Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Sau đất đai, ô nhiễm làm khiếu nại gia tăng

Posted by BEAR on Tháng Sáu 29, 2009

Sau đất đai, ô nhiễm làm khiếu nại gia tăng

Tại một hội nghị về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, vừa diễn ra ở thành phố Vũng Tàu, giữa Bộ Tài nguyên Môi trường với giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường của các tỉnh, thành phố trên toàn quốc, những viên chức đang giữ trọng trách quản lý lĩnh vực này đã cùng lên tiếng cảnh báo về tình trạng khiếu nại, tố cáo của công dân đang gia tăng.

Khiếu nại về ô nhiễm môi trường ngày càng tăng

Rác thải trên đường phố cũng là một trong những nguyên nhân làm nước đục và nhiễm bẩn.


Đáng lưu ý là trong thời gian vừa qua, những khiếu nại về ô nhiễm môi trường đã tăng đáng kể và chỉ đứng sau các khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Theo tường thuật của báo chí Việt Nam, tại hội nghị vừa kể, các viên chức từ trung ương đến địa phương đều thừa nhận rằng, khiếu nại, tố cáo của công dân đang tăng và chủ yều vẫn là những nội dung liên quan đến đất đai.

Đáng lưu ý là trong thời gian vừa qua, những khiếu nại về ô nhiễm môi trường đã tăng đáng kể và chỉ đứng sau các khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Dịp này, Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường công bố một thống kê, theo đó, từ năm 2006 đến nay, chỉ tính riêng khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã có khoảng 18.000 lượt đơn, thư khiếu nại, tố cáo dính dáng tới đất đai.

Tờ Sài Gòn Tiếp Thị kể rằng, hầu hết giám đốc sở tài nguyên – môi trường các tỉnh, thành phố đều xác nhận, đơn, thư khiếu nại, tố cáo của dân chúng đang tăng.

Nội dung chủ yếu của các đơn, thư vẫn xoay quanh những quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến chuyện thu hồi đất và bồi thường để giải phóng mặt bằng, hay đòi lại đất cũ, đặc biệt là những thửa đất đã giao cho nhà nước quản lý, xây dựng công trình công cộng, hoặc giao cho người khác sử dụng.

Tụ họp phản kháng tố cáo vấn đề ô nhiễm

Hiện nay, dẫn đầu về lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo ở khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là TP.HCM, kế đó là Đồng Nai, Đồng Tháp, Kiên Giang,…

Đây có lẽ là lần đầu tiên, các viên chức về tài nguyên và môi trường chính thức cảnh báo, khiếu nại, tố cáo gia tăng là vì qúa trình thu hồi đất diễn ra mạnh, đặc biệt là các dự án lớn mỗi ngày một nhiều.

Các vụ khiếu nại, tố cáo đòi giải quyết ô nhiễm môi trường  cũng qui tụ rất nhiều người tham gia và trở thành một yếu tố mới góp phần gia tăng những vụ khiếu nại, tố cáo đông người.

Tuy nhiên điểm đáng chú ý nhất là họ loan báo rằng, các vụ khiếu nại, tố cáo đòi giải quyết ô nhiễm môi trường đang tăng đáng kể và giống như những vụ khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai,

các vụ khiếu nại, tố cáo đòi giải quyết ô nhiễm môi trường  cũng qui tụ rất nhiều người tham gia và trở thành một yếu tố mới góp phần gia tăng những vụ khiếu nại, tố cáo đông người.

Chúng tôi đã thử lật lại báo chí Việt Nam để kiểm tra nhận định vừa kể và đúng là đã cũng như đang có khá nhiều vụ phản kháng, đòi giải quyết ô nhiễm môi trường sau khi khiếu nại, tố cáo không hiệu quả. Một trong những vụ đáng chú ý nhất xảy ra hồi cuối tháng tư năm nay tại Đồng Nai.

Trên số ra ngày 24 tháng 4, tờ Lao Động kể rằng, tối 23 tháng 4, cả trăm người dân ngụ ở khu phố 3 phường Trảng Dài, thành phố  Biên Hoà đã bao vây nhà máy xử lý rác Đồng Xanh, để chặn các xe chở rác, không cho đem rác vào nhà máy vì không thể nào chịu nổi mùi hôi của nước rỉ ra từ rác và ruồi, muỗi dày đặc.

Đây là lần thứ hai dân chúng phường Trảng Dài, thành phố Biên Hoà bao vây nhà máy xử lý rác Đồng Xanh vì đã hết kiên nhẫn.

Không riêng Đồng Nai, những vụ phản kháng liên quan đến rác và xử lý rác đã xảy ra khắp nơi.  Tại TP.HCM thì đó là những vụ đòi đóng cửa khu xử lý rác Ða Phước, huyện Bình Chánh hoặc chặn xe chở rác mang rác đến bãi rác Phước Hiệp, huyện Củ Chi. Ở Quảng Nam thì có những vụ  chặn xe chở rác vào bãi rác Đông Yên, phường Hoà Thuận, thành phố Tam Kỳ.

Rồi những vụ chặn xe chở rác vào bãi rác Ðồng Chùa, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng. Hay những vụ chặn xe chở rác vào bãi rác Đồng Chùa, phường Thạch Yên, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, những vụ chặn xe chở rác đưa rác vào khu xử lý rác Núi Thoong,  xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, Hà Nội,…

Pháp luật chưa xử lý nghiêm khắc việc gây ô nhiễm

Đã có một vài viên chức về tài nguyên và môi trường giải thích trong hội nghị mà chúng tôi đề cập ở đầu bài này rằng, nguyên nhân dẫn tới số vụ khiếu nại, tố cáo về môi trường cũng như phản kháng đòi giải quyết ô nhiễm môi trường gia tăng là vì nhiều cơ quan thực thi pháp luật chưa xử lý nghiêm khắc những doanh nghiệp gây ô nhiễm và sự bất bình trong dân chúng dâng cao vì ô nhiễm tác hại trực tiếp đến đời sống, sức khoẻ của họ.

Song nhận định như thế hình như chưa đủ, ông Nguyễn Tiến, một cư dân ở TP.HCM, cho rằng, khác biệt cơ bản nhất khiến mọi người thay đổi thái độ và cách hành xử đối với những vấn đề về môi trường chính là nhận thức về tác hại của ô nhiễm. Ông Tiến giải thích:

“Trước đây, mọi người nghĩ rằng môi trường chẳng ảnh hưởng gì đến mình và  nó là vấn đề của nhà nước. Đến bây giờ, khi mà từng người nông dân, từng người dân thành thị đều tiếp xúc với ô nhiễm môi trường thì người ta bắt đầu thấy sợ.

Với người nông dân thì cánh đồng lúa của người ta liệu có thu hoạch như ý người ta mong muốn, tương ứng với công sức, đầu tư của người ta hay không.

Do người dân càng ngày càng nhận thức rõ ô nhiễm môi trường gây nguy hại đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến đời sống của họ nên kiện tụng sẽ tăng.

Với những người nông dân nuôi trồng hải sản thì tại sao tự nhiên cá của người ta lại chết hàng loạt. Còn với người dân thành thị thì tại sao mà bây giờ môi trường bụi và ôn ào thế,sống ở thành phố thì không thể chịu nổi… “

Theo ông Tiến, sự quan tâm về ô nhiễm ngày một tăng chính là vì: “Bây giờ ô nhiễm gồm nhiều thứ: khói bụi, nguồn nước sử dụng, tiếng ồn và ảnh hưởng do biến đổi khí hậu trái đất.

Tôi nghĩ rằng, bây giờ, vấn đề môi trường không còn là của các chính phủ nữa, nó không còn là những gì thuộc về vĩ mô.

Bây giờ nó thực sự là những vấn đề thuộc về từng con người, từng doanh nghiệp.”

Theo tờ Sài Gòn Tiếp Thị, khi tham dự hội nghị về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, ông Lê Viết Hưng, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, dự báo:

Nếu phân loại hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Đồng Nai thì có thể sẽ có từ 70% –75% cơ sở gây ô nhiễm và hàng ngàn doanh nghiệp vi phạm.

Do người dân càng ngày càng nhận thức rõ ô nhiễm môi trường gây nguy hại đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến đời sống của họ nên kiện tụng sẽ tăng.

Ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước ở Việt Nam(phần 1)

Thời gian gần đây, báo chí trong nước nói nhiều đến vấn đề suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam.

Tình trạng này không những chỉ xảy ra trên các lưu vực sông lớn, mà còn xảy ra với tài nguyên nước ngầm. Suy thoái nguồn nước được hiểu bao gồm ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước. Việt Hà xin gửi tới quý thính giả loạt bài tìm hiểu về vấn đề này.

Suy thoái nước nghiêm trọng trên các lưu vực sông của VN

Theo bộ tài nguyên và môi trường, tình trạng suy thoái nước trên các lưu vực sông của Việt Nam đang ngày một trở nên nghiêm trọng.

Đánh giá gần đây do Bộ tài nguyên và môi trường thực hiện cho biết trong  số 16 lưu vực sông được điều tra thì có 5 lưu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng, 5 lưu vực có chất lượng khá, còn lại ở mức trung bình.

Cũng theo đánh giá của Bộ Tài nguyên Môi trường, theo thứ tự ô nhiễm thì lưu vực sông Cửu Long bị ô nhiễm nặng nhất, tiếp đến là lưu vực sông Hồng – Thái Bình, lưu vực sông Đồng Nai, sông Vu gia – Thu Bồn, và lưu vực sông Cả.

Việc phát triển đô thị nhanh chóng và công nghiệp hoá
là nguyên nhân khiến nước các con sông lớn bị ô nhiễm. Theo báo cáo hồi đầu năm nay của  Bộ Tài nguyên và Môi trường, thì sau khi mở rộng, Hà nội có đến 255 làng nghề thuộc 6 loại hình sản xuất khác nhau.

Các làng nghề này hàng ngày xả nước thải hoàn toàn chưa qua xử lý vào các sông Nhuệ, sông Đáy khiến các con sông này trở nên ô nhiễm nghiêm trọng hơn.

Hay gần đây nhất là vụ sông Thị Vải bị ô nhiễm do việc xả nước thải chưa qua xử lý trong nhiều năm của nhà máy bột ngọt Vedan. Theo ước tính, mỗi ngày nhà máy này xả khoảng 5,000 m3 chất thải ra sông.

Ông Lâm Minh Triết, Viện trưởng viện nước và công nghệ môi trường, thành phố Hồ Chí Minh cho biết về nguyên nhân của tình trạng này như sau:

Lâm Minh Triết: suy thoái nghiêm trọng nhất là chất lượng nước mặt, vì hoạt động kinh tế xã hội là phát triển và vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ nguồn nước thì nó tiến không kịp.

Các nguồn xả như xả về công nghiệp, chăn nuôi rồi đô thị, xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu hoặc chưa có xử lý nước thải thành ra nên nguồn nước mặt tiếp nhận cái nguồn nước thải chưa xử lý đó thì diễn biến ngày một xấu.

Sông Thị Vải là điển hình của ô nhiễm trầm trọng, chỗ này mình phải cân nhắc phát triển kinh tế ở mức có thể, và vấn đề môi trường có thể hài hoà, lúc đầu thì việt nam mình muốn có những sự đầu tư, và vì thế vấn đề môi trường có vẻ mềm hơn, nhưng quá trình hoạt động thì xảy ra vấn đề về môi trường càng ngày càng nặng nề.

Các nguồn xả như xả về công nghiệp, chăn nuôi rồi đô thị, xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu hoặc chưa có xử lý nước thải thành ra nên nguồn nước mặt tiếp nhận cái nguồn nước thải chưa xử lý đó thì diễn biến ngày một xấu.

Ô nhiễm nước ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng nghiêm trọng đến không những chỉ môi trường sinh thái các con sông, mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân.

Nhiều nơi, các con sông đã trở thành các con sông chết, như sông Thị Vải ở Nam bộ, Tô Lịch ở miền Bắc. Tiến sĩ Ngô Đình Tuấn, trường đại học Thuỷ lợi,  nói về hậu quả này như sau:

Ngô Đình Tuấn : khu đô thị, khu công nghiệp thải các chất thải ra ngoài môi trường mà chất thải không xử lý, cứ đổ vào sông thì nước sông mặc dù có nhưng không dùng được.

Ví dụ nước sông Thị Vải hoặc nước sông Tô Lịch. Hay sông Đáy cũng thế, sông Nhuệ cũng thế, nước người ta cho vào kênh tưới tiêu nhưng đáng nhẽ ra phải kết hợp là nước cho sinh hoạt.

Nhưng giờ do ô nhiễm thải từ thành phố Hà Nội, Hà Đông ra, làm cho nó bẩn nên dù có nước nhưng không dùng được.

Mặt khác, Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế và công nghiệp hoá. Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa việc duy trì tốc độ phát triển và bảo vệ môi trường.



Để đảm bảo phát triển bền vững, ngoài những nỗ lực của chính phủ trong việc bàn hành các quy định pháp luật, Việt Nam cũng cần sự tự giác và hợp tác từ các doanh nghiệp.

Để đảm bảo phát triển bền vững, ngoài những nỗ lực của chính phủ trong việc bàn hành các quy định pháp luật, Việt Nam cũng cần sự tự giác và hợp tác từ các doanh nghiệp. Ông Lâm Minh Triết, viện trưởng viện nước và công nghệ môi trường có nhận xét:

Lâm Minh Triết : bài toán phải được xem xét và cân đối lại. phát triển ở mức độ nào, bây giờ nó đã phát triển như thế, thì làm sao hạn chế ô nhiễm để trong lúc phát triển thì đừng ô nhiễm thêm nữa đã là thành công rồi.

Nhưng không  biết tính tự giác của các doanh nghiệp mình thế nào, thường là họ lẩn tránh vấn đề môi trường, họ thường quan tâm đến lợi nhuận của hoạt động doanh nghiệp của họ.

Xây dựng các nhà máy xử lý nước thải

Để xử lý nước sông nhiễm bẩn, chính phủ Việt Nam đang thực hiện một số các dự án như xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các đô thị trước khi đổ ra sông, xử lý nước tại các con sông bị ô nhiễm trầm trọng.

Tiến sĩ Tăng Đức Thắng, thuộc viện khoa học thuỷ lợi miền Nam, cho biết như sau:

Tăng Đức Thắng : các dự án còn đang thực hiện rầm rộ, Nhiêu Lộc Thị Nghè đã tốt hơn so với ngày xưa, tốt hơn trông thấy.Ngày xưa cá không sống nổi, bây giờ người ta có thể đi câu trên kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè được rồi. ở đoạn sau đã đỡ hẳn.

Việt Nam đã có những quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, thành lập cảnh sát môi trường để giám sát và phát hiện vi phạm.

Tuy nhiên, theo ông Lê Bắc Huỳnh, Phó cục trưởng cục quản lý tài nguyên nước cho biết thì hiện hệ thống pháp luật về tài nguyên nước còn chưa hoàn chỉnh, cơ chế, chính sách, đặc biệt là chính sách kinh tế, tài chính còn thiếu.

Thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước chưa đầy đủ, chính xác, đồng bộ và việc chia sẻ thông tin, dữ liệu còn nhiều hạn chế.

Bộ Tài nguyên môi trường cho biết sắp tới sẽ tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng và đưa nội dung giáo dục bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái thuỷ sinh vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước ở Việt Nam(phần 2)

Kỳ này, Việt Hà xin được gửi tới quý vị những tìm hiểu về tình hình sụt giảm nguồn nước mặt và nước nhiễm mặn ở Việt Nam.

Việc khai thác quá mức của con người và biến đổi khí hậu đang làm cho nguồn tài nguyên nước mặt của Việt Nam  bị suy  giảm về số lượng.

Khai thác nước vượt quá mức cho phép

Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép tại các quốc gia chỉ nên giới hạn trong phạm vi 30% lượng dòng chảy. Trong khi đó, theo Bộ Tài nguyên Môi trường, thì hầu hết các tỉnh miền Trung, và Tây nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy về mùa khô khiến các dòng sông càng cạn kiệt.

Riêng tại tỉnh Ninh thuận, hiện các dòng chảy đã bị khai thác tới 70 -80%. Việc khai thác nguồn nước đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tài nguyên nước trên 7 đến 8 lưu vực sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, Thái Bình, và sông Đồng Nai.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự gia tăng nhanh về dân số làm cho việc khai thác tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan đến nước như đất, rừng vượt quá mức cho phép khiến tài nguyên nước bị suy kiệt.

Theo một thống kê gần đây của  Bộ Tài nguyên và môi trường, thì các lưu vực sông lớn ở Việt Nam như sông Cửu Long ở Nam bộ, lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình đều phụ thuộc phần lớn nguồn nước từ quốc tế.

Cụ thể sông Cửu Long phụ thuộc 95% nguồn nước quốc tế, trong khi lại sử dụng nhiều nước nhất, tỷ lệ trữ nhỏ nhất, mật độ dân số cao nhất và có số hộ nghèo cao thứ hai trong cả nước.

Lưu vực sông Hồng – Thái Bình phụ thuộc đến 40% nước sông từ Trung quốc chảy về, trong khi lượng nước bình quân đầu người thấp, mật độ dân số và số hộ nghèo cũng cao.

Tiến Sĩ Tăng Đức Thắng thuộc viện khoa học thuỷ lợi miền Nam cho biết về tình trạng và nguyên nhân của sự suy giảm nguồn nước mặt như sau:

Tăng Đức Thắng :
các dòng sông cạn kiệt thì lý do thế này, đặc biệt là ở miền Trung.  Ở miền Bắc một số nơi cũng vậy, nhưng miền Trung thì rõ hơn, ở các lòng sông nó cạn kiệt, người ta lấy nước ở các hồ chứa tưới cho các hệ thống tưới, nên người ta  xả nước xuống bản thân cái lòng sông đó thành ra lòng sông nhiều nơi nó khô đi.

Ví dụ như lòng sông vào mùa khô lượng nước là 10m3/s chẳng hạn, do một số hồ chứa không có thuỷ điện thì người ta lấy nước đó và do vậy mùa khô nó chỉ còn 1 đến 2m3/s, còn lại nước nó tích trong mùa lũ cộng với dòng chảy thiệt thì người ta dẫn luôn vào qua các cống lấy nước riêng ra, người ta dẫn đi một đường khác đưa vào tưới.

Đáng lẽ ra người ta phải xả xuống lòng sông thì người ta dẫn nước đi nơi khác để người ta tưới cho nên đúng là các lòng sông ở miền Trung là có vấn đề.

Theo ông Thắng thì hệ thống các hồ thuỷ lợi tại miền Trung mặc dù khiến vùng hạ lưu sau hồ bị cạn kiệt hơn vào mùa khô nhưng đổi lại, thảm thực vật quanh hồ lại xanh tốt hơn, và vì thế người dân có thể trồng được lúa. Tuy nhiên ông cũng thừa nhận là môi trường đằng sau lòng hồ lại bị ảnh hưởng. Ông nói:

ở đây có câu chuyện là môi trường sinh thái ở ngay đằng sau lòng hồ có vấn đề, nó xấu hơn so với điều kiện tự nhiên ngày xưa. về lâu về dài nó sẽ làm mất cả một hệ sinh thái điển hình của khu vực đó ví dụ như là một số loài cá, loài cây nó có thể mất đi

Suy thoái do biến đổi khí hậu

Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng khiến nguồn nước mặt các con sông bị giảm đi, và gây nên hiện tượng nhiễm mặn ở các dòng sông. Tiến sĩ  Ngô Đình Tuấn, thuộc trường đại học Thuỷ lợi, giải thích như sau:

Ngô Đình Tuấn : suy thoái đấy là do tác động của con người. nhưng còn suy thoái nữa là do biến đổi khí hậu. nước dâng lên, nước mặn đi sâu vào trong sông, như vậy là ta không còn dùng nó như là nước ngọt nữa mà là nước lợ hay nước mặn thôi.

“Suy thoái đấy là do tác động của con người. nhưng còn suy thoái nữa là do biến đổi khí hậu. nước dâng lên, nước mặn đi sâu vào trong sông, như vậy là ta không còn dùng nó như là nước ngọt nữa mà là nước lợ hay nước mặn thôi.

Đó là suy thoái. ví dụ là, có 2 mặt, thứ nhất là do nhiệt độ tăng lên, trong vòng 10 năm một thập kỷ như thế, là khoảng 0,6 độ C, làm bốc hơi tăng lên, làm dòng chảy giảm xuống, vì dòng chảy là hiệu quả giữa mưa và bốc hơi. giả dụ mưa không thay đổi, bốc hơi tăng lên, thì hiệu số giữa mưa và bốc hơi là dòng chảy giảm xuống, tài nguyên nước mặt giảm đi. thứ hai nữa là khi nhiệt đô tăng lên thì nhu cầu nước cho cây trồng vật nuôi đều tăng lên, kể cả sinh hoạt của con người yêu cầu cũng tăng lên.

“Giả dụ mưa không thay đổi, bốc hơi tăng lên, thì hiệu số giữa mưa và bốc hơi là dòng chảy giảm xuống, tài nguyên nước mặt giảm đi. thứ hai nữa là khi nhiệt đô tăng lên thì nhu cầu nước cho cây trồng vật nuôi đều tăng lên, kể cả sinh hoạt của con người yêu cầu cũng tăng lên.

Và nhu cầu càng tăng thì làm cho tài nguyên nước mặt giảm xuống. đó là mặt thứ nhất nói riêng về nhiệt độ tăng lên, mặt thứ hai cũng về biến đổi khí hậu là nước biển dâng cao lên, nó đưa nước mặn xâm nhập sâu vào trong lòng sông. Làm cho lượng nước ngọt giảm đi. nước lợ, nước mặn tăng lên.

Theo các chuyên gia, để phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước, giảm thiểu khó khăn về suy thoái nguồn tài nguyên này trên các lưu vực sông, Việt Nam cần coi trọng các biện pháp như xây dựng các hồ chứa thượng lưu để điều tiết nguồn nước và vận hành theo quy trình hợp lý.

Đồng thời xây dựng các công trình khai thác lấy nước mặt, nước dưới đất ở trung và hạ lưu các lưu vực sông nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước và duy trì dòng chảy môi trường.

Ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước (phần 3)

Trong buổi phát thanh này, Việt Hà xin được tiếp tục gửi đến quý thính giả những tìm hiểu về tình trạng ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước ngầm tại Việt Nam.

Sự sụt giảm đáng ngại của nguồn nước ngầm


Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước ngầm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường và cuộc sống của người dân.

Trước hết, sụt giảm nguồn nước ngầm hay còn được gọi là suy thoái trữ lượng nước ngầm được biểu hiện bởi việc giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước, và lún đất.

Theo một kết quả nghiên cứu gần đây của Trung tâm quan trắc và dự báo tài nguyên nước, Bộ Tài Nguyên Môi trường, trong mười năm, nước ngầm tại một số nơi ở Hà Nội giảm đến 6m tại thành phố Hồ Chí Minh có nơi giảm đến 10m.

Ông Huỳnh Lê Khoa, phó phòng quản lý tài nguyên nước và khoáng sản thuộc sở tài nguyên môi trường thành phố Hồ Chí Minh cảnh báo là nếu không có kế hoạch sử dụng hợp lý, không chú ý đến công tác bổ cập thì nguồn nước ngầm có khả năng chỉ khai thác được trong 30 năm nữa.

Theo ông Lâm Minh Triết, Viện trưởng viện nước và công nghệ môi trường, thì vấn đề quản lý khai thác nước ngầm ở thành phố Hồ Chí Minh đã vượt ra quá tầm kiểm soát của chính quyền và tình trạng khan hiếm nước ngầm đã thể hiện rõ rệt ở nhiều nơi. Ông nói:

Lâm Minh Triết : nước ngầm của mình thì không kiểm soát nổi. kể cả khai thác tư nhân, vấn đề khai thác và sau khai thác, ví dụ như là bảo vệ giếng sau khai thác thế nào thì không được quan tâm thật là đáng kể. rồi khai thác nhiều ở các tầng sâu khác nhau, tư nhân rồi công ty khai thác, nên mực nước tụt khá lớn.

Đặc biệt ở các thành phố lớn, người ta làm giếng đóng, rồi giếng khoan ở các độ sâu khác nhau, ví dụ như thành phố hồ chí minh thì mức cho phép là dưới 500,000 m3 một ngày đêm thôi, nhưng thực tế khai thác chừng 300 đến 400 là đã thiếu rồi.

Việc khai thác nước ngầm quá mức được lý giải là do gia tăng dân số, tốc độ đô thị hoá nhanh và sản xuất phát triển. Theo thống kê hiện thành phố Hồ Chí Minh có trên 300,000 giếng khoan.

Việc sụt giảm nguồn nước ngầm không chỉ gây thiếu nước sinh hoạt, lún đất mà còn khiến cho nước giếng ở một số nơi nhiễm mặn không thể dùng được nữa.

“Kết quả quan trắc độ PH nước ngầm của thành phố trong năm 2008 thấp dưới mức tiêu chuẩn. Kết quả quan trắc cũng cho thấy số lượng nhiều hoá chất độc hại trong nước ngầm như nitrat, amoniac và asen đã tăng đáng kể. Ở Hà Nội, mức độ nhiễm amoniac ở một số nơi đã vượt mức cho phép 20 đến 30 lần. –  Chi cục Bảo vệ môi trường

Khai thác bừa bãi thiếu trách nhiệm gây ô nhiễm nặng nguồn nước

Bên cạnh vấn đề sụt giảm trữ lượng nước ngầm, Việt nam cũng phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Theo Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc độ PH nước ngầm của thành phố trong năm 2008 thấp dưới mức tiêu chuẩn. Kết quả quan trắc cũng cho thấy số lượng nhiều hoá chất độc hại trong nước ngầm như nitrat, amoniac và asen đã tăng đáng kể.

Ở Hà Nội, mức độ nhiễm amoniac ở một số nơi đã vượt mức cho phép 20 đến 30 lần. Nhiều nơi ô nhiễm asen cao hơn 40 lần cho phép.

Nguyên nhân của việc ô nhiễm nước ngầm là do việc khoan xây dựng quá nhiều, cùng với việc khoan giếng và bảo vệ giếng nước không hợp lý sau khi khoan . Tiến  sĩ  Ngô  Đình  Tuấn, trường đại học thuỷ lợi cho biết như sau:

Ngô Đình Tuấn : đào không có nước, đôi khi vô ý không lấp, nước bẩn tràn vào, ngấm xuống tại chỗ đó. Vì khi mình đào như thế thì mình cứ để như thế, khoan không có thì cứ để chống như thế, thì nước bẩn chảy xuống, làm cho nó ô nhiễm. hiện nay ở tây ngyên nhiều hơn, vì ở tây nguyên tư nhân khoan rất nhiều để tưới cà phê, khoan xong không có nước người ta cứ để đấy, sau đó làm hỏng nước ngầm.

Cũng theo ông Tuấn thì, việc khai thác nước ngầm quá mức và ô nhiễm nước ngầm đã được đề cập đến từ lâu, nhưng cho đến gần đây, chính phủ mới thực sự coi trọng vấn đề này. Ông nói:

Ngô Đình Tuấn : cái này đã đề cập từ 10 hay 20 năm rồi, nhưng giờ mới thấy rõ và khắc phục, còn trước đây nói thế nhưng người ta cho rằng nước là trời cho nên người ta không quan tâm lắm, nhất là vịêc giảng dạy của chúng ta ở phổ thông coi là nước ta có nước phong phú, dạy cho trẻ con như thế thì cứ nghĩ là trời cho.

Giờ thì thấm thía rồi, thấm thía là nước bẩn, các tỉnh nào là ung thư, bệnh này bệnh nọ vì uống nước ngầm nhiễm bẩn, đã có một số làng như vậy rồi.

Chính quyền phải có biện pháp kiên quyết

Năm 2007, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định về việc cấm và hạn chế khai thác nước dưới đất. Các Sở tài nguyên môi trường và uỷ ban nhân dân các quận huyện, phường xã có trách nhiệm kiểm tra xử lý những trường hợp vi phạm.

Tuy nhiên theo ông Huỳnh Lê Khoa, phó phòng quản lý tài nguyên nước thành phố Hồ Chí Minh cho biết thì kết quả mang lại chưa như mong muốn.

Anh Sơn, một chủ doanh nghiệp tư nhân chuyên nhận khoan giếng cho các hộ gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết những quy định hiện tại của thành phố dù có hạn chế phần nào số lượng giếng mới, tuy nhiên người dân nhiều nơi vẫn tiếp tục khoan giếng trái phép, đặc biệt là ở các quận ngoại thành. Anh giải thích:

Sơn : thực ra bây giờ cấp nước chưa đủ cho dân với thứ hai là giá nó cao quá người ta xài không được người ta khoan giếng người ta xài thôi. Giá có hộ khẩu cũng cao trung bình 4,500 đồng giá định mức, còn không có hộ khẩu thì 8000 đến 10,000 đổ đi. Giếng thì dĩ nhiên rẻ hơn nhiều, xải thoải mái mà tốn bao nhiều điện đâu.

Các chuyên gia về môi trường tại Việt Nam cho rằng đã đến lúc vấn đề bổ cập và xử lý ô nhiễm nước ngầm phải được nhìn nhận và thực hiện một cách nghiêm túc. Bởi vì nếu Việt nam không có những nghiên cứu và biện pháp kiên quyết ngay từ bây giờ thì đến một lúc nào đó chẳng những nguồn tài nguyên này không còn để khai thác mà còn kéo theo nhiều hệ luỵ khác nữa.

Sông Mekong đang kêu cứu

Trong thời gian gần đây, nhiều tổ chức quốc tế và các chuyên tiếp tục báo động về hậu quả vô lường do sự xuất hiện ngày càng nhiều của các đập nước trên dòng sông Mekong, nhất là ở vùng thượng nguồn.

Việc TQ xây đập nước bừa bãi trên vùng thượng nguồn sông Mekong luôn là nỗi ám ảnh của khu vực hạ nguồn, nhất là VN.

ĐBSCL trong cơn hấp hối

Nhiều chuyên gia quy trách một loạt hệ thống 8 đập nước ở khu vực thượng lưu trên lãnh thổ Hoa Lục, từ các đập Mạn Loan, Đại Triều Sơn tới Cảnh Hồng, và sắp sửa có đập Noạ Trát Độ, đặc biệt là đập nước Tiểu Loan cao nhất thế giới – gần 300 mét – độc chiếm dòng sông Mekong, khiến đe doạ tới lượng nước, nguồn thuỷ sản, hệ sinh thái, môi sinh và cả hoa màu tại vùng hạ nguồn Mekong, nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long.

“Hệ thống 8 đập nước ở khu vực thượng lưu trên lãnh thổ Hoa Lục, từ các đập Mạn Loan, Đại Triều Sơn tới Cảnh Hồng, và sắp sửa có đập Noạ Trát Độ, đặc biệt là đập nước Tiểu Loan cao nhất thế giới – gần 300 mét – độc chiếm dòng sông Mekong, khiến đe doạ tới lượng nước, nguồn thuỷ sản, hệ sinh thái, môi sinh và cả hoa màu tại vùng hạ nguồn Mekong,

Theo nhận xét của Thạc sĩ Ngô Xuân Quảng thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới trụ sở tại Saigòn, thì vùng ĐBSCL đang hứng chịu toàn bộ tác động của các đập nước xây tràn lan ở vùng thượng nguồn.

Báo Tuổi Trẻ online trích dẫn lời Thạc sĩ Ngô Xuân Quảng giải thích rằng “vùng đồng bằng phía Nam của VN mất đi sự trù phú vì không còn phù sa từ dòng chảy Mekong mang về mỗi mùa lũ, và đất đai cho việc trồng trọt bị ảnh hưởng nặng hơn, do phèn tiềm tàng không được rửa trôi”.

Vẫn theo Thạc sĩ Ngô Xuân Quảng thì tình hình này, cộng thêm mực nước biển dâng cao hơn vì sự biến đổi khí hậu, khiến tình trạng nhập mặn vào sâu trong đất liền diễn ra đáng ngại tại các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL, làm thiệt hại hàng trăm ha lúa như đã từng xảy ra tại Gò Công, Tiền Giang, Bến Tre… – tình hình mà hồi tháng rồi, TS Lê Anh Tuấn, Chánh Văn phòng Viện Biến đổi Khí hậu cho biết đang tác động đáng kễ đến dòng chảy, làm trầm trọng thêm nạn hạn hán, nhập mặn tại vùng ĐBSCL.

Khai thác đến tận cùng


Thạc sĩ Ngô Xuân Quảng lưu ý thêm rằng không chỉ TQ, việc các nước thuộc vùng thượng lưu Mekong, gồm Thái Lan, Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập nước thuỷ điện quy mô sẽ góp làm trầm trọng vấn đề, nhất là sinh kế của của cư dân vùng ĐBSCL liên quan hoạt động sản xuất lương thực, phát triển thuỷ sản.

Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh, Giám đốc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên-Môi trường TP Cần Thơ mới đây cũng đề cập tới nhiều tác hại do những đập thượng nguồn mang lại cho khu vực hạ lưu, nhất là vùng ĐBSCL. Lên tiếng với phóng viên đài ACTD, Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh cho biết:

TS Kỷ Quang Vinh: “ Hiện nay trên những dòng sông, nếu có những đập ngăn nước như vậy, thì rõ ràng dòng nước chảy xuống phía dưới có những biến động rất lớn. Thí dụ nó làm thay đổi về mặt sinh thái, thay đổi về mặt chất lượng, sẽ ảnh hưởng đến các nước ở vùng hạ nguồn rất nhiều.

Đó là chưa kể về số lượng nước, khi người ta lợi dụng những công trình đập thủy điện để người ta dẫn nước sang nơi khác, khiến gây thiếu nước cho khu vực hạ lưu”.

“Không chỉ TQ, việc các nước thuộc vùng thượng lưu Mekong, gồm Thái Lan, Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập nước thuỷ điện quy mô sẽ góp làm trầm trọng vấn đề, nhất là sinh kế của của cư dân vùng ĐBSCL liên quan hoạt động sản xuất lương thực, phát triển thuỷ sản.

Theo Tân Hoa xã thì Bắc Kinh dự trù chi khỏang 3 tỷ đô-la để thực hiện kế họach chuyển dòng chảy từ các sông lớn ở miền Nam lên miền Bắc của Hoa Lục đang thiếu nước thường xuyên, góp phần đe dọa thêm nữa những nước hạ nguồn Mekong.

Những hậu quả vô lường

Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh lưu ý thêm rằng những công trình thủy điện trên dòng Mekong khiến các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật vốn có khả năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Và tầm tác hại của những đập nước thượng nguồn ấy có thể dẫn tới việc xóa sổ cả đặc trưng vùng ĐBSCL – là mùa nước lũ.

Các chuyên gia vùng ĐBSCL lên tiếng sau khi LHQ, cách nay không lâu, công bố một bản phúc trình lưu ý rằng kế hoạch đầy tham vọng của TQ cho xây một loạt 8 đập nước trên dòng Mêkong có thể tạo nên mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với con sông dài 4.800 km này chảy qua 6 nước, trong đó, VN nằm ở vị trí cuối nguồn.

Những cuộc nghiên cứu mới đây của Ủy ban sông Mekông cũng đề cập tới hậu quả đáng ngại liên quan nguồn thủy sản do các đập nước gây ra, kể cả việc gây trở ngại cho sự di chuyển của cá, tôm và làm thóai hóa nơi cư trú của các giống lòai thủy sinh.

“Những công trình thủy điện trên dòng Mekong khiến các nguồn thủy sinh, rong tảo, vi sinh vật vốn có khả năng điều hòa, cân bằng sinh thái sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng. Và tầm tác hại của những đập nước thượng nguồn ấy có thể dẫn tới việc xóa sổ cả đặc trưng vùng ĐBSCL

Tổ chức Bảo Vệ Các Dòng Sông Quốc Tế cũng báo động qua website rằng việc xây các đập thuỷ điện chẳn khác nào là một hình thức “bức tử” đối với ngành ngư nghiệp phong phú cùng sinh kế của hàng triệu ngư dân bên dòng Mekong.

Hôm thứ Năm, Liên Minh Cứu Vãn Sông Mekong, bao gồm nhiều tổ chức phi chính phủ cùng mọi thành phần xã hội từ giới học giả cho tới thường dân thuộc trong và ngoài các nước có dòng Mekong chảy qua đã thúc giục các chính phủ liên hệ hãy tạo điều kiện cho dòng Mekong tự do lưu chảy để có thể phục hồi nguồn thuỷ sản phong phú cùng sinh kế và nguồn thu nhập của các thế hệ hiện tại và mai sau vốn sống lệ thuộc vào dòng sông Mekong.

Vụ Vedan


Các tin khác về đất đai:

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HIỆN NAY

Truyện dài kỳ : đất đai

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: