Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Từ Độc Tài đến Dân Chủ – Gene Sharp (3):Thế Lực Ðến Từ Ðâu?

Posted by BEAR trên Tháng Sáu 19, 2009

Từ Độc Tài đến Dân Chủ – Gene Sharp : Chương 1 – Đối Diện Chế Độ Độc Tài Một Cách Thực Tế

Từ Độc Tài đến Dân Chủ – Gene Sharp: Chương 2 – Những Nguy Hiểm Của Thương Lượng


Lẽ dĩ nhiên đạt tới được một xã hội có cả tự do và hoà bình không phải là việc đơn giản.

Nó đòi hỏi tài năng cao về định hướng chiến lược, tổ chức, và kế hoạch. Nhưng cao hơn

hết, nó đòi hỏi phải có thế lực. Các nhà dân chủ không có hy vọng gì lật đổ được độc tài

và thiết lập tự do chính trị nếu không có khả năng ứng dụng một cách hữu hiệu các thế

lực của họ.

Nhưng có thật như vậy không? Lực lượng dân chủ đối lập có thể huy động được

loại thế lực nào khả dĩ phá tan được chế độ độc tài với mạng lưới quân đội và công an

cùng khắp? Câu trả lời nằm ẩn trong một vùng kiến thức về thế lực chính trị thường bị

quên lãng. Học hỏi về nhận thức này thực sự không khó. Một vài chân lý căn bản của sự

việc rất đơn giản.

Chuyện ngụ ngôn “Hầu Công”

(Câu chuyện này, nguyên thủy có tên là “Cai Trị bằng Mưu Mẹo” từ tác phẩm Yu-li-zi của tác giả Liu

Ji (1311-1375), được dịch ra Anh ngữ bởi Sidney Tai, dịch giả giữ bản quyền. Yu-li-zi cũng là tên hiệu

của Liu Ji.)

Câu chuyện ngụ ngôn Trung Hoa vào thế kỷ 14 của Liu-Ji phác họa vùng kiến thức về thế

lực chính trị bị quên lãng này khá rõ:

Tại nước Châu có một ông lão sinh sống bằng cách nuôi một bầy khỉ để

chúng làm việc cho ông. Người nước Châu gọi ông là “hầu công”, tức ông

chủ khỉ.

Mỗi buổi sáng, ông tụ họp bầy khỉ trong vườn và ra lệnh cho con già nhất

chỉ huy cả bầy lên núi hái hoa quả. Ông có luật là mỗi con khỉ phải nộp cho

ông một phần mười số hoa quả nó hái được. Con nào phạm luật sẽ bị đánh

đòn không thương tiếc. Tất cả lũ khỉ cay đắng chịu đựng mà không dám kêu

than.

Một ngày nọ, một con khỉ nhỏ hỏi chúng bạn:

– “Có phải ông già trồng tất cả các cây ăn trái trên núi không vậy?”

Ðám khỉ trả lời:

– “Không, cây mọc tự nhiên thôi.

Chú khỉ nhỏ hỏi tiếp:

– “Không có phép của ông già thì mình không được hái quả sao?”

Ðám khỉ trả lời:

– “Mình vẫn hái được chứ.”

Chú khỉ nhỏ lại tiếp tục:

– “Thế thì tại sao mình lại phải phụ thuộc vào ông già; tại sao mình phải cung

phụng ông ấy?”

Trước khi khỉ nhỏ dứt câu, cả bầy khỉ đột nhiên ngộ ra và bừng tỉnh. Ngay tối

hôm ấy, chờ khi ông lão ngủ say, bầy khỉ phá cũi sổ lồng. Chúng lấy tất cả

hoa quả mà ông lão dự trữ đem theo vào rừng và không bao giờ trở lại. Cuối

cùng ông lão chết vì đói.

Yu-li zi kết luận: “Trên đời có những kẻ cai trị người bằng mánh khoé chứ

không bằng những nguyên tắc chân chính. Họ chẳng khác nào hầu công, không

biết sự đần độn của mình. Vì một khi người ta bừng tỉnh thì những mánh khóe

đó không còn hiệu lực nữa.

Những nguồn thế lực chính trị cần thiết

Nguyên lý của vấn đề rất đơn giản. Bất cứ nhà độc tài nào cũng cần sự trợ giúp của kẻ bị

trị. Không có những hợp tác này họ không thể nắm chặt và duy trì những nguồn thế lực

chính trị trong tay. Các nguồn thế lực chính trị này bao gồm:

  • Thẩm quyền: tức niềm tin nơi quần chúng rằng đây là một chế độ chính danh mà mọi người đều có bổn phận phải tuân phục.
  • Nhân lực: tức số lượng và uy tín của những người hay nhóm đang vâng phục, cộng tác, hay trợ giúp kẻ cai trị.
  • Tài năng và kiến thức: cung cấp bởi những cá nhân hay nhóm đang hợp tác với chế độ. Ðây là yếu tố mà họ rất cần để tiến hành một số loại việc đặc biệt.
  • Những yếu tố không hữu hình: tức những yếu tố tâm lý và ý thức hệ có khả năng thúc đẩy người ta vâng phục và trợ giúp kẻ cai trị.
  • Những nguồn vật chất: tức mức độ kiểm soát hay phạm vi truy cập của những người cai trị đối với tài sản quốc gia, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn tài chánh, hệ thống kinh tế, các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải.
  • Phong tỏa, trừng phạt: dù chỉ đe doạ hay thi hành đối với những ai bất phục tùng và bất hợp tác để duy trì tình trạng tuân phục và hợp tác mà chế độ rất cần để tồn tại và thực thi các chính sách.

Tuy nhiên, tất cả các nguồn lực này đều tùy thuộc vào sự chấp nhận chế độ, vào sự

qui phục và tuân thủ của quần chúng, và vào sự hợp tác của vô số dân chúng và nhiều định

chế trong xã hội. Không có gì bảo đảm là những điều này không thay đổi.

Sự hợp tác, tuân phục, và hỗ trợ hoàn toàn của dân chúng sẽ gia tăng nguồn thế lực

và do đó mở rộng quyền năng của chính phủ.

Ngược lại, việc rút lại sự hợp tác từ quảng đại quần chúng cũng như những định chế

xã hội đối với những kẻ hung hãn, độc tài sẽ làm co rút hay đứt lìa các nguồn thế lực mà chế

độ lệ thuộc vào. Không có các nguồn ấy, sức lực của chế độ yếu dần và cuối cùng sẽ tan rã.

Hiển nhiên, các kẻ độc tài đều rất nhậy cảm đối với những hành động hay ý kiến có

khả năng đe doạ mức độ tự tung tự tác của họ. Vì vậy họ rất nhanh tay đe doạ hay trừng

phạt những người bất phục tùng, đình công phản đối, hay không chịu hợp tác. Tuy nhiên,

sự việc không phải đến đó là hết. Việc trấn áp, ngay cả bằng bạo lực, không phải luôn

luôn làm người ta trở lại tình trạng vâng phục và hợp tác tới mức có thể giúp chế độ tiếp

tục vận hành.

Nếu quần chúng có thể chịu đựng các biện pháp trấn áp và tiếp tục giới hạn hay cắt

đứt các nguồn thế lực của chế độ đủ lâu, thoạt đầu các chỉ dấu về kết quả không rõ ràng

và chắc chắn nhưng sau đó sự xuống dốc quyền lực của chế độ sẽ hiện rõ. Theo thời gian,

việc rút lại các nguồn thế lực có thể làm chế độ tê liệt, bất lực; và trong một số trường hợp

ngặt nghèo, dẫn đến tan rã. Thế lực của các kẻ độc tài sẽ chết, dù nhanh hay chậm, vì bị

bỏ đói chính trị.

Ðiều trên dẫn đến hệ luận: Mức độ cho tự do hay chuyên chế của bất kỳ nhà cầm

quyền nào phần lớn phản ảnh mức quyết tâm tương đối của quần chúng bị trị (so với

sự quyết tâm của phía cầm quyền) muốn sống tự do, cũng như sự sẵn sàng và khả năng

kháng cự lại những áp lực buộc họ vào vòng nô lệ.


Có một điều mà thực tế trái ngược với suy nghĩ bình thường của đa số, đó là ngay

cả những chế độ độc tài toàn trị đều phải cậy dựa vào khối dân chúng và xã hội mà họ cai

trị. Nhà khoa học chính trị, Karl W. Deutsch, đã viết như sau vào năm 1953:

Quyền lực của chế độ toàn trị chỉ mạnh khi nó không cần phải đem ra dùng

quá thường xuyên. Nếu lúc nào cũng phải lấy quyền lực đó ra đàn áp toàn thể

dân chúng, thì sức mạnh của nó sẽ không kéo dài được. Vì những chế độ toàn

trị đòi hỏi phải có nhiều quyền lực hơn mọi loại chính ác để đối phó với dân,

nên những chế độ này lại càng cần tập tục vâng phục vững bền và rộng khắp

của quần chúng; Hơn thế nữa, các chế độ này còn phải dựa vào sự hỗ trợ tích

cực của ít là một khối lớn quần chúng trong những khi hữu sự.


Một lý thuyết gia người Anh về luật pháp, ông John Austin, vào thế kỷ 19, đã viết về

tình trạng một chế độ độc tài đối đầu với khối quần chúng bất mãn. Ông lý luận rằng nếu đại

đa số quần chúng quyết tâm lật đổ nhà cầm quyền và sẵn sàng chịu đựng những màn đàn áp,

thì sức mạnh của chính quyền, kể cả những người hỗ trợ nó, không thể duy trì nổi cái chế độ

bị chán ghét này, ngay cả khi nó được sự trợ giúp của ngoại bang. Ông Austin kết luận: không

ai đẩy nổi một dân tộc phản kháng lùi trở lại tình trạng vâng lời và qui phục vĩnh viễn.9

Niccolo Machiavelli từ lâu cũng đã lý luận rằng một ông hoàng “ … khi bị toàn thể

dân chúng coi là kẻ thù thì sẽ chẳng bao giờ có thể giữ chắc ngôi vị của mình; và càng ác

độc thì chế độ của ông ta lại càng suy yếu.”10

Những ứng dụng chính trị thực tế rút từ nhận thức trên đã được minh chứng bởi

những người dân Na-Uy anh hùng kháng cự sự đô hộ của Nazi. Và như đã nhắc đến trong

chương một, những con người cam đảm tại Ba Lan, Ðức, Tiệp, Slovaks, và nhiều nơi khác

cũng đã đem ra ứng dụng trong việc kháng cự lại sự hung hãn của ách cai trị độc tài Cộng

Sản, và sau cùng góp phần làm sụp đổ toàn bộ ách cai trị Cộng Sản trên toàn Âu Châu. Dĩ

nhiên, đây không phải là một hiện tượng mới: những trường hợp kháng cự bất bạo động

đã xẩy ra từ xa xưa, ít là từ năm 494 trước công nguyên khi dân thường rút lại không hợp

tác với các chủ nhân quý tộc La Mã.11 Đấu tranh bất bạo động đã được ứng dụng tại nhiều

thời điểm khác nhau bởi các dân tộc thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, các

quần đảo Thái Bình Dương, và cũng có ở Châu Âu.

Như vậy, ba yếu tố quan trọng nhất để xác định mức độ một chính quyền kiểm soát

hay mất kiểm soát thế lực của họ:

  1. Sự mong muốn tương đối của đại chúng (so với sự mong muốn ngược lại của chế độ) trong việc đặt giới hạn về quyền lực của chính quyền;
  2. Sức mạnh tương đối của những tổ chức độc lập và các định chế của giới bị trị (so với sức mạnh ngược lại của chế độ) trong việc cùng nhau rút lại các nguồn thế lực; và
  3. Khả năng tương đối của quần chúng (so với khả năng ngược lại của chế độ) trong việc rút lại sự chấp thuận và trợ giúp cho chế độ.

Những trung tâm thế lực dân chủ

Một đặc tính của xã hội dân chủ là có sự hiện diện của mốt số đông các tổ chức và cơ

chế phi chính phủ, hoạt động độc lập ngoài vòng kiểm soát của nhà nước, như gia đình, tổ

chức tôn giáo, hội văn hóa, câu lạc bộ thể thao, định chế kinh tế, công đoàn, hội sinh viên

học sinh, đảng phái chính trị, làng xã, hội khu phố, hội trồng trọt, tổ chức nhân quyền,

nhóm văn nghệ, thư hội, v.v… Những đoàn thể này rất quan trọng chẳng những trong việc

phục vụ những mục tiêu của riêng họ, mà cũng còn góp phần thoả mãn những nhu cầu

của xã hội.

Hơn thế nữa, các đoàn thể này có ảnh hưởng chính trị rất lớn. Chúng tạo ra những

nền tảng nhóm và định chế mà qua đó quần chúng có thể ảnh hưởng lên hướng đi của xã

hội và kháng cự lại các nhóm khác hay chính quyền nếu có sự xen lấn không chính đáng

vào những quyền lợi, sinh hoạt, hay mục đích của họ. Những cá nhân riêng lẻ, không là

hội viên của tổ chức nào, thường không tạo được ảnh hưởng gì đáng kể lên xã hội; lại

càng không đáng kể lên chính quyền; và chắc chắn là con số không lên chế độ độc tài.

Chính vì vậy mà nếu quyền tự trị và tự do sinh hoạt của các đoàn thể trên bị những

kẻ độc tài tước đoạt đi, quần chúng sẽ bị hầu như bó tay. Tương tự như vậy, nếu những

định chế trên bị kiểm soát một cách độc đoán bởi chế độ trung ương hay bị hoàn toàn thay

thế bởi những định chế do chế độ lập ra, thì những bộ phận này trở thành công cụ khuynh

loát cả các thành viên lẫn những lãnh vực xã hội liên hệ.

Tuy nhiên, nếu có thể duy trì hay lấy lại được quyền tự trị và tự do sinh hoạt của các

định chế dân sự độc lập này (ngoài vòng kiểm soát của chính phủ) thì chúng sẽ trở thành

rất quan trọng cho nỗ lực sử dụng phản kháng chính trị. Ðặc tính chung của những trường

hợp mà chế độ độc tài bị tan rã hay yếu đi là sự can đảm áp dụng đối kháng chính trị đồng

loạt của quần chúng và các định chế của họ.

Như đã nêu, những trung tâm thế lực này cung cấp các nền tảng định chế mà từ đó

quần chúng có thể tạo áp lực và kháng cự lại sự kiểm soát của chế độ. Trong tương lai,

các đoàn thể này trở thành một phần của nền tảng hạ tầng không thể thiếu được của một

xã hội tự do. Sự độc lập và tiếp tục lớn mạnh của các đoàn thể độc lập, do đó, thường là

điều kiện tiên quyết để thành công trong nỗ lực đấu tranh giải phóng dân tộc.

Nếu chế độ độc tài đã dẹp hay nắm quyền kiểm soát các đoàn thể xã hội độc lập,

thì lại càng quan trọng cho những nhà đấu tranh phải lập cho bằng được những nhóm hay

định chế độc lập mới, hay tìm cách đưa trở lại cách điều hành dân chủ vào những đoàn

thể còn sống sót hoặc chỉ bị chế độ kiểm soát một phần.

Trong thời gian xảy ra cuộc Cách Mạng Hungary năm 1956-1957, rất đông các hội đồng dân chủ trực tiếp nổi dậy, và ngay

cả liên đới với nhau được vài tuần (trước khi bị tiêu diệt) để thiết lập cả một hệ thống liên

bang cho các định chế và nền cai quản. Tại Ba Lan vào cuối năm 1980, công nhân duy trì

được công đoàn Ðoàn Kết dù bị chế độ xem là bất hợp pháp. Trong một số trường hợp,

họ còn đoạt được quyền kiểm soát trong các công đoàn chính thức do nhà nước Cộng Sản

khuynh loát. Những phát triển định chế như vậy có thể đem lại những kết quả chính trị

rất quan trọng.


Lẽ dĩ nhiên, tất cả những lý lẽ kể trên không mang ngụ ý rằng việc làm yếu dần và

lật đổ chế độ độc tài là chuyện dễ dàng, và cũng không có nghĩa là tất cả mọi nỗ lực đều

thành công. Các lý lẽ này cũng không cam đoan là cuộc đấu tranh này sẽ tránh được đổ

máu, vì những kẻ đang phục vụ chế độ nhiều phần sẽ phản công để ép quần chúng trở lại

tình trạng tuân phục và hợp tác như xưa.

Tuy nhiên, nhận thức bên trên về cốt lõi của quyền lực cho thấy rằng việc chủ ý

làm tan rã một chế độ độc tài là điều khả thi.

Nền độc tài có một số đặc tính khiến nó dễ bị chọc thủng nếu biết áp dụng phản kháng chính trị một cách khéo léo.

Trong các chương sắp tới, chúng ta sẽ khảo sát chi tiết các đặc tính này.

Advertisements

2 phản hồi to “Từ Độc Tài đến Dân Chủ – Gene Sharp (3):Thế Lực Ðến Từ Ðâu?”

  1. […] Từ Độc Tài đến Dân Chủ – Gene Sharp (3):Thế Lực Ðến Từ Ðâu? […]

  2. […] thắng sẽ là cái phút bừng tỉnh ! Thời gian chuẩn bị có thể rất dài, song cái thời điểm ấy có thể là rất […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: