ở Mã Lai cũng đã thông báo cho công nhân biết về những quyền lợi của mình để công nhân đòi hỏi những điều đó. Nếu những chủ nhân ấy vẫn tiếp tục không tôn trọng hơp đồng thì tất nhiên là tổ chức CAMSA cũng như UBHK-BVNLĐVN sẽ có thể can thiệp như đã làm trong quá khứ.

Liên lạc tổ chức người Việt nước ngoài

Nhã Trân: Thưa ông có thể cho biết cụ thể CAMSA hoặc UBHK-BVNLĐVN đã can thiệp ra sao để công nhân đòi sự bồi thường của doanh nghiệp?

GS Nguyễn Quốc Khải: Trong quá khứ, vào năm 2008 CAMSA bao gồm UBHK-BVNLĐVN đã can thiệp cho một số trường hợp ở Mã Lai cũng như ở Jordan… Chúng tôi có người đại diện của tổ chức tại địa phương, và cũng có người lo về pháp luật, ví dụ như luật sư có mặt để giúp công nhân ngay tại chỗ, giúp làm đơn để các công nhân ký vào, và nhờ tòa án xét xử.

Vào cuối năm 2008, CAMSA đã hợp tác với Cục Lao Động Mã Lai làm trung gian giải quyết thỏa đáng cho 28 công nhân đang làm việc tại công ty Hong Nam ở tỉnh Kedah. Cả chủ lẫn thợ đều gặp khó khăn vì tình hình kinh tế suy thoái toàn cầu lan rộng. Công ty không có đủ việc làm cho công nhân. Với số giờ làm việc ít hơn (2-4 ngày/tuần), lương của công nhân giảm xuống đáng kể từ US $214/tháng xuống còn US $37-US $158.

Cuộc hòa giải thành công. Công ty Hong Nam đồng ý trả tiền máy bay và xe bus để đưa công nhân Việt-Nam về nước và hoàn trả công nhân những tiền đặt cọc. Công nhân không phải trả một chi phí nào khác ngoại trừ sơn lại nhà ở với vật liệu do công ty cung cấp.

Tôi cũng muốn nói thêm là Việt Nam đã bàn đến vấn đề bảo hiểm lao động, bảo hiểm thất nghiệp rồi. Thế nhưng họ mới bắt đầu vào năm 2009 và theo nguyên tắc thì công nhân phải đóng tiền 12 tháng thì mới bắt đầu được hưởng quyền lợi này.

Phía chính phủ Việt Nam

GS Nguyễn Quốc Khải:  Tôi nghĩ là Bộ LĐTBXH nên để ý đến chuyện này, nên chú trọng đến việc phối hợp với các Tòa Đại Sứ ở địa phương để bênh vực công nhân Việt Nam ở nước ngoài.

Nhã Trân: Nhưng có những doanh nghiệp nói là họ cũng bị thiệt hại và đây là do hậu quả chung của kinh tế toàn cầu, nên không bồi thường cho công nhân. Trong trường hợp này luật lao động có thể bảo vệ cho công nhân hay không?

GS Nguyễn Quốc Khải: Trên nguyên tắc thì lý luận như thế không được. Trong mọi trường hợp chủ nhân vẫn cứ phải theo khế ước mà hai bên đã ký với nhau. Ngoài ra có thể có những trường hợp đặc biệt mà luật ở địa phương cho phép contract thay đổi tùy theo tình hình của mỗi nước.

Nhã Trân: Giả thử phía Việt Nam đã thúc giục nhưng doanh nghiệp vẫn không chịu bồi thường thì có biện pháp nào khác để họ bồi hoàn những mất mát cho công nhân? Có phải là liên lạc với Bộ Lao Động nước sở tại, để đưa lên tiếng nói của người công nhân Việt Nam?

Liên lạc tổ chức lao động địa phương

GS Nguyễn Quốc Khải: Đúng. Mình có thể đưa vấn đề đó lên cho Bộ Lao Động của nước sở tại. Thông thường các Bộ Lao Động có những người gọi là mediator tức là người hòa giải. Họ sẽ đứng làm trung gian để hòa giải đôi bên trước. Nếu hòa giải không xong, người lao động có thể nhờ luật sư, hay họ sẽ bầu ra một người đại diện để xin tòa án xét xử vụ này. Thủ tục ở mỗi quốc gia có thể thay đổi đôi chút, nhưng tổng quát là như vậy.

GS Nguyễn Quốc Khải: Tôi thấy hình như là các công nhân Việt Nam chưa được học hỏi về những cái đó. Có lẽ một phần là vì vấn đề ngôn ngữ. Trước khi Việt Nam gửi công nhân đi nước nào, Tòa Đại Sứ Việt Nam ở tại địa phương đó cần phải kiếm những tổ chức công nhân địa phương để có thể nhờ họ trợ giúp công nhân Việt Nam khi có tranh chấp.

Nhã Trân: Cám ơn ông về những ý kiến của UBHK-BVNLĐVN về việc công nhân phải về nước trước hạn hợp đồng cần làm thế nào để có thể được doanh nghiệp bồi thường

Bi kịch xuất khẩu lao động thời khủng hoảng

Thế chấp sổ đỏ, vay nặng lãi để đi xuất khẩu lao động với mong muốn thoát nghèo, nhưng chỉ sau 3 tháng, nhiều lao động đã khăn gói về nước vì nhà máy thu hẹp sản xuất, cắt giảm nhân công.

Cuối năm 2008, khi công ty xuất khẩu lao động đến giới thiệu về chương trình đi làm việc ở Đài Loan, Trương Thị Thúy Nga (quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đăng ký tham gia. “c đó em đã trúng tuyển Cao đẳng Thực phẩm Đà Nẵng, nhưng nghĩ nhà nghèo, bố mẹ buôn bán nhỏ không thể đủ tiền nuôi 3 em ăn học, nên em quyết đi xuất khẩu lao động Đài Loan”, Nga kể.

Qua sự giới thiệu của người quen, bố Nga, người có thời gian đi xuất khẩu lao động dạng thuyền viên nghề cá, cũng xin đi làm xây dựng tại Nga. Để xoay được 5.700 USD chi phí cho Nga và 3.000 USD chi phí cho bố, gia đình đã phải thế chấp sổ đỏ, vay mượn họ hàng, người quen. Cuối năm 2008, hai bố con lần lượt xuất cảnh, mang theo hy vọng kiếm đủ tiền nuôi 3 đứa em Nga ăn học thành tài.

Sang đến Đài Loan, mới học việc một tuần thì Công ty Ân Mậu, nơi Nga làm việc, tuyên bố thu hẹp sản xuất, cắt giảm nhân công vì không có đơn hàng. Mất 3 tháng chờ đợi, mỗi tháng nhận lương cơ bản 17.280 đài tệ (khoảng 8,5 triệu đồng Việt Nam), đầu tháng 2, Nga cùng nhóm bạn phải về nước. “Bố em mới đi xuất khẩu sang Nga được hơn 2 tháng, cũng gọi điện về nói ngành xây dựng không có việc nên sắp phải về”, Nga kể.

Nga cho biết, gia đình như đang ngồi trên đống lửa khi con nợ hối thúc, trong khi phía công ty đưa đi Đài Loan thông báo chỉ thanh toán được 3.400 USD. “Em chưa biết làm gì bây giờ, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xin việc trong nước rất khó khăn. Mà có xin được thì với người không có nghề như em, thu nhập cao lắm cũng chỉ 1-1,5 triệu đồng, làm sao có thể bù đắp khoản chi phí đã mất khi đi xuất khẩu”, giọng Nga rưng rưng.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, với tình hình suy thoái kinh tế ngày càng nghiêm trọng, mục tiêu xuất khẩu 90.000 lao động trong năm nay của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là rất khó khả thi.

Nhiều công nhân xuất khẩu bị mất việc nửa chừng

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến nhiều hãng xưởng phải đóng cửa hoặc thu nhỏ sản xuất, hàng triệu công nhân bị mất công ăn việc làm.

Nói một cách khác, đã có nhiều công nhân lao động Việt qua các nước bị mất việc giữa chừng vì công ty bản địa không kiếm được hợp đồng mua bán như trước nên buộc lòng phải thu hẹp sản xuất và giảm bớt công nhân.
Hàng ngàn người mất việc

Tại Cộng hoà Czech, từ hai đến năm ngàn lao động Việt Nam bị mất việc.
Cục Quản lý Lao động Nước ngoài thuộc Bộ Lao động, Thương bình và Xã hội Việt Nam loan tin sẽ can thiệp để công nhân không phải trắng tay khi trở về nước.

Tình trạng thất nghiệp của lao động Việt ngày càng rõ nét tại ba thị trường xuất khẩu lao động khác của Việt Nam như Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia.

Tình trạng đáng buồn mà người lao động Việt ở nước ngoài đang đối mặt vào khi kinh tế toàn cầu suy trầm đã khiến một số tổ chức của người Việt Nam ở hải ngoại, chuyên bênh vực quyền lợi cho công nhân Việt ở nước ngoài như CAMSA trong Boat People SOS ở Hoa Kỳ, Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam tại Ba Lan và Australia, lên tiếng báo động cũng như tìm cách can thiệp quyền lợi cho họ.

Về phần mình, Chính phủ Việt Nam cũng đang tìm hướng giải quyết ổn thoả một số lượng đông đảo công nhân khăn gói trở về nước.

Từ Đài Loan, nơi có trên tám mươi mốt ngàn lao động Việt, một công nhân nói:  “Tưởng nó nói là nghỉ ba tháng thôi. Ba tháng không có việc thì vẫn phải ở trong xưởng đấy mà việc không có làm, không có lương. Trường hợp này thì giải quyết thế nào ạ?”

Từ thành phố Busan của Hàn Quốc, một chị công nhân than vãn:  “Mất việc thì không có tiền, không có chỗ ở, có người hai ba tháng không tìm được việc làm, anh em phải ở nhờ chỗ bạn bè cũng là công nhân di trú hoặc là nhờ tạm những người bạn lưu vong. Không có tiền thì vay mượn bạn bè, nói chung thì khó khăn, ai cũng khó khăn cả.”
Thanh Trúc xin được nhắc về từ lưu vong mà chị công nhân ở Busan sử dụng, ám chỉ những lao động trong nước khi qua Hàn Quốc mà bỏ trốn ra ngoài kiếm việc khác thì tự gọi mình là lưu vong, có nghĩa là công nhân bất hợp pháp tại xứ này.
Đã khó, còn khổ thêm

Về chuyện thất nghiệp của lao động Việt Nam ở Malaysia, một thị trường xuất khẩu hứa hẹn của Việt Nam với trên dưới một trăm ngàn công nhân.

Hai trong sáu chị đi một lượt từ Việt Nam qua làm cho hãng Sony hồi giữa năm ngoái, đã phải ở nhà từ cuối 2008 đến giờ vì công ty không có việc nên trả họ lại cho môi giới. Sau đó môi giới Malaysia kiếm việc cho họ làm ở một quán cơm:

“Bọn em làm được hơn chục ngày thì bọn em không kham nỗi, không theo đuổi được vì không biết tiếng, với lại công việc và chỗ ở nó phức tạp với con gái như bọn em nên bọn em yêu cầu họ tìm việc làm trong công ty. Trước khi nghĩ em cũng nói cho bà quản lý, bọn em nghỉ nửa tháng nay rồi.



Tháng Một vừa rồi là em không nhận được đồng lương nào. Tháng Hai đây thì bà đưa cho bọn em 230 ringgit tiền Malaysia, không biết đấy là tiền công làm mười ngày tháng Một đấy hay là tiền lương cơ bản.  Bà ấy quát bà ấy chửi bà ấy nói nhiều lắm mà bọn em chẳng hiểu cái gì hết. Bây giờ em vẫn cứ ở vậy.”

Người thứ hai, chị  Ít, mô tả với Thanh Trúc về bà môi giới người Malaysia này:

“Bà còn đánh em nữa chị ơi, lấy giày của bà đánh em đấy. Đưa tiền cho em mà không đưa tận tay đâu, bà vứt xuống đất, em định không nhặt xong rồi bà lại bắt em nhặt lên.

Tháng trước em toàn vay mượn của bạn em ăn thôi ạ. Từ tháng Mười Hai là em không được một đồng lương nào. Sáu chị em sang cùng một chuyến bay là bây giờ đều nghỉ ở nhà hết.”
Trách nhiệm?

Được hỏi trong tình cảnh chật vật như vậy thì mấy chị có liên lạc với môi giới Việt nam là công ty Vinamoto để nhờ can thiệp không, chị Lệ trả lời:

“Có gọi về Việt Nam đôi ba lần rồi nhưng các anh ấy cứ trả lời quanh co, ý là để gọi điện sang môi giới bên này can thiệp. Nhưng mà vài tuần vừa rồi em gọi thì họ không nghe máy nữa ạ.”

Để biết thêm thông tin, Thanh Trúc đã năm lần bảy lượt gọi về cho hai nhân viên trong công ty Vinamoto là ông Hậu và ông Hưng. Điện thoại reo nhưng cả hai không bao giờ bắt máy.

Đó là tình cảnh dở khóc dở cười của công nhân Việt ở Đài Loan, Hàn Quốc và Malaysia, bị chủ sử dụng cho nghỉ việc mấy tháng nay vì kinh tế khó khăn.

Trên đường dây viễn liên gọi qua sứ quán Việt Nam tại Kuala Lumpur, Thanh Trúc được ông Khánh trong Ban Quản Lý Lao Động Việt Nam tại Malaysia tiếp chuyện:

Cái này là trách nhiệm chung của Đại sứ quán chúng tôi. Chúng tôi đã có văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp cũng như các bên liên quan, gởi về phía bộ và chính phủ Việt Nam rồi.

Cũng nói rất rõ vấn đề này rồi. Một mặt  thì chúng tôi trực tiếp can thiệp với chủ để trường hợp có thể tìm được công việc  mới cho họ. Trong trường hợp không thể tìm được công việc mới mà phải đưa về thì chủ sẽ có trách nhiệm. Ngoài ra theo pháp luật Malaysia thì chủ cũng phải có một khoản hỗ trợ nhất định để người lao động khi trở về nước”.

Khi Thanh Trúc nêu câu hỏi là Toà đại sứ Việt Nam có hay biết về sự khó khăn của công nhân bị mất việc nửa chừng như trường hợp sáu chị ở hãng Sony không, ông Khánh nói:

“Chị nói giùm với người lao động là gọi điện hoặc là viết đơn lên ban. Nếu mà thực sự vụ việc đang gấp thì sớm liên hệ để chúng tôi còn có phương án giải quyết. Hay chị cứ cho tôi số trực tiếp của lao động đi, có gì chúng tôi liên hệ trực tiếp với lao động.

Trách nhiệm của đại sứ quán là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam bên này.”

Việt Nam cũng có cơ quan đại diện ở Đài Loan là Phòng Kinh tế Văn hoá. Trưởng phòng Quản Lý Công Nhân Việt Nam thuộc Phòng Kinh Tế Văn Hoá Việt Nam ở thủ đô Đài Bắc, ông Nguyễn Bá Hải, trình bày về hoàn cảnh công nhân  bị thất nghiệp trước khi hết hợp đồng và phương cách mà Phòng Quản Lý Công Nhân Việt Nam phải giải quyết:

“Ở Đài Loan hiện nay thì  tình trạng đó là có đấy. Có một số lao động của mình là bị thu hẹp sản xuất. Chủ có thể là cho nghỉ  phép một tuần mấy ngày để chờ có việc để làm. Trường hợp thứ hai là cho nghỉ mấy tháng. Trường hợp thứ ba là cho nghỉ luôn.

Thế thì cái này nó  thực hiện  theo chế độ của Đài Loan là cho giãn thợ do không có việc làm đấy. Từ cuối năm ngoái cho đến tháng Một tháng Hai này là khoảng độ hơn một nghìn người phải về nước thuốc cái diện này.

Theo luật của Đài Loan là nếu như mà họlàm ở đây một năm rồi  thì họ được chủ đền bù cho một tháng lương cơ bản hoặc một năm rưỡi thì được một tháng rưỡi lương cơ bản là mười bảy nghìn hai trăm tám mươi (17.280) khoảng độ sáu trăm đô la Mỹ, và chủ cho cái vé về.

Đấy là tôi nói về chế độ của phía Đài Loan. Còn trước  khi đi họ có đóng cái phí dịch vụ cho công ty bên Việt Nam thì họ về họ được thanh toán lại.

Ví dụ như sang đây hai năm họ đóng một nghìn đô chẳng hạn, họ mới làm được một năm thì họ về họ được lấy lại 500 đô trong cái số đã nạp cho công ty Việt Nam. Thì cái đó rất là sòng phẳng và Bộ Lao Động cũng đã có văn bản chỉ đạo các  công ty phải thể hiện đúng cái qui định của Luật Xuất Khẩu Lao Động.”

Chúng tôi đã có các biện pháp để chỉ đạo các doanh nghiệp để hỗ trợ người lao động trong trường hợp khó khăn. Nó không phải chỉ là một hai biện pháp đơn giản mà nó  là một hệ thống các biện pháp tổng thể.

Ô. Tống Hải Nam

Tình cảnh người lao động

Thưa đó là hướng giải quyết của phía sứ quán Việt Nam ở Kuala Lumpur  cũng như Phòng Văn Hoá Kinh Tế Việt Nam ở Đài Bắc.

Trên đường dây gọi về Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội ở Hà Nội, ông Tống Hải Nam, cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nước, cho biết nguyên tắc là phải bảo đảm quyền lợi cho người lao động:

“Chúng tôi đã có các biện pháp để chỉ đạo các doanh nghiệp để hỗ trợ người lao động trong trường hợp khó khăn. Cái này thì chúng tôi không thể nói qua điện thoại được vì mất rất nhiều thời gian. Nó không phải chỉ là một hai biện pháp đơn giản mà nó  là một hệ thống các biện pháp tổng thể.

Chính bây giờ tôi đang phải làm cái báo cáo  trình các cấp thẩm quyền để báo cáo chính phủ về cái việc này. Tôi phải làm xong trong nửa tiếng nữa.

Chính xác nguyên tắc là phải  bảo vệ quyền và lợi  ích hợp pháp  của người lao động. Trước hết là bảo đảm người lao động không bị thiệt thòi. Đấy là nguyên tắc chung để xứ lý.”

Câu chuyện công nhân xuất khẩu bị mất việc trước khi mãn hợp đồng có thể vẫn là câu chuyện dài ngày nào quyền lợi của người trở về không được giải quyết và hỗ trợ  đến nơi đến chốn.

Mong rằng lời lẽ mà viên chức trong và ngoài nước khẳng định mang lại công bình và hy vọng cho những lao động không may trong bài này.

Từ cuối tháng trước phía Malaysia báo với Toà đại sứ Việt Nam  ở Kuala Lumpur rằng họ sẽ ngưng nhận công nhân thuộc hai ngành dịch vụ và sản xuất. Ông Khánh của Ban Quản Lý Lao Động tại sứ quán ở Malaysia cho hay:

“Theo thông tin bước đầu mà phía  Malaysia cung cấp thì họ sẽ tạm dừng chấp  nhận lao động nước ngoài trong hai ngành thôi là ngành service và ngành manufactoring. Cũng chỉ mang tính chất tạm dừng bởi kinh tế nói chung là khó khăn trên toàn cầu thì nhu cầu cũng ít đi.

Cái thứ hai thì chắc là cũng có một số chính sách liên quan đến người lao động trong nước chị nhé. Không có  nghĩa là tạm dừng toàn bộ mà chỉ đối với hai ngành là ngành services va manufactoring thôi.”

Trong một chương trình Đời Sống Người Việt Khắp Nơi kỳ trước, Thanh Trúc từng trình bày cùng quí vị là trong lúc nhiều công ty và doanh nghiệp Đài Loan, có thuê mướn công nhân nước ngoài,  bị đóng cửa hoặc phá sản vì khủng hoảng tài chánh, thì công nhân Việt Nam vẫn tiếp tục sang đây để rồi không có việc làm.

Tuy nhiên dưới mắt ông Nguyễn Bá Hải, trưởng Phòng Quản Lý Công Nhân Việt Nam ở Đài Bắc, chưa có tín  hiệu nào cho thấy Đài Loan sẽ ngưng nhận thêm công nhân nước ngoài như Malaysia:

“Đài Loan hiện nay những ngành nào mà không có việc ví dụ ngành điện tử hoặc sản xuất ô tô là những ngành lớn thì bị ảnh hưởng thì có một số phải ra về.

Và Đài Loan  cũng chưa có chính sách nào nói là không nhận lao động nước ngoài, người ta chỉ hạn chế thôi. Hạn chế để bảo hộ lao động bản địa.

Tuy nhiên có nhiều công việc như làm ca, làm kíp, một hai ba ca, làm cả đêm ấy, ở đây thì người Đài Loan cũng không hẳn là người ta đã thích làm thì buộc họ vẫn phải nhận lao động nước ngoài trong đó có lao động Việt Nam.

Thành ra  thì họ vẫn xét cho các doanh nghiệp có nhu cầu nhận lao động nước ngoài khi mà họ không tuyển được lao động địa phương.”

Lao động nước ngoài đến Việt Nam ngày càng đông

Lao động nước ngoài đến Việt Nam ngày càng đông, trong khi người lao động trong nước lại bị mất việc làm. Đó là kết luận mà báo Lao Động loan báo ngày hôm qua về hiện trạng thị trường lao động Việt Nam.

Kết luận vừa nêu được dẫn từ thông tin khảo sát do Uỷ Ban Các Vấn Đề Xã Hội của Quốc Hội đưa ra, sau khi khảo sát một số khu công nghiệp phía Nam.

Tính đến năm 2008, số người nước ngoài đến làm việc tại khu công nghiệp Bình Dương là gần 3 ngàn 500 người, tăng hơn 11% so với năm 2007. Riêng tại Sài Gòn thì có hơn 10 ngàn người nước ngoài đang làm việc.

Thành phần lao động nước ngoài không chỉ có chuyên gia, chuyên viên, mà còn có cả lao động phổ thông. Điều đáng lưu ý, là các doanh nghiệp có vốn FDI lại có xu hướng tuyển lao động nước ngoài ngày càng nhiều.

Bản tin của Lao Động nhận định, là trong bối cảnh thất nghiệp gia tăng, khuynh hướng này khiến cho tình hình đáng lo ngại hơn.

Ít nhất 200.000 người thất nghiệp

Hơn 50.000 lao động Việt Nam bị mất việc làm tại 10 tỉnh, thành trong năm 2008 theo các báo cáo mới công bố của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Sang năm 2009, vẫn theo cơ quan này, con số thất nghiệp có thể tăng lên tới 200.000 lao động trong cả nước.

Xu hướng khó tránh khỏi

Theo Hiệp hội này, xu hướng khó tránh khỏi trong suốt năm 2009 sẽ là việc hàng loạt doanh nghiệp trong nước bị tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế – tài chính, trong đó sẽ có môt tỉ lệ không nhỏ buộc phải tuyên bố phá sản, hoặc thu hẹp cơ cấu, dẫn tới hệ quả phải cắt bỏ nhiều suất lao động.

Hà Nội: 10 ngàn người thất nghiệp

Tình hình công nhân mất việc làm diễn ra tại khắp mọi nơi. Ngay tại thủ đô Hà Nội, trong thời gian qua gần 10 ngàn lao động Hà Nội mất việc làm, ngoài ra còn có hơn 1000 người khác thiếu việc, từ tháng 3 trở đi.

Tình hình mất việc ngày một tăng

Truớc tình hình mất vịêc ngày một tăng cao, Bộ Lao động Thương binh Xã hội hỗ trợ cho Hà Nội từ 10 đến 15 tỷ đồng để giải quyết việc làm.

Ngân sách của thành phố Hà Nội cũng được tăng cường tù 20 tới 25 tỷ đồng để cho lao động vay mượn, tự tạo công ăn việc làm cho mình.

Ông Tín, một quan chức ngành lao động tại Hà Nội tỏ ra không mấy tin tưởng vào những biện ấy:

“Ở Việt Nam, thông tin không được chính xác, không phổ biến rộng rải,  nhà nước giải thích một cách chung chung, khi đề cập tới biện pháp kích cầu, với nhiều hứa hẹn là  sẽ tạo thêm vịêc làm. Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng khó khăn sẽ còn kéo dài, ảnh hưởng bởi suy thoái toàn cầu.”

Báo Vietnam Economy cũng đưa ra con số, ở thành phố Hồ Chí Minh, năm rồi có hơn 10 ngàn người mất việc, và năm nay, nhiều doanh nghiệp nơi đây chỉ mới nhận được đơn đặt hàng đến hết tháng 3.

Ông Tín, nhìn nhận chuyện mất việc hầu như là tình trạng chung tại Việt Nam hiện giờ:

“Trước đây, doanh nghịêp nước ngoài ồ ạt đưa vốn vào đầu tư, mở mang  kinh doanh tại Việt Nam, đến khi kinh tế thế giới suy thoái, tại nước họ cũng bị thất nghiệp, cho nên các cơ sở sản xuất nước ngoài đành phải sa thải số lớn công nhân người Việt”.

Tình trạng thất nghiệp cao hiện là một vấn đề thời sự nóng bỏng mà cả nước quan tâm, bà Trương Thị Mai, chủ nhịêm ủy ban các vấn đề xã hội tuyên bố , năm 2009 là một năm khó khăn đối với các doanh nghiệp.

Một khi doanh nghiệp bị đình đốn, rồi phá sản, thì người lao động bị mất việc là chuyện dễ hiểu.

Tình trạng thất nghiệp trên thế giới

Tình trạng thất nghiệp cũng là mối quan ngại hàng đầu của ILO tức tổ chức lao động thế giới với dự báo là trong năm 2009, Châu Á sẽ có thêm trên 7 triệu người mất việc.

Cũng theo ILO, trong tình huống tồi tệ nhất thì tổng số người mất việc tại lục địa này có thể lên tới 113 triệu.

Theo ILO thì những quốc gia có mức tăng lao động cao nhất tại Á Châu từ nay đến sang năm là Pakistan với 6,1%, Campuchia và Philippines là ngang nhau ở mức 4,9%.

Trong báo cáo của ILO không thấy đề cập đến mức tăng này của Việt Nam. Và để có thể thu nạp số lao động mới này thì cần phải tạo thêm chừng 51 triệu việc làm mới.

Thất nghiệp tăng mạnh ở làng nghề

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: