Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Truyện dài kỳ : đất đai (10) …updating

Posted by BEAR on Tháng Tư 19, 2009

15/4- Nông dân Tiền Giang đòi bồi hoàn đất đai theo luật định

Vào nửa đêm 15 rạng ngày 16/4, công an đã bao vây và xông vào chùa Liên Trì ở Quận 2, TP Sài Gòn hạch sách, làm náo động chốn trang nghiêm và gây sợ hãi cho các tăng ni trong chùa.

Được biết lý do của việc bao vây này là vì chùa Liên Trì đã cho một số đồng bào tỉnh Tiền Giang vào chùa nương náu qua đêm, khi họ bị công an ruồng bắt và đàn áp sau cuộc biểu tình đòi trả lại đất đai trước tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Lê Duẩn vào ngày hôm trước. Hà Giang theo dõi sự việc và tường trình.

Trong ngày 13, 14 và 15 tháng 4 vừa qua, gần 100 đồng bào tỉnh Tiền Giang đã kéo về Sài Gòn biểu tình trước Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Lê Duẩn, để đòi hỏi nhà nước VN phải giải quyết dứt điểm những bồi hoàn liên quan đến đất đai cho họ, đã bị chính quyền địa phương thi hành sai trái. Đoàn người biểu tình ban ngày thì bị công an bao chặt phong tỏa, còn đêm xuống thì họ bị đàn áp và bị bắt ném lên xe đưa về nguyên quán, cho nên họ đã tìm đường lẩn trốn.

Khi bị truy lùng ráo riết, một số đồng bào đã kéo đến cửa chùa Liên Trì ở quận 2 Sài Gòn để xin nương náu. Thượng tọa Thích Không Tánh, vị trụ trì của chùa cho biết thấy đồng bào mệt mỏi và đói khát, ông đã mở rộng cửa chùa để cho họ vào tá túc qua đêm, nhưng không ngờ việc làm này đã mang phiền nhiễu đến cho chùa.

Thượng tọa cho biết vào khoảng 2 giờ sáng giờ VN, thì cửa chùa đã được đóng lại, và hiện có khoảng 50 người dân oan đang ở phía sau chùa.

Tỉnh không giải quyết phải lên Thành Phố

Bà Nguyễn Thị Vân, một dân oan ẩn náu sau chùa cho biết trong chuyến đi này, đồng bào đã quyết tâm tạo sự chú ý để đòi hỏi nhà cầm quyền phải giải quyết cho bằng được những khiếu nại của họ, vì thế khi bị đuổi bắt, họ đã tìm chỗ lẩn trốn để gần sáng lại tìm cách quay lại Sài Gòn tiếp tục biểu tình.

“Hai ba ngày nay chúng tôi lên TP Hồ Chí Minh ạ, tại sự oan ức của dân oan, tôi bị lấy đất của tôi, thu hồi của tôi 6630 mét vuông đất, mà huyện Cai Lậy nó đàn áp, nó bắt gia đình tôi, nó đền bù trái lương tri sai pháp luật.

Dạ, đi biểu tình thì công an hốt lên xe đặng bắt về, bắt về tỉnh Tiền Giang, mà về Tiền Giang thì chúng tôi không chịu, tại vì về mấy lần đâu có ai giải quyết gì đâu, không có ai giải quyết gì hết trên hết trọi á chúng tôi không chịu về. Thì công an bảo vệ lùa lên xe như là lùa vịt Tàu vậy đó, không đi là nó hốt nó quăng lên xe, nó làm dữ lắm, rồi chúng tôi không chịu về nhà rồi mới tìm cách chia ra nhiều nhóm để chạy lên TP Hồ Chí Minh nữa.

Ông Trần Văn A cho biết sở dĩ mọi người phải lên đến thành phố vì họ chính quyền địa phương đã chiếm hết đất đai của họ mà không bao giờ chịu bồi hoàn theo luật định để họ có phương tiện tìm kế sinh nhai khác:

“Không có làm ăn gì được cầu cách làm thế nào để cho các cấp lãnh đạo trên hiểu biết biết giải quyết sớm cho chúng tôi được làm ăn chứ nếu chúng tôi lên đây thì bị công an trên đây đe dọa mời bắt, còn nếu về dưới quê nó cũng vẫn mời vẫn bắt.

Chúng tôi nhờ giúp chúng tôi để cho cấp trên giải quyết sớm đi để chúng tôi được yên ổn làm ăn, chớ bây đe dọa quá sợ rồi, bắt bớ nhiều quá. Ở tỉnh thì không thể giải quyết được!”

Đất nông nghiệp đang bị biến tướng

Cùng với việc thiếu quy hoạch rõ ràng, đất nông nghiệp đang bị biến tướng, giá đội lên khiến người nông dân không thể tích tụ được. Nhiều chuyên gia cho rằng, căn nguyên là phải giải quyết được vấn đề chuyển đất nông nghiệp thành vốn, không phải tài sản để dành.

Nông dân có ít quyền với đất nông nghiệp

Anh Tăng Xuân Trường, xóm May, xã Gia Tân, huyện Gia Lộc (Hải Dương) được mọi người trong vùng tôn là đại ca trồng rau”. Vụ đông vừa qua, anh lãi hơn 1 tỷ đồng từ gần 30 mẫu, đất trồng rau hầu hết là đi thuê.

Anh Trường cho biết: “Nếu trồng rau theo cách của tôi, với một sào người nông dân có thể lời tới 1,5 triệu đồng, nếu có nhiều ruộng thì số tiền lời sẽ là hàng trăm triệu. Với diện tích 50-60 mẫu ruộng, mỗi năm vợ chồng tôi thu về hàng trăm triệu là chuyện bình thường”.

Chính vì vậy, ngoài hơn 1 mẫu đất ruộng của bố mẹ và những người thân thích nhất, anh và vợ đã đến từng hộ dân ở xã Gia Xuyên, Tân Hưng – nơi có nhiều đất bỏ không, đặt vấn đề cho thuê để trồng rau, nhưng người dân nhất định không cho thuê mà chỉ… cho mượn. Trồng rau xong cày lại, trả họ là được. Họ bảo, biết thế nào mà cho thuê, đất đai nông nghiệp là “nhạy cảm” lắm.

Chưa có quy hoạch rõ ràng về đất công nghiệp, đô thị và nông nghiệp nên nông dân vẫn đang “ngõi” giá đất trồng trọt tăng. (Ảnh vtc)


Do vậy, dù anh trả dân 150kg thóc/vụ từ mượn đất, tính ra gấp 4-5 lần thu nhập từ cấy lúa, người dân vẫn không cho thuê. Anh Trường nói muốn có vài trăm mẫu ruộng để làm nhưng đành chịu. Thậm chí, kể cả khi anh bỏ ra nhiều tiền để mua đứt của dân, họ cũng không bán.

Lý giải điều này, TS. Lê Đức Thịnh, Viện Chính sách Chiến lược PTNN-NT, cho rằng, luật pháp và chính sách đất đai hiện hành thiếu minh bạch, chưa rõ ràng, những hành động lấy đất bấy lâu nay của chúng ta làm cho người nông dân, đặc biệt là nông dân Đồng bằng sông Hồng, luôn trong tình trạng sợ sệt, lo lắng, không biết mình bị lấy đất lúc nào.

Theo TS. Vũ Trọng Bình, Giám đốc Trung tâm Thông tin NN&PTNT, trong khi đất công nghiệp, đô thị rất rõ ràng về mặt sở hữu, thì với đất nông nghiệp điều này thể hiện không rõ ràng. Chính vì thế, việc nông dân dùng giá trị đất để cho thuê, bán hay thế chấp, lấy vốn đầu tư kinh doanh là hạn chế vì đất nông nghiệp không phải tài sản của họ.

Do vậy, người nông dân không có quyền gì nhiều với đất nông nghiệp, mà lẽ ra, đây là tài sản duy nhất họ có thể thế chấp lấy tiền đầu tư sản xuất. Trong khi đó, đất nhà ở, đô thị và công nghiệp hoàn toàn có thể thế chấp được.

Luật Đất đai sửa đổi, ông Bình lập luận, nếu không sửa được về mặt sở hữu thì phải quy định quyền của nông dân lớn hơn trong việc sử dụng đất đai cũng như thời gian sử dụng ổn định, lâu dài.

Muốn quy định thế nào thì quy định, mục đích cuối cùng phải để nông dân yên tâm đầu tư. Đất đó phải thế chấp được ngân hàng với giá trị thực trên thị trường, mà không sợ bị lấy đi lúc nào và có thể mua bán một cách minh bạch, thoải mái.

Đất đai mà không thành vốn cho nông dân được trong đầu tư thì quy định sở hữu đó không có giá trị và quyền của người nông dân bị hạn chế“, ông Bình nhận xét.

Tốc độ tích tụ = tốc độ rút lao động khỏi nông nghiệp

TS. Vũ Trọng Bình nhấn mạnh, cái chính là quá trình tích tụ giờ cấp bách hơn nhưng có giải quyết được vấn đề người dân ở nông thôn hay không?

Nếu rút nông dân ra làm công nghiệp và dịch vụ thì đương nhiên đất tích tụ, nhưng nếu cho tích tụ nhưng lao động nông nghiệp không được rút ra mà lại trở thành người làm thuê, không có đất, bị bần cùng ở nông thôn thì cái đấy là vấn đề cần phải giải quyết.

Do vậy, tốc độ tích tụ ruộng đất phải bằng đúng tốc độ nông dân rút khỏi nông nghiệp, còn không thì phải xem lại. Chúng ta không phản đối tích tụ nhưng phải tích tụ giải quyết được vấn đề nông dân“, ông Bình khẳng định.

Quan trọng hơn, cần tạo ra sự tách bạch giữa các thị trường đất, vốn đang lẫn lộn hiện nay, như đất nông nghiệp lẫn lộn đất công nghiệp, đô thị nên giá bị đội lên.

Việt Nam, nông dân vẫn hy vọng mai sau đất nông nghiệp thành đất đô thị nên đất nông nghiệp bị biến tướng, nửa nông nghiệp nửa đô thị, giá bị đẩy lên tiếp cận thị trường đất đô thị, làm cho nông dân không thể tích tụ được ruộng đất.

Điều này chỉ có thể giải quyết bằng cách quy hoạch rõ ràng, công bố minh bạch, tách đất nông nghiệp ra khỏi đất đô thị, công nghiệp để giá đất nông nghiệp tụt xuống.

Đừng để ông đầu cơ đất thắng

Nếu tích tụ đất mai sau làm trang trại, dịch vụ thì đó là tích tụ để đầu cơ, chứ không phải cho sản xuất nông nghiệp. “Chúng ta không phản đối người khác tích tụ nhưng nên ưu tiên cho người trực tiếp làm nông nghiệp, người gắn bó với mảnh đất thì mới ổn định cuộc sống xã hội“, ông Bình nói.

Theo ông Bình, nói hạn điền cản trở tích tụ cũng không hoàn toàn đúng. Qua một số nghiên cứu, tổng kết cho thấy số lượng nông dân có diện tích tiếp cận với hạn điền hoặc trên hạn điền là rất ít.

Chẳng hạn tại Đồng bằng sông Cửu Long, con số này chỉ dưới 1%, Đồng bằng sông Hồng còn thấp nữa. Bức xúc hạn điền cứ cho là của 1% nông dân nhưng 99% còn xa mới với tới hạn điền.

Ông Bình cho rằng, cũng không nên giới hạn hạn điền bởi không giải quyết được vấn đề, cái chính là khi giới hạn người ta vẫn tích tụ, mua bán và quá trình này lại diễn ra ngầm, khó kiểm soát. vậy, nên có những điều kiện kèm theo việc tăng hạn điền, không phải là thuế.

Chẳng hạn, khi xây dựng trang trại lớn, người chủ hoặc quản lý trang trại phải có trình độ, sản phẩm phải đạt chất lượng; tài chính, thuế cũng cần minh bạch, lao động có hợp đồng, mua bảo hiểm nông nghiệp… tức là điều kiện của một nền nông nghiệp hiện đại.

Quan điểm của TS. Vũ Trọng Bình là nếu tích tụ ruộng đất từ bao nhiêu hecta trở lên thì anh phải là nông dân, có chứng chỉ, được công nhận nghề nghiệp, như vậy sẽ loại bỏ được những đối tượng lắm tiền nhiều của.

Một ông Hà Nội lắm tiền về cạnh tranh với một ông ít tiền hơn ở nông thôn, nếu cùng trên một thị trường, chắc chắn anh nông dân sẽ thua. Mà cái ông lẽ ra sống dựa vào đất đai thì lại thua, ông đầu cơ thì lại thắng. Nhà nước nên hỗ trợ cho vay vốn để người dân tích tụ, nếu người Hà Nội muốn tích tụ thì về làm nông dân đi“, ông Bình phân tích.

Mô hình doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, rất khác với việc nông dân trực tiếp làm việc. Doanh nghiệp theo đuổi mục đích lợi nhuận, trong khi trang trại không hẳn là lợi nhuận mà phải đảm bảo cuộc sống cho người khác.

Trên thực tế, nhiều DN Việt Nam liên doanh nước ngoài đã mất hết. Nguy cơ này cũng có thể xảy ra nếu nông dân góp đất vào DN, họ có thể mất sạch. Như vậy, nông dân phải trực tiếp quản lý trang trại, sản xuất, trực tiếp tính toán.

Ở tất cả các nước, DN nông nghiệp chỉ sản xuất những sản phẩm liên quan đến công nghệ cao và con giống, dịch vụ cung ứng cho nông dân, còn sản xuất hàng thương phẩm thì kể ở các nước nhỏ, kể cả nước lớn là Mỹ, vẫn là những nông trang“, ông Bình đúc kết.

Từ cuộc rà soát các dự án “Mở rộng Hà Nội”: Khi nhà đầu tư núp bóng Nhà nước

Các panô dự án mọc lên giữa ruộng lúa, sau đó người dân mới được thông báo đất của họ đã nằm trong dự án, tiền không nhận thì được chuyển gửi vào kho bạc Ảnh: Trần Việt Đức

Trong khi, Ngần, người Mường ở xóm Trại Mới, xã Tiến Xuân khoe: “Từ ngày chúng em thành người thủ đô, hội phụ nữ về, cho em hai “nạng” hạt rau”; thì, chồng là Quách Đình Tư cười: “Chúng em vẫn ở cách “năng” Bác 3 tiếng xe bác ạ”. Tiến Xuân là một trong bốn xã của huyện Lương Sơn, Hoà Bình, từ 2008 “trở thành” Hà Nội

“Phúc lợi đô thị” mà người dân ở đây tiếp cận, theo Tư, là… bụi. Hàng ngày có hàng chục xe ben chạy ngang xã lấy đất. Theo Tư: “Không thể sống được vì bụi”. Chính quyền tỉnh Hoà Bình đã ký phê duyệt tới 54 dự án phát triển đô thị trước khi bàn giao bốn xã này. Đặc biệt, có dự án như khu biệt thự nhà vườn xã Yên Bình toàn bộ hồ sơ được tỉnh ký chỉ trong vòng một ngày (29.2.2008). Trong khi, theo một khảo sát của bộ Xây dựng, một dự án như vậy, trong điều kiện bình thường, phải mất tới ba năm để xin phê duyệt.

Nhưng, bụi chỉ là những gì nhìn thấy trên bề mặt. Chàng trai cựu chiến binh Mường này nói đùa: “Bán hết đất cho các dự án rồi chắc là em lại ra đường đánh đàn xin tiền thôi bác ạ. Em đánh đàn hay lắm”. Nhưng, nhiều người Kinh khác không thể hài hước hoá tình cảnh của mình như Tư. Khi chúng tôi vào một nhà dân ở khu vực nông trường Việt Mông (cũ), nay thuộc xã Yên Bài, huyện Ba Vì, chỉ để định mua một ấm trà, người dân liền kéo đến đầy nhà. Ông Ninh, thay mặt bà con nói: “Như trời sập xuống đầu chúng tôi, anh ạ. Đất của chúng tôi đã được tỉnh Hà Tây cũ ký giao cho công ty cổ phần Việt Mông rồi”.

Dự án “làng chè sinh thái” mà công ty Việt Mông trình tỉnh Hà Tây, vẽ ra một khung cảnh hấp dẫn về “kinh tế kết hợp với du lịch sinh thái” ở trên một diện tích rộng 941ha. Nhưng người dân ở đây lại nhìn thấy màu của những toà biệt thự vườn sẽ được công ty này xây bán. Vấn đề là tại sao, họ, những người dân đang làm chủ những vườn chè đẹp như tranh vẽ ấy lại không được hỏi ý kiến, lại không là một phần của dự án mà phải “giao lại vườn tược nhà cửa cho mẹ con bà chủ tịch công ty cổ phần này”.

Ông Ninh kể: “mãi đến ngày 24.10.2008, chúng tôi mới được xã triệu tập lên để nghe bà chủ tịch công ty đọc quyết định ký ngày 4.7.2008 của Hà Tây”. Tương tự, người dân ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, cũng bị lấy đất “giao cho dự án”. Ông Nguyễn Văn Tể, 69 tuổi, nói: “Tôi cũng có công ty, tôi cũng cần đất, xã nói phải ưu tiên cho người địa phương, nhưng rồi, cách đây sáu tháng, xã lên loa, kêu dân lên họp, thông báo “trên” đã quyết định giao ruộng của chúng tôi cho một tư nhân. Đã có lệnh, ai không nhận tiền thì “trên” sẽ chuyển vào kho bạc”. Ở thôn Sơn Đồng, xã Tiên Phương của ông Tể có nhiều người không chịu nhận tiền. Nguyễn Đình Thuy, giải thích: “Bán hết thì nhà em chết đói. Em 45 tuổi, chỉ học hết lớp 4, bác bảo không có ruộng thì em ra đình tán hươu, tán vượn à”.

Cũng sẽ thật bất nhẫn khi tranh luận với người dân về “giấy tờ” đối với ruộng nương của họ. Ông Tể nói: “Đất này trước đây là thùng đào, hố đấu, xã kêu chúng tôi ra nộp tiền cho xã rồi lấp hố, cải tạo thành ruộng, giờ bảo chúng tôi đúng thì đúng, bảo chúng tôi sai thì sai”. Câu chuyện ở Ba Vì cũng tương tự. Hơn 20 năm trước, ông Ninh cùng với hàng ngàn thanh niên từ các huyện vùng xuôi, “theo tiếng gọi của Đảng”, bỏ làng, bỏ những thửa ruộng đẹp nhất cho những hộ dân khác lên khai khẩn đất hoang, phát triển “vùng kinh tế Nam Ba Vì”. Mỗi gia đình tạo lập được cho mình một ngôi nhà nho nhỏ, một vườn chè xinh xắn với khát vọng an cư. Không có dự án thì làng của họ cũng đã đẹp như những “làng sinh thái”.

Khi “rà soát” lại các đồ án quy hoạch “Tổ công tác” thống kê được 772 dự án đã được ký duyệt vội vàng trước khi bốn xã thuộc Hoà Bình, huyện Mê Linh và tỉnh Hà Tây nhập về Hà Nội. Ngoài những hệ luỵ về hạ tầng đô thị mà chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác, tiến trình đô thị hoá phần Hà Nội mới đang xuất hiện quan hệ Nhà nước “thu hồi đất của nông dân” để giao cho các nhà đầu tư một cách tràn lan.

Ở dự án Làng sinh thái chè Việt Mông, ngay sau khi tỉnh Hà Tây ký phê duyệt dự án, giám đốc công ty Dương Quang Huy đã ra lệnh: “Nghiêm cấm các hoạt động san ủi, đào đắp làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất hoặc chuyển nhượng đất. Nghiêm cấm việc xây dựng nhà ở, công trình…”. Thông báo này của ông Huy, giám đốc một công ty cổ phần, có điều 4: “gửi tới tất cả các đơn vị đội, các trưởng thôn, xóm; các tổ chức xã hội để thông báo đến toàn thể các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình biết và thực hiện nghiêm túc”. Trong khi, người dân chưa hề được thảo luận về các phương án đền bù và đặc biệt là chưa được hỏi xem có đồng ý “nhượng quyền sử dụng đất” hay không thì việc Việt Mông ra một quyết định vi phạm cả về thẩm quyền hành chính và dân sự như vậy phải bị chính quyền địa phương thu hồi ngay lập tức.

Rất tiếc, ngày 19.3.2009, uỷ ban huyện Ba Vì đã “hợp thức hoá quyền lực nhà nước” này cho Việt Mông bằng cách ra thông báo số 16: “Giao cho công ty cổ phần Việt Mông và các xã… thường xuyên kiểm tra, phát hiện, xử lý… Giao cho công an huyện bố trí lực lượng thường xuyên hỗ trợ các xã, công ty Việt Mông, đảm bảo và hỗ trợ an ninh trật tự trong trường hợp cưỡng chế”. Sáng 13.4.2009, ở huyện Chương Mỹ, chúng tôi chứng kiến cảnh một nhóm nông dân đứng bên lò gạch Tiên Phương, nhìn những chiếc xe benz của một công ty tư nhân đổ đất lên ruộng lúa ba tháng tuổi đang nuôi đòng của họ. Họ đứng nhìn từ xa vì những chiếc xe benz ấy giờ đây đã được coi là “quyền lực”.

Không phải tự nhiên, mà luật Đất đai quy định, Nhà nước chỉ thu hồi đất khi có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Ý chí ban đầu của các nhà làm luật là không để cho Nhà nước trở thành chỗ dựa để các doanh nghiệp “ép giá” đất của nông dân. Nhưng, quy định này có vẻ như đang bị ngày càng lạm dụng. Những dự án kinh doanh địa ốc do tư nhân thực hiện, giờ đây, cũng đang thủ lợi lớn dưới danh nghĩa “lợi ích công” và Nhà nước, đã vô tình nuôi sự căng thẳng với người dân khi lạm dụng quá nhiều “giải toả”.

Sự ổn định xã hội ở những vùng đang đô thị hoá là vô cùng quan trọng. Hội đồng nhân dân và Thành uỷ Hà Nội cần phải nắm tâm tư và tình cảm của người dân ở trong vùng có đất bị thu hồi cho dự án. Có lẽ, Quốc hội, cơ quan bỏ phiếu cho việc sáp nhập Hà Nội, cũng không nên đứng ngoài cuộc. Theo nghị quyết 66 ngày 29.6.2006 của Quốc hội, những “Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác” phải được thông qua bởi Quốc hội. Các dự án ở Hà Nội đang cùng lúc tác động đến hàng triệu nông dân sống xung quanh thủ đô. Sự tác động ấy rất cần được coi là “trọng điểm” để đặt lên bàn nghị sự.

Huy Đức

Kiên Giang: “Dự án lấn biển hay lấn đất của dân”?

Thưa qúy vị, cách nay ít lâu, Ban Việt Ngữ Đài ACTD chúng tôi có đề cập “Dự án lấn biển Kiên Giang”, qua đó, cư dân các Phường An Hoà, An Lạc thuộc TP Rạch Giá, Kiên Giang, phản ứng mạnh mẽ trước hành động của giới cầm quyền kết hợp với đại gia lấn đất của dân, thay vì “lấn biển”, để mở rộng thêm đất đai theo như kế họach.

Hậu quả là hàng trăm hộ dân bị công an đàn áp, mất sinh kế, lâm cảnh khó khăn nghiêm trọng. Tình hình này hiện giờ ra sao?

Qua cuộc trao đổi với Thanh Quang, một nạn nhân chủ chốt của “Dự án lấn biển Kiên Giang”, là anh Lê Đức Mỹ, cho biết:

Bây giờ họ đang vướng là vì, tại vì ở Kiên Giang có một số hộ dân người ta có sổ đỏ được cấp chủ quyền rõ ràng, thì chính quyền không thể nói người dân lấn đất được. Sổ đỏ cấp từ năm 1999 với lại năm 2003, cái thì có trước khi có dự án lấn biển, cái thì sau khi có dự án lấn biển
Anh Lê Đức Mỹ ở Kiên Giang

Kế hoạch cưỡng bức bằng pháp luật

Lê Đức Mỹ : Bây giờ nó đang vướng, đang vướng là vì, tại vì ở Kiên Giang có một số hộ dân người ta có sổ đỏ được cấp chủ quyền rõ ràng, thì chính quyền không thể nói người dân lấn đất được. Sổ đỏ cấp từ năm 1999 với lại năm 2003, cái thì có trước khi có dự án lấn biển, cái thì sau khi có dự án lấn biển, nhưng mà cấp chủ quyền thì hiện nay người ta ghi rất rõ là đất của dân, canh tác tới đâu thì cấp tới đó, không có ai tranh chấp thì được cấp sổ đỏ, đó là luật.

Nhưng mà nó sai sót ở chỗ là nó quên đi, trong cái dãi đất đó có những mảnh đất người ta cấp tới đó. Hiện nay cái ban dự án của Kiên Giang thì nó tính là gì? Là nó tính xoá lấp mờ đi cái ranh giới giữa đất của dân có mấy chục năm nay rồi với thành phố lấn biển, dự án lấn biển mới. Nhưng mà tranh chấp ở chỗ là hiện nay nó làm càn làm bừa nhiều quá, làm bừa làm càn vấn đề là ranh giới của đất, nó không chịu cấp sổ đỏ cho người ta và nó tính xoá đi cái ranh giới.

“Hiện nay cái ban dự án của Kiên Giang thì nó tính là gì? Là nó tính xoá lấp mờ đi cái ranh giới giữa đất của dân có mấy chục năm nay rồi với thành phố lấn biển, dự án lấn biển mới.
Anh Lê Đức Mỹ ở Kiên Giang

Thanh Quang : Trở lại vấn đề đối với những cư dân có sổ đỏ rồi thì bây giờ…

Lê Đức Mỹ : Cũng cưỡng bức luôn. Bây giờ họ cưỡng bức, theo tôi nghĩ cưỡng bức bằng pháp luật chứ chưa phải là đàn áp và cưỡng bức bằng súng ống, bằng con người. Cưỡng bức bằng pháp luật có nghĩa là anh không ra quyết định thu hồi đất của người ta mà anh ra quyết định cưỡng chế đất của người ta. Quyết định cưỡng chế có nghĩa là quyết định bắt buộc dân phải thi hành, người dân phải thi hành.

Anh làm trái luật mà anh bắt dân phải cưỡng bức bằng pháp luật. Anh không ra quyết định thu hồi đất của người ta mà anh ra quyết định cưỡng chế đất. Bây giờ anh cưỡng chế đất của người ta thì anh phải dựa vào quyết định thu hồi đất đâu? Không có quyết định thu hồi đất.

Dân phản đối. Bây giờ xác định ranh giới giữa đất của dân và đất của nhà nước lấn biển là ở đâu để cho dân biết thì không ai dám xác định điều đó. Tại sao? Yêu cầu đưa bản đồ tỷ lệ một năm trăm mà cơ sở trình thủ tướng chính phủ để mà xin phép dự ân lấn biển thì không ai dám đưa ra hết, tại vì cơ sở đó thì mới xác định được đất nào là đất của dân, đất nào là đất chuẩn bị lấn biển thì mới có ranh giới.

Cái thứ hai nữa là khi chính phủ ký quyết định cho ban quản lý dự án lấn biển Kiên Giang là phải trong diện lấn biển thì năm 1998 ngay năm đó nó đã bán của người ta mấy trăm cái sổ đỏ rồi, bán chồng lên đất của dân luôn.

Có nghĩa là anh lấy đất của dân anh bán khống trên giấy tờ cho người ta mấy trăm cái sổ đỏ, 294 sổ đỏ, mà hiện nay hậu quả đó nó chỉ giải quyết chỉ khoảng 200 cái, còn lại 94 sổ đỏ mắc kẹt, không có đất để giao vì dân không chịu giao đất.

Ban quản lý dự án làm sai

Thanh Quang : Thế thì họ giải quyết làm sao?

Lê Đức Mỹ : Thì bây giờ mới đang chống đối, biểu tình, đi thưa kiện. Thưa là thưa ở chỗ đó. Nguyên nhân thưa kiện là gì? Là mình không cho là chính quyền làm sai mà cho là ban quản lý dự án làm sai. Người nào chỉ đạo cho ban quản lý dự án làm sai thì đó là uỷ ban nhân dân tỉnh.

“Thưa là thưa ở chỗ đó. Nguyên nhân thưa kiện là gì? Là mình không cho là chính quyền làm sai mà cho là ban quản lý dự án làm sai. Người nào chỉ đạo cho ban quản lý dự án làm sai thì đó là uỷ ban nhân dân tỉnh.
Anh Lê Đức Mỹ ở Kiên Giang

Thanh Quang : Thế thì ngay bây giờ giới cầm quyền địa phương, kể cả UBND tỉnh, thì họ có hành động như thế nào?

Lê Đức Mỹ : Thì họ ra quyết định cưỡng chế dân, bắt dân phải thi hành theo cái sai trái đó. Tôi cho cái đó là cưỡng chế bằng pháp luật. Dân muốn biểu tình hay là dân muốn thưa kiện thì họ bác hết. Bác hết bằng cách nào? Bây giờ gửi đơn lên thì họ nói là họ đúng, họ bác đơn của mình.

Biểu tình lên thì họ dẹp. Họ cho công an, bộ đội, rồi dân quân tự vệ xuống chặt cây, đốn phá cây của người ta. Hiện nay họ đã chặt cây của người ta hết rồi, dọn đường. Mà thấy dân có biểu hiện rục rịch đi biểu tình thì họ hơi giảm lại một chút.

Thanh Quang : Ngay bây giờ thì tình hình như thế nào? Căng thẳng lắm không?

Lê Đức Mỹ : Thì bây giờ là họ bang ủi đường lấn đất dân, thì dân hiện nay có khả năng là sẽ đi Hà Nội biểu tình, tại ở tỉnh này biểu tình không xong rồi, thưa kiện cũng không xong rồi, ai xử? không có người xử. Bây giờ phải đi Hà Nội. Nếu mà làm căng quá, không trả đất lại cho dân, không bồi thường thoả đáng thì dân sẽ đi Hà Nội biểu tình.

“Bây giờ gửi đơn lên thì họ nói là họ đúng, họ bác đơn của mình. Biểu tình lên thì họ dẹp. Họ cho công an, bộ đội, rồi dân quân tự vệ xuống chặt cây, đốn phá cây của người ta. Hiện nay họ đã chặt cây của người ta hết rồi, dọn đường.
Anh Lê Đức Mỹ ở Kiên Giang

Dân thiệt thòi từ 10 năm nay

Thanh Quang : Nhưng mà bây giờ, trong tình cảnh hiện giờ như vậy thì trong những ngày sắp tới liệu sẽ ra sao?

Lê Đức Mỹ : Bây giờ nếu mà nói về thiệt hại thì hiện nay là trên 10 năm nay dân không có đất để canh tác. Vì dân vùng đó trước đây sống bằng trồng rau trồng hoa, trồng tất cả những gì để họ sinh sống vì họ có đất để canh tác. Anh hiểu nông dân phải có đất canh tác, thì 10 năm nay quy hoạch treo như vậy, dân không làm được gì hết. Không cho phép sửa nhà, không cho phép xây nhà, không cho phép mua bán.

Đất là một thứ hàng hoá đặc biệt để cầm cố, để mua bán, để kiếm đồng tiền xoay sở, và đất để canh tác trồng rau trồng này kia bán để sống qua ngày, thì 10 năm nay không trồng được gì hết, không làm được gì hết. Đó là cái áp bức thứ nhứt.

Cái áp bức thứ hai, vô lý là gì? Đất trên giá thị trường hiện nay nếu người ta cầm miếng đất đó, người ta bán thì cái giá là bảy tám trăm ngàn một mét vuông, vì là đất đô thị loại ba mà, nhưng mà anh bắt tui phải giao đất cho anh và anh bồi thường với giá năm ngàn, mười ba ngàn thì làm sao tui giao cho anh được! Đó là cái vô lý thứ hai. Anh đàn áp cái đó là bậy.

Hiện nay mặc dù họ chưa đàn áp như bắt người hay là nhốt tù ai hết, nhưng họ đã cho cử lực lượng công an này nọ xuống chặt cây phá cây của người ta. Cây người ta trong năm sáu mươi năm nay mà họ nói dân trồng cây lấn chiếm đất nhà nước rồi họ chặt bỏ cây của người ta mà không bồi thường một cắc nào hết.

Đó là cái sai thứ ba. Cái đó là anh cưỡng bức rồi, áp bức rồi, phải không? Cây trong vườn người ta trồng mấy chục năm nay, trị giá cây đó tính bằng vài trăm ngàn vậy mà họ xuống chặt cây của người ta là sao? Đó là cái cưỡng bức thứ ba.

Cái cưỡng bức thứ tư về tâm lý rất là nặng nề. Theo chủ trương của đảng và nhà nước, khi người dân bị mất đất thì phải được bồi thường thoả đáng và phải được có nơi ở mới, có nơi tái định cư mới bằng hoặc tốt hơn chỗ cũ, nhưng đàng này nó không bồi thường thoả đáng và hỗ trợ cũng không luôn, mà còn đàn áp người ta nữa. Dân ở đây người ta chỉ yêu cầu anh thi hành đúng luật.

Anh lấy đất của tôi phải ra quyết định thu hồi đất, lấy đất của tôi anh phải bồi thường theo giá thị trường thoả đáng, và anh lấy đất của tôi thì anh phải ghi rõ mục đích lấy để làm gì. Anh lấy để làm đường thì tui tôi đâu dám chống anh. Anh xây dựng sân bay quân sự hay là cảng thì tụi tôi đâu dám chống anh. Nhưng mà anh lấy đất của tôi giao cho nhà đầu tư khác, anh bán để lấy tiền lời thì tôi chống anh chứ!

“Anh lấy để làm đường thì tui tôi đâu dám chống anh. Anh xây dựng sân bay quân sự hay là cảng thì tụi tôi đâu dám chống anh. Nhưng mà anh lấy đất của tôi giao cho nhà đầu tư khác, anh bán để lấy tiền lời thì tôi chống anh chứ!
Anh Lê Đức Mỹ ở Kiên Giang

Hiện nay ở U Minh người ta kéo lên người ta biểu tình, người ta nói đả đảo bè lũ tham nhũng, đả đảo chủ tịch tỉnh Bùi Ngọc Sơn chứ người ta không chống đảng, không chống nhà nước, mà chống những kẻ làm bậy.

Thanh Quang : Nói chung tình hình cưỡng chế thu hồi đất đai ở Kiên Giang ra sao?

Lê Đức Mỹ : Rất là bất cập. Rất là bất cập. Rất là nhiều, Kiên Lương cũng dính trong tình trạng này. Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, cũng là điểm nóng. Rồi huyện An Minh cũng là điểm nóng. Hôm rồi An Minh lên biểu tình cũng vì đât đai thôi.

Thành phố Rạch Giá cũng vậy. Nói chung là những điểm nóng về đất cát đều có dính tới chuyện đó hết, đều do cách làm chồng chéo, làm không đúng pháp luật.

Thanh Quang : Trong vấn đề rắc rối về đất đai thì cho tới giờ này các viên chức ở địa phương có ai bị ảnh hưởng gì chưa?

Lê Đức Mỹ : Bây giờ thì một phó chủ tịch bị đình chỉ công tác rồi, lên báo chí rồi. Một trưởng phòng. Nói chung vụ án đó thì khoảng 5 người tham nhũng ngay trong nội bộ UBND tỉnh Kiên Giang, trong đó người ta biết là phó chủ tịch tỉnh sai phạm về đất đai. Sai phạm về đất đai là cái gì? Là tham nhũng về tiền bạc chớ là cái gì!

Thanh Quang : Mà sai phạm về đất đai đó có dính líu tới dự án lấn biển Kiên Giang này không?

Lê Đức Mỹ : Có luôn. Một phần là có luôn. Anh ra những quyết định sai trái

Quản lý đất công và những thống kê báo động

So với chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 với 28.530 héc ta được Quốc hội khóa XI thông qua, quỹ đất công xây trụ sở cơ quan và công trình sự nghiệp hiện đã vượt 121,86%.

Trong đó, rất nhiều đất công ích đang bị hoang hóa hoặc sử dụng sai mục đích.


Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, hiện cả nước có trên 70 triệu mét vuông nhà công sở, ước tính giá trị trên 8.000 tỷ đồng. Chỉ tính riêng từ năm 2001 đến nay, 2.500 tỷ đồng đã được các cơ quan nhà nước “đổ” vào xây 440.000 m2 trụ sở hành chính

Tuy nhiên, qua rà soát bước đầu 2.248 địa điểm tài sản nhà đất công do các cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp quản lý tại Hà Nội, đã phát hiện 3,6 triệu m2 đất bị sử dụng sai mục đích. Trong 802 địa điểm nhà, đất do Trung ương quản lý có tới 172 địa điểm bị sử dụng sai mục đích với tổng diện tích lên đến 728.000 m2.

Tại Tp.HCM, con số đất hoang hóa đã lên tới 2 triệu mét vuông trong tổng số 20 triệu mét vuông nhà
, đất công đang giao cho các cơ quan nhà nước quản lý. Nhiều diện tích đất công ích bị bỏ hoang đã tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị sử dụng đất chuyển nhượng trái phép.

Hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn ngân sách nhà nước cũng trong tình trạng lãng phí tương tự.

Một quan chức Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói với VnEconomy, hiện 2.176 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nắm giữ tổng số vốn gần 260 nghìn tỷ đồng, 75% tài sản cố định quốc gia, trên 80% vốn đầu tư nhà nước, 60% tổng lượng tín dụng, 70% vốn vay nước ngoài.

“Ng
ốn” ngân sách lớn, cộng với việc được thụ hưởng nhiều đất đai, nhưng khối doanh nghiệp nhà nước chỉ đóng góp chưa tới 40% GDP, 30% thu ngân sách về thuế và chỉ tạo việc làm cho 10% lực lượng lao động.

Lợ
i dụng kẽ hở của Luật Đất đai 2003 khi chưa đưa ra tiêu chí cụ thể xác định nhu cầu sử dụng đất của doanh nghiệp, nhiều địa phương đã giao hoặc cho doanh nghiệp thuê đất tùy tiện với hiệu quả kinh tế thấp.

Điển hình tại các lâm trường, trên 7.700 hécta đất bị “xà xẻo’ cho thuê, cho mượn, 54.000 héc ta đất khác đang bị lấn chiếm trong tổng số gần 5 triệu héc ta đất nông lâm trường.

Khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao cũng trong tình trạng sử dụng đất đáng báo động.

Theo một điều tra của Viện Nghiên cứu địa chính, tính đến cuối năm 2007, trong 550 cụm/khu công nghiệp, chỉ có 332 khu/cụm đang hoạt động, 112 khu/cụm đang trong giai đoạn xây dựng, còn lại là những cụm/khu chưa triển khai. Đáng chú ý, tính đến nay, đất công nghiệp có thể cho thuê chỉ đạt 46,6%.

Theo một số liệu mới hơn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng số 185 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất 44.895 héc ta, chỉ có 110 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tính đến cuối năm 2008. Như vậy, tiến độ triển khai chậm của các khu công nghiệp đã kéo theo việc sử dụng quỹ đất tại các khu/cụm công nghiệp kém hiệu quả

523 trong 9.970 địa điểm nhà đất do cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp quản lý đang bị bỏ hoang tại Tp.HCM hay tình trạng sử dụng đất công trái pháp luật tại các doanh nghiệp nhà nước, có vốn nước ngoài tại Cần Thơ là những con số và vụ việc điển hình cho thấy sự bất hợp lý trong công tác quản lý sử dụng quỹ đất công có giá trị lớn ở địa phương.

Trong nhiều trường hợp, công tác quản lý quỹ đất công đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, theo thừa nhận của một quan chức Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vợ nguyên Bí thư Tỉnh ủy sáu năm kêu kiện đất đai

Đại “mổ xẻ” chính sách đất đai liên quan đến nông nghiệp

Sẽ minh bạch hóa thị trường quyền sử dụng đất

Luật Đất Đai


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: