Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Chống tham nhũng (1): “Muốn trừ cái tệ hối lộ phải có dân quyền – PHAN KHÔI”

Posted by BEAR trên Tháng Bảy 9, 2009

VN Phê chuẩn Công ước chống tham nhũng đặc biệt trừ Quy Định Hình Sự Hóa Hành Vi Làm Giàu Bất Hợp Pháp?

Quốc nạn tham nhũng: Công ty Mỹ ‘nhận đã hối lộ quan chức VN’ – VN sẽ lại “ngậm miệng ăn tiền”?

Hệ thống quyền và tiền

Vụ tiền polymer: Tiền “lại quả” ‘10 triệu AUD’ vào tài khoản Thụy Sĩ

PCI và cú “húc” của chiếc sừng tê giác

Scandal hối lộ xuyên quốc gia của Siemens

ODA và cuộc chiến chống tham nhũng – nhìn từ góc độ Nhà nước và thể chế

Tham nhũng ngày càng chuyên môn hóa. Ở đâu có quyền lực, ở đó có tham nhũng

Dân tự do đói thông tin – Cơ quan công quyền “vin” vào PL bí mật NN bưng bít thông tin để tự do tham nhũng và lạm quyền!?


http://www.viet-studies.info/Phankhoi/PKhoi_MuonTruHoiLo.htm

Muốn trừ cái tệ hối lộ phải có dân quyền

Đông tây số 116, ra ngày 21 Octobre 1931, chúng tôi có bàn về sự nhà nước trừng trị quan lại ăn hối lộ, và kết luận rằng sự trừng trị ấy chỉ bớt được cái tệ hối lộ đi một ít thôi, chứ không trừ hẳn đi được, vì hễ dân còn sợ quan quá thì cái tệ hối lộ cứ còn hoài.

Chúng tôi chỉ nói thế mà không nói đến làm cách nào cho dân hết sợ quan (Sợ đây là nói sợ cái uy thế của quan mà thôi). Độc giả hẳn cho điều đó là điều khuyết điểm của chúng tôi. Nhưng không phải vậy đâu. Bởi chúng tôi thấy nhà nước đã có lo trước đến chỗ đó rồi, nên chúng tôi không cần bày ra cái kế sách nào, hôm nay chỉ cần có đem ra mà cắt nghĩa.

Như bài trước đã nói, dân còn sợ uy quyền thế lực của quan lại, thì trong quan lại, kẻ nào bất lương, cứ ỷ vào chỗ đó mà ép dân, cho nên cái tệ hối lộ không bao giờ trừ được.

  • Nhưng vì cớ gì mà dân sợ quá như vậy?

–>Là vì theo lối chánh trị cũ của ta, dân không có một chút gì trong tay để làm hộ phù, nghĩa là dân không có quyền. Thế thì bây giờ muốn cho dân đủ cậy ở cái lẽ phải của mình mà không đem tiền đút cho quan nữa, còn gì hơn cho dân có cái hộ phù ấy nhiều ít trong tay họ dư? Phải vậy, dân phải có quyền thì mới chừa được cái thói sợ phi lý như những lúc trước.

Độc giả chớ thấy chúng tôi nói tới dân quyền mà lấy làm lạ. Ấy là việc rất tầm thường trong nước ta ngày nay, không đủ lạ gì. Chẳng những chúng tôi nghĩ rằng dân ta ngày nay phải có quyền hoặc nhiều hoặc ít, mà chính nhà nước Bảo hộ cũng phải nghĩ như vậy. Ấy là cuộc lập hiến cho Trung – Bắc kỳ sắp tới đây mà các ngài Đại hiến của Chánh phủ Bảo hộ đã nhiều lần hứa cùng chúng ta bấy lâu đó.

Cuộc lập hiến ấy hồi đầu do một nhà học giả xứ ta xướng ra, dư luận có nhiều lời dị nghi. Đứng về phương diện “học lý” thì lời dị nghị ấy chẳng phải là không có lẽ. Vì hiến pháp nào cũng như tờ giao kèo của hai bên, là vua với dân, hoặc Chánh phủ với dân. Ở nước ta, ngoài vua với dân ra, còn có Chánh phủ Bảo hộ nữa, sợ e rồi vì đó mà cái hiến pháp sẽ mất thăng bằng đi; bởi vậy mới có người đặt tên nó là “hiến pháp tam giác”.

Tuy vậy, cái học lý không hẳn là bao giờ cũng phù hợp với sự thực hành. Nhiều khi sự thực hành đã chiếm hẳn một địa vị nào trong không gian và thời gian, thì cái học lý phải tháo lui để nhường chỗ cho nó.

Gần một năm nay, lời dị nghị ấy phải tiêu trầm cho đến cái thuyết “trực trị” là thuyết tương phản với lập hiến cũng thất bại, bởi sao? Bởi chúng nó đều là “học lý”, trước mặt sự thực hành, chúng nó phải dụt đi!

Hiện nay chúng ta không nên đem những cái học lý nào mà làm cho trong đầu mình mơ hồ vơ vẩn nữa; song hãy ngó chăm sự thực hành sắp tới trước con mắt chúng ta, ấy là cuộc lập hiến đã được hứa.

Quan Toàn quyền, quan Thống sứ, quan Khâm sứ, ít nữa mỗi một ngài đã có nói đến việc này một lần rồi. Cuộc lập hiến cho Trung – Bắc kỳ là việc chắc sẽ có, không còn nghi ngờ gì nữa.

Không nói đến lập hiến thì thôi, không nói đến hiến pháp thì thôi, chứ đã nói đến, thì hai chữ “dân quyền” không còn chạy chối đi đâu được. Vì trong hiến pháp, chẳng nhiều thì ít, dân cũng phải có quyền; nếu dân không có quyền, thì sao gọi là hiến pháp?

Quan Toàn quyền, quan Thống sứ hứa rằng Chánh phủ Bảo hộ sẽ lập cho Trung – Bắc kỳ một cái hiến pháp, ấy là các ngài nhìn nhận rằng dân Trung – Bắc phải có quyền, và sẽ đem cái quyền ấy mà trao cho dân trên giấy trắng mực đen. Thế thì hai chữ “dân quyền” trong đất nước ta từ rày về sau, là do Chánh phủ xướng ra, do Chánh phủ cầm mà trao cho dân, nào có phải ở dưới đất nứt lên đâu mà lấy làm lạ.

Ngày nay chỉ có cái vấn đề là dân Trung – Bắc có biết dùng cái quyền ấy hay không mà thôi. Chúng tôi muốn bàn là bàn về chỗ ấy. Chứ còn, hễ đã có hiến pháp thì ít nhiều cũng phải có dân quyền, sự đó không cần bàn.

Nếu một ngày kia – ngày ấy không lâu – hai xứ Trung – Bắc kỳ có chung một cái hiến pháp, thì cái hiến pháp ấy dầu thế nào, quý hồ trong ấy có định ra ít nhiều quyền lợi cho dân là đủ.

Dân không có quyền xưa nay, mà hốt nhiên ngày nay có quyền, họ sẽ dùng cái quyền ấy thế nào, ấy là sự đáng lo. Chúng tôi rất mong các nhà pháp luật học, các nhà ngôn luận, hết sức tuyên truyền cho đồng bào ta điều đó, hầu cho họ dự bị để làm người dân có quyền trong một vài năm tới đây.

Hôm nay trong bài này, chúng tôi chỉ muốn cắt nghĩa tại sao có dân quyền rồi thì trừ được cái tệ hối lộ.

Theo lối chánh trị cũ của ta, nhất là ở Trung kỳ, quan phủ, quan huyện, hay là quan tỉnh các ngài coi bên chánh mà cũng coi luôn bên hình có quyền xử kiện mà cũng có luôn quyền bắt giam người ta và làm án hay là tha (………)(*). Sự hối lộ sinh ra vì đó, vì quyền quan thì rộng mà dân không chút quyền gì để bảo hộ lấy mình.

Nếu có hiến pháp – tức là cái hiến pháp sẽ lập cho Trung – Bắc kỳ – thì không còn như vậy nữa. Chúng tôi không dám đoán trước những cái điều, mục trong hiến pháp ấy sẽ ra sao, nhưng cứ theo nguyên tắc thì dầu hiến pháp nào cũng phải có những điều dưới này.

Cần nhất là sự phân quyền (séparation des pouvoirs).

Nghĩa là bên chánh với bên hình chia rẽ hẳn ra, bấy giờ một ông quan không có thể vừa bắt người lại vừa xử phạt được; như vậy, ông quan ấy không còn lấy cái gì để doạ dân mà lấy tiền.

Bên dân thì nhờ có pháp luật bảo chướng cho. Theo như hiến pháp các nước thì thế nào cũng phải có điều này: Một người dân, nếu không y theo(**) pháp luật thì không hề khi nào bị bắt, bị giam, bị soát nhà cùng bị những sự thiệt hại khác. Như vậy thì kẻ có máu mặt mà không phạm tội, không còn bị quan bắt ngay để sách tiền.

Dân có quyền, mà quyền ấy bởi hiến pháp ban cho, lại nhờ pháp luật bảo hộ, thì tự nhiên không còn sợ….. như lúc trước và không đem tiền cho quan ăn, sự hối lộ đến ngày ấy sẽ trừ đi được.

Nếu trong mấy năm nữa, khi Trung – Bắc kỳ có hiến pháp rồi, dân có quyền rồi mà cái tệ hối lộ vẫn còn chưa dứt, thì lại là tại dân có quyền mà không biết dùng quyền mình. Bởi vậy chúng tôi mới mong có sự tuyên truyền hầu để ai nấy dọn mình dự bị làm người dân có quyền và biết dùng quyền trong khi nhà nước đã lập hiến.

PHAN KHÔI

Đông tây, Hà Nội, s.127 (28.11.1931)


(*) Chỗ này bản gốc để dấu chấm chấm (…) liền 4 dòng, có lẽ có một đoạn bị bỏ.

(**) Chỗ này ở bản gốc có lẽ có lỗi viết hoặc lỗi in: Lẽ ra phải là “nếu y theo”, tức là “nếu không vi phạm” thì mới đúng với ý của toàn bộ câu này. Còn viết “nếu không y theo” thì nghĩa là “không tuân thủ”, tức là “vi phạm” thì lại sai với ý của toàn câu.


Bình loạn:

Đây là 1 bài học lịch sử, mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bài này chỉ ra 2 nguyên nhân chính làm cho cuộc chiến chống tham nhũng  ở VN vẫn đang trong tình trạng bế tắc.

– Đó là tại VN, chưa phân quyền rõ ràng, bên hành pháp và tư pháp.

– Đó là tại VN, dân còn sợ quan, vì dân quyền chưa được đảm bảo bởi pháp luật, hoặc người dân có quyền mà chưa biết quyền của mình?

Như vậy có 2 hướng để giải quyết :

– Cải cách pháp luật.

– Giáo dục pháp luật và dân quyền cho công dân.

Nói tóm gọn lại là: Xây dựng nhà nước Pháp trị

Hôm qua, tôi đọc bài Nhà nước pháp trị trong đời sống thường nhật trên tuanvietnam.

Thượng tôn pháp luật là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Một trong những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước pháp trị đó là tuân thủ luật pháp và được Nhà nước bảo đảm thực thi bằng Toà án độc lập Luận bàn về câu chuyện này, TuanVietNam xin giới thiệu bài viết của TS. Nguyễn Sĩ Phương.

Chuyện người, chuyện mình

Ảnh: tailieu.

Gần 8 triệu ngoại kiều trên tổng số hơn 80 triệu dân Đức muốn nhập quốc tịch phải vượt qua kỳ thi trắc nghiệm kiến thức xã hội nước Đức, trong đó có một câu hỏi, nhà nước pháp trị là gì, với 4 câu trả lời sẵn sơ đẳng: 1- Nhà nước có quyền, 2- Đảng có quyền, 3- Công dân quyết định luật pháp và

4- Nhà nước phải tuân thủ pháp luật.

Những ngoại kiều nhìn Nhà nước bằng con mắt của kẻ nô lệ bao giờ cũng trả lời sai, đánh vào câu số 1, trong khi chỉ mỗi câu số 4 đúng – chính là dấu hiệu đặc trưng của một nhà nước pháp trị, đòi bất cứ hoạt động nào của bất kỳ cơ quan nhà Nước nào đều phải viện dẫn chuẩn mực pháp lý của những điều khoản luật pháp điều chỉnh nó; cũng xuất phát từ đó, mọi vấn đề xã hội nảy sinh, họ không thể không mổ xẻ văn bản luật liên quan, để cải cách nó.

Xã hội họ phát triển, hoàn thiện liên tục chính là kết quả tổng hợp từ những cải cách luật thường nhật như vậy; thiếu nó, mọi chủ trương, chính sách dù thần kỳ mấy cũng không thể trở thành hiện thực.

Cách đây mấy tháng, tại Sachsen, một người đàn ông gọi tới số điện khẩn cảnh sát báo sẽ giết vợ, tự sát. Cảnh sát tức tốc tới nơi, không thấy động tĩnh gì, bèn cẩn thận cho xe chạy lòng vòng quan sát, thì phát hiện được đương sự từ xa đang dí khẩu súng vào thái dương chực bóp cò.

Cảnh sát xô đến cản, mũi súng bất ngờ quay phắt lại nhằm cảnh sát nhả đạn chát chúa. Cảnh sát thất kinh, rút súng tự vệ, bắn trả đương sự chết tại chỗ. Khi hoàn hồn, họ mới phát hiện được đó là khẩu súng bắn doạ, trông hệt thật.

Quan chức, chính khách lập tức lên tiếng trước một mạng người bị chết oan uổng. Chỉ cách 2 tháng sau, Quốc hội Đức đã thông qua luật vũ khí sửa đổi, cấm lưu hành súng bắn doạ trông như thật, nhằm tránh lặp lại cho xã hội, khác ở ta giải quyết vụ việc như thế thường chỉ dừng lại nơi nó xảy ra.

Đến vụ chấn động nước Đức hồi tháng Ba, một học sinh ở Winnenden cuồng sát tới 15 nhân mạng; từ Tổng thống, Thủ tướng, đến chính khách các đảng phái đều có mặt tại tang lễ, tất cả lên tiếng, đòi cải cách luật, không dừng lại ở mức chỉ yêu cầu cơ quan thừa hành xem xét trách nhiệm như thường thấy ở ta.

Tới tháng trước, Chính phủ đã hoàn tất dự luật vũ khí cải cách, trình quốc hội; lần này quy định ngặt nghèo từ điều kiện, lứa tuổi được phép, loại, số lượng súng, cách thức lưu giữ, trách nhiệm đăng ký, bảo vệ, chịu giám sát, và án tù cho từng mức vi phạm.

Sang vụ ngân hàng HRE rơi vào nguy cơ phá sản 3 tháng trước, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, chỉ quốc hữu hóa mới có thể cứu vớt được nó, nhưng bị Hiến pháp Đức cấm, buộc Hạ và Thượng viện Đức phải sửa đổi tạm thời điều khoản tương thích trong Hiến pháp, để có thể ban hành được Luật Quốc hữu hoá trong giới hạn cho phép, áp dụng chỉ cho ngân hàng này, với thời hạn hiệu lực đến tháng 10/9.

Liên hệ những thực tế trên sang Quốc hội ta, chỉ riêng thời gian 1 năm 2 kỳ họp, đã thấy bất khả kháng không thể làm luật được như họ.

Xã hội chỉ còn biết trông chờ vào cố gắng của cơ quan hành xử, với bao rủi ro; có thể đo lường qua ví dụ so sánh hiệu quả quyết định của Chính phủ ta trợ cấp tiền tiêu Tết cho hộ nghèo đầu năm, với cùng quyết định tương tự ở Đức, cũng từ đầu năm, cấp cho những hộ sống nhờ trợ cấp xã hội mỗi con nhỏ mỗi năm thêm 100 Euro tiền mua sách vở.

Quyết định của họ là một văn bản lập pháp, do Chính phủ chuẩn bị dự luật, trình Hạ viện thông qua, Thượng viện chuẩn y, Tổng thống ký ban hành; các cơ quan chịu trách nhiệm cấp phát cứ theo luật tự động thực hiện, nếu không sẽ bị chế tài, chẳng cần người dân phải xin, cũng chẳng cần bất cứ văn bản hướng dẫn nào từ trên; trong khi ở ta, chỉ mỗi quyết định của Chính phủ, với cơ chế thực hiện thụ động, trông chờ chỉ thị, mệnh lệnh, dẫn đến cấp sai, chậm, đủ kiểu chia chác… hậu quả phải giải quyết bao lâu sau, mất luôn cả niềm tin trong không ít dân chúng.

Nhà nước thượng tôn pháp luật

Nhà nước tuân thủ luật pháp không chỉ
dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước pháp trị,
mà còn được chính Nhà nước bảo đảm
thực thi bằng công cụ hữu hiệu, đó là
Toà án độc lập.
Ảnh: cancan.

Văn bản luật trong Nhà nước pháp trị bao gồm một hệ thống từ Hiến pháp – văn bản luật bao trùm nhất, đến các văn bản lập pháp ban hành bởi cơ quan dân cử, tới các văn bản lập quy hướng dẫn các cơ quan hành xử thực thi văn bản lập pháp.

Dù đâu ban hành, thì các văn bản pháp lý đó cũng vẫn là sản phẩm chủ quan của những con người được trao danh nghĩa nhà nước. Nhà nước pháp trị vì vậy cũng sẽ chẳng khác bất cứ loại hình Nhà nước nào, nếu văn bản luật đó ban hành và thực thi bất chấp cá nhân người dân bị xâm phạm quyền và lợi ích không thể kháng lại.

Do đó, Nhà nước tuân thủ luật pháp không chỉ dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước pháp trị, mà còn được chính Nhà nước bảo đảm thực thi bằng công cụ hữu hiệu, đó là Toà án độc lập.

Nói cách khác,

mọi cá nhân, pháp nhân, đều có quyền khởi kiện Nhà nước

, khi cho rằng việc ban hành, hay thực thi của cơ quan công quyền hoặc vi hiến hoặc phạm luật, không bảo đảm hay xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của nơi có lợi ích của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật.

Sẽ không còn là một Nhà nước pháp trị, nếu nguyên tắc bình đẳng đó bị vi phạm, nên nó được luật pháp bảo đảm chắc chắn bằng quy trình pháp lý bắt buộc: mọi quyết định của cơ quan công quyền đối với bất cứ cá nhân, pháp nhân nào, liên quan đến quyền, lợi ích của họ đều bắt buộc phải có mục cuối cùng, chỉ dẫn thủ tục pháp lý chống lại, nếu thiếu sẽ không có hiệu lực; đầu tiên yêu cầu chống tại cơ quan ra quyết định, tiếp theo tại toà án có thẩm quyền; bất kể cơ quan ra và pháp nhân nhận quyết định là ai hoặc cấp nào; có thể hình dung qua thực tế phiên toà xét xử tranh chấp giữa Thượng viện Đức (cơ quan lập pháp Liên bang tập hợp đại diện chính quyền các Tiểu bang) với Cơ quan bảo hiểm hưu trí Đức tiểu bang Berlin-Brandenburg.

Từ năm 2001-2004, Thượng viện Đức thuê 15 người vào làm việc hướng dẫn, phục vụ khách tới Thượng viện thăm giao dịch. Nếu ký hợp đồng lao động làm công, Thượng viện phải trích nộp bảo hiểm xã hội bằng 39,9% tiền lương.

Nếu coi 15 người đó là tự hành nghề (doanh nghiệp 1 người), ký hợp đồng khoán dịch vụ với doanh nghiệp, thì Thượng viện không phải trích nộp bảo hiểm, chỉ phải trả thêm 19% thuế giá trị gia tăng.

Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào, phải cân nhắc thiệt hơn khi chi thu, Thượng viện quyết định chọn phương án 2, để tiết kiệm cho mình khoản tiền chênh lệch bằng 20,9% tiền lương. Cơ quan bảo hiểm khi kiểm tra chế độ trích nộp qũy bảo hiểm của Thượng viện, không chấp nhận, cho rằng 15 người này là lao động làm công, không phải tự hành nghề, ra quyết định đòi truy thu Thượng viện, tổng cộng 15.000 Euro phí bảo hiểm hưu trí.

Thượng viện không chịu, theo đúng luật định, như mọi pháp nhân khác, đệ đơn chống lại, nhưng không được, viện tiếp đến Toà án Xã hội Berlin xét xử. Đầu tháng trước, với án quyết số S 36 KR 2382/07, toà đứng về phiá cơ quan bảo hiểm, phán 15 người đích thực là lao động làm công do Thượng viện bố trí công việc, thời gian, đeo phù hiệu Thượng viện, trả lương theo thang bậc, nên không thể coi họ là tự hành nghề, và nghị án, Thượng viện phải chấp hành quyết định của cơ quan bảo hiểm hưu trí.

Hiện thế giới hiện đại không còn ai bàn cãi về Nhà nước pháp trị, nhưng hệ dẫn của nó,

Nhà nước phải tuân thủ pháp luật, kể cả Thượng viện, một cơ quan lập pháp tối cao trong thể chế lưỡng viện, cũng phải chịu phán quyết của toà, thì không phải ai cũng hiểu,

chừng nào họ vẫn chưa thay đổi được quan niệm coi Nhà nước mới có quyền, kể cả ngoại kiều sống trong xã hội đó nếu không hoà nhập đủ.


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: