Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Mối Nguy Trung Quốc (6) : Biển Đông nổi sóng –>Ngư dân Việt bị TQ bắt giữ!

Posted by BEAR on Tháng Bảy 12, 2009

2009-06-11 – Nỗi lo sợ của ngư dân Việt Nam

Phép thử của Trung Quốc

Trong những ngày qua, báo chí tại Việt Nam đăng nhiều bài kể chuyện ngư dân, nhất là giới làm biển ở khu vực miền Trung dù đang trong mùa khai thác, nhưng phải nằm bờ do lệnh cấm mà phía Trung Quốc đưa ra hồi tháng năm vừa qua.

Theo lệnh đó thì từ ngày 16 tháng 5 cho đến 1 tháng 8 tới đây, phía cơ quan chức năng trên biển của Trung Quốc sẽ cấm khai thác tại những khu vực mà trong đó có những vùng thuộc lãnh hải Việt Nam.

Lệnh cấm đó tạo thêm khó khăn trong họat động sinh kế của ngư dân Việt Nam.

Lo bão tố nay lại lo thêm tầu TQ tấn công

Trong tất cả các nghề lao động tay chân, nghề đi biển là nghề thuộc lại vất cả hàng đầu. Ngoài khả năng sức vóc, người làm nghề đi biển bị lệ thuộc vào quá nhiều yếu tố, và mạng sống của người ngư dân trước sóng gió, thật mong manh vì vào khi đó không có nơi nào cho họ bám víu.

Đối với ngư dân Việt Nam thì gần đây ngoài những rủi ro của nghề nghiệp, họ còn phải đối phó với nguy cơ gặp phải tàu lạ, thường là tàu của phía Trung Quốc, khi mà tàu Trung Quốc cho rằng ngư dân Việt Nam vi phạm vùng đánh cá. Sự thật đã có những ngư dân Thanh Hóa bị phía Trung Quốc bắn chết hồi năm 2005, và gần đây nhiều tàu của ngư dân Việt Nam bị tàu lạ đâm chìm và bỏ chạy.

Một ngư dân từ Đà Nẵng cho biết nổi sợ khi gặp tàu Trung Quốc:

Ví dụ ‘hắn’ bắt được là phạt 8 ngàn, mà tiền đâu nộp phạt. Thấy là tránh, chuyện chủ quyền là việc Nhà nước, pháp luật chứ chúng tôi đâu biết. Chúng tôi ra 111-112 độ đông, độ bắc thì 16-17 chứ lên 18-19 không dám lên. Thấy tàu nước ngoài là sợ bỏ chạy, nhiều khi có cá cũng phải bỏ đi, sợ.

Một ngư dân ở Nghệ An cũng cho biết tình trạng liên quan:

Vùng đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ thì không đến vì sợ như trường hợp các ngư dân Thanh Hóa trước đây đụng với tàu Trung Quốc bị bắn chết…

Nổi sợ mà người ngư dân vừa nói xuất phát từ trang bị kém cỏi của phía Việt Nam so với phía Trung Quốc.

Bên ta kém, bên ‘nó’ mạnh.

Một ngư dân từ huyện Hoằng Trường, tỉnh Thanh Hóa nói về điều này:

Vì yếu hơn nên phần thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về người ngư dân như trường hợp ông Nguyễn Thanh Thu ở huyện Bình Chánh, tỉnh Quảng Ngãi, chủ chiếc tàu vừa bị tàu lạ đâm chìm hồi tháng năm vừa qua:

Tàu hồi đó đóng cũng 650 ‘triệu’, tổng số tiền đi biển chuyến đó cũng gần cả tỷ. ‘Sau tai nạn đó’ thì gửi đơn đi nhiều nơi, nhưng chưa trả lời gì, giờ khổ lắm.

Chính ông Chu Tiến Vĩnh, Cục truởng Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản, thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam cũng thừa nhận về khả năng còn hạn chế của các lực lượng trên biển của Việt Nam:

TQ là một trong những cường quốc thế giới, phát triển rất mạnh về hải quân, trong khi nước ta còn nghèo nên trang thiết bị chưa thật hiện đại. Như Mỹ với TQ, TQ với Nga  cũng khác nhau chứ.

Tại Việt Nam, lâu nay người ta ít khi được nghe tin các cơ quan chức năng về biển bắt các tàu đánh cá đi vào vùng biển của Việt Nam, thế nhưng ngư dân Việt thì hay bị bắt bởi lực lượng chức năng biển của các nước khác như trình bày của một ngư dân tại Phú Yên:

“Tại Việt Nam, lâu nay người ta ít khi được nghe tin các cơ quan chức năng về biển bắt các tàu đánh cá đi vào vùng biển của Việt Nam, thế nhưng ngư dân Việt thì hay bị bắt bởi lực lượng chức năng biển của các nước khác như trình bày của một ngư dân tại Phú Yên:

Kiểm ngư VN đâu có đi xa, chỉ theo dõi trong bờ thôi, nói sự thật để trên nghiên cứu. Cả hải quân, khi có gì thường thường không thấy hải quân đi ngoài đó. Mình chỉ biết nơi mình đánh bắt để báo cho cơ quan chức năng, để nhà nước theo dõi có thể hổ trợ khi đột xuất về thời tiết thôi, và khi thấy gì khả nghi thì báo cho nhà nước.

Bị đuổi bắt thường ở vùng 5, sâu gần Malaysia hay Indonesia nếu mình đi vào vùng họ là họ bắt.

Người ngư dân Phú Yên bày tỏ nguyện vọng được chính quyền hổ trợ để họat động ra khơi làm ăn của họ được ổn định:

Mong muốn nhà nước hổ trợ về thông tin, di chuyển sao cho dân có cuộc sống ổn định hơn.

Người ngư dân tại Nghệ An cũng có mong muốn:

Từ trung ương đến địa phương cần có hổ trợ như việc thông tin khí tượng chính xác, thông tin về khu vực đánh bắt an toàn ở Vịnh Bắc Bộ, địa phương thì có đầu tư về cơ sở hạ tầng, môi trường…

Cũng như các ngành nghề khác, ngoài việc tự bươn chải các ngư dân Việt Nam cần có sự hổ trợ tích cực từ phía cơ quan chức năng thì họ mới mong duy trì được nghề nghiệp, phương kế sinh nhai bền vững.

Dân Việt Nam “anh hùng” vái lạy lính Bắc triều

http://www.youtube.com/v/P9kPsRhG37U

Ledienduc’s Blog News

Nhân dân Việt Nam anh hùng dưới thời vươn ra biển lớn của Thái thú Ba Dũng?

Mời các bạn xem và bình luận!

Ledienduc’s Blog News

ngudanVNvailayHQTQ

26/6/2009 – VN Yêu cầu Trung Quốc thả ngay số ngư dân Việt Nam bị bắt giữ

Ngày 21/6, lực lượng tuần tra Trung Quốc đã bắt ba tàu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam, khi họ đang hành nghề đánh cá bình thường tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc này, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Lê Dũng khẳng định: “Hành động này của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông”.

Ông cho biết, ngày 22/6, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá nói trên.

Ngày 25/6, hai tàu cá gồm 25 ngư dân đã về đến Việt Nam an toàn. Hiện các cơ quan chức năng của Việt Nam đang tiếp tục yêu cầu phía Trung Quốc “thả ngay các ngư dân và tàu cá còn lại, không có hành động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam”.

Trước đó, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá tại một số vùng biển, trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, có hiệu lực từ ngày 16/5 đến ngày 1/8/2009.

Ngay sau đó, theo ông Lê Dũng, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã “giao thiệp với đại sứ Trung Quốc để đề nghị phía Trung Quốc không có những hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam”.

RFA

Về vấn đề này, báo chí trong nước cũng trích dẫn nguồn tin từ cơ quan chức năng Việt Nam nói là hôm trung tuần tháng 6 vừa qua, tàu tuần tra Trung Quốc bắt ba tầu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi khi số này đang hành nghề luới câu gần khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã lập biên bản xử phạt ba tàu với tổng số tiền là 210 ngàn nhân dân tệ, tương đương 540 triệu đồng Việt Nam. Hiện còn hai tàu cùng 12 ngư dân đảo Lý Sơn còn bị phiá Trung Quốc giữ tại Hoàng Sa.

Tờ Tiền Phong cho biết các nạn nhân đang làm đơn kêu cứu vì không thể có đủ tiền nộp phạt

Trung Quốc bắt giữ, phạt tiền ngư dân Việt Nam vô lý

Chiều 26/6, UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức cuộc họp khẩn để bàn giải pháp cứu các tàu cá và ngư dân Lý Sơn đang bị Trung Quốc giam giữ. Trong khi đó, các gia đình ngư dân đang lo lắng về mức tiền phạt hết sức vô lý của Trung Quốc lên tới hàng trăm triệu đồng

Theo Báo Thanh Niên, mấy ngày qua, nhiều gia đình ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) như ngồi trên lửa, hết sức lo lắng cho số phận người thân của mình gồm 12 ngư dân và 2 tàu cá đang bị Hải quân Trung Quốc giam giữ tại đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) của VN với thời hạn trong 10 ngày phải nộp đủ tiền phạt mới được trả tự do.

Ngư dân kêu cứu

Ông Dương Văn Thọ (chủ tàu QNg 6597-TS) và quyết định xử phạt của Trung Quốc. Ảnh: Tuổi Trẻ

25 ngư dân được thả về trên chiếc tàu QNg – 6597 TS đã đến đảo Lý Sơn, nhưng vẫn chưa hết lo sợ vì “án phạt” còn đang treo lơ lửng trên đầu, là 3 tờ biên bản nộp phạt với tổng số tiền lên đến 210.000 nhân dân tệ (khoảng 540 triệu đồng) kèm theo điều kiện sau 10 ngày phải nộp đủ tiền phạt, 12 ngư dân và 2 chiếc tàu trên mới được thả, còn nếu không thì chưa biết đến bao giờ.

Trong những ngày qua, dù chạy đôn, chạy đáo vay mượn tiền khắp nơi nhưng nhiều gia đình ngư dân vẫn không tài nào xoay đủ số tiền quá lớn như vậy, kể cả các chủ tàu, nên chỉ biết làm đơn kêu cứu.

Chị Phạm Thị Bé, vợ của thuyền trưởng Nguyễn Chí Thạnh nước mắt ngắn dài: “Hai vợ chồng trẻ mấy năm nay làm biển tích cóp được chút ít, rồi vay mượn đóng được chiếc tàu mừng hết hơi. Nào ngờ bây giờ chồng bị bắt, tàu bị giam giữ ngoài đảo, biết làm sao đây? Nợ nần còn chưa trả xong, lấy đâu ra tiền chuộc chồng, chuộc tàu…”.

Cũng như chị Bé, nhiều gia đình ngư dân ở Lý Sơn đang nơm nớp lo âu cho số phận người thân, tài sản của mình đang bị giam giữ trong khi thời hạn nộp phạt cứ trôi qua từng ngày.

Nghề biển ở Lý Sơn mấy năm qua mất mùa, nhiều chuyến biển trở về vừa đủ chi phí nên nhiều ngư dân đi bạn chỉ mong kiếm đủ tiền lo trang trải chi tiêu gia đình, con cái học hành. Chính vì thế, khả năng lo đủ tiền nộp phạt là điều quá khó, ngoài tầm tay của họ.

Ông Nguyễn Dự – Chủ tịch UBND xã An Hải (Lý Sơn), nói với PV Thanh Niên vào sáng 26/6 rằng, hầu hết các gia đình có người đang bị Hải quân Trung Quốc giam giữ, cuộc sống còn bao khó khăn, bây giờ bảo họ nộp phạt với số tiền quá lớn thì lấy tiền ở đâu

Trước tình cảnh bi đát ấy, UBND xã An Hải đã có văn bản số 123/BC-UBND gửi các cơ quan chức năng của tỉnh và Trung ương kiến nghị cần có biện pháp can thiệp để sớm đưa các phương tiện và ngư dân của huyện đảo Lý Sơn trở về đoàn tụ với gia đình.

Bị bắt trên đường đi tránh bão

Theo ông Nguyễn Dự, lúc bị bắt, cả 3 chiếc tàu nói trên đều nằm trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, hơn nữa chưa nói đó là lúc họ đang trên đường tìm nơi trú ẩn để tránh bão số 2. Do vậy việc bắt giữ và phạt tiền là hết sức vô lý.

“Chả lẽ cứ bị bắt rồi phải nộp phạt mới được thả, thì làm sao ngư dân dám ra khơi xa, đánh bắt dài ngày trên biển? Mà nếu nộp phạt hoài thì cũng chẳng có tiền đâu để nộp”, ông Dự nói.

Trong 3 chiếc tàu bị bắt nói trên, có tàu QNg – 6364 TS (do ông Bùi Văn Thuế làm thuyền trưởng) và tàu QNg – 6597 TS (do ông Dương Văn Hưởng làm thuyền trưởng), mỗi tàu đều có 12 ngư dân, cùng bị bắt vào lúc 10 giờ ngày 16.6 tại tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112058’ kinh Đông; tàu QNg – 6517 TS do anh Nguyễn Chí Thạnh làm thuyền trưởng, trên tàu có 13 ngư dân bị bắt vào lúc 13 giờ ngày 17.6 tại tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112045’ kinh Đông thuộc vùng biển quần đảo Hoàng Sa.

Anh Dương Tân (37 tuổi, ở xã An Hải), một trong những ngư dân đi trên tàu QNg – 6364 TS, kể lại, lúc đó trời bắt đầu gió mạnh nên thuyền trưởng Bùi Văn Thuế cho tàu chạy tìm nơi tránh bão, khi cách đảo Linh Côn chừng 15 hải lý thì thấy tàu Trung Quốc có số hiệu 309 ập đến.

Ngư dân Dương Văn Thọ lo lắng : “Bây giờ ra biển xa, chủ tàu, thuyền trưởng, ngư dân ai cũng lo. Lỡ bị bắt, bị nộp phạt thì coi như tán gia bại sản. Như vậy đóng tàu công suất lớn để làm gì, chả lẽ chỉ để quẩn quanh ven bờ thôi sao?”.  Ảnh: Thanh Niên

Biết có chuyện chẳng lành, thuyền trưởng Thuê cho tàu tăng tốc, bỏ chạy nhưng chỉ được chừng 2-3 giờ đồng hồ thì bị bắt. Mọi người đều sợ hãi, mặt mày tái xanh và cũng chẳng biết làm gì hơn đành giơ hai tay lên đầu và bị buộc qua tàu Trung Quốc về đảo Phú Lâm.

Anh Tân cho biết, họ nói toàn tiếng Trung Quốc nên chẳng ai hiểu gì cả. Đến khi có một phiên dịch tiếng Việt mới hiểu rằng, lý do bị bắt là do vi phạm Luật Ngư nghiệp nước CHND Trung Hoa (!).

Về đến nhà ở thôn Tây, xã An Hải (Lý Sơn), anh Nguyễn Tâm (46 tuổi, đi tàu QNg – 6517 TS) vẫn chưa hết bàng hoàng. Trong đơn thỉnh cầu gửi các cơ quan chức năng, anh Tâm trình bày trên tàu QNg – 6517 TS có 13 thuyền viên, thường đánh bắt hải sản ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Vào lúc 13 giờ ngày 17.6, tàu QNg – 6517 TS đang trên đường chạy tránh bão số 2, khi đến tọa độ 16040 vĩ Bắc – 112045 kinh Đông, cách đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 12 hải lý về phía đông nam, thì bất ngờ có tàu Trung Quốc số hiệu 309 đến vây bắt. Sau đó, tàu kiểm ngư của Trung Quốc đến kéo tàu QNg – 6517 TS về đảo Phú Lâm. Trên đường bị áp giải về đảo với vận tốc cao, tàu QNg – 6517 TS bị vỡ ván, nước tràn vào làm chết máy nên không có khả năng quay về được.

“Họ đưa phương tiện về đảo nhưng không cử người trông coi, tất cả 13 thuyền viên tàu chúng tôi bị dồn vào một phòng, ăn ở ngủ đều tại đây. Sau đó, họ gọi thuyền trưởng Nguyễn Chí Thạnh lên làm việc và buộc ký vào biên bản vi phạm, mỗi phương tiện nộp 70.000 nhân dân tệ. Biên bản họ đọc sơ sài, vả lại cũng sợ bị đánh, bị bỏ đói nên phải miễn cưỡng ký vào. Sau 4 ngày bị giam giữ, lúc này cơn bão số 2 cũng vừa tan, họ cho phương tiện mang số hiệu QNg – 6597 TS được về Lý Sơn vào 23 giờ ngày 22.6. Hiện 2 phương tiện mà Trung Quốc đang giữ lại đã bị hỏng máy, ngập nước, và buộc nộp phạt nhanh nếu muốn về Việt Nam”, anh Tâm kể lại.

“Để có phương tiện đi đánh cá mưu sinh, chúng tôi vay vốn Nhà nước và của bà con họ hàng, nay bị bắt nợ nần càng chồng chất; nhiều người sức khỏe không đảm bảo, đặc biệt là trường hợp anh Nguyễn Chí Thạnh, thuyền trưởng tàu QNg – 6517 TS hiện đang bị bệnh nặng, nếu bị giam giữ lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến tính mạng…”, anh Tâm bày tỏ.

“Bây giờ ra biển xa, chủ tàu, thuyền trưởng, ngư dân ai cũng lo. Lỡ bị bắt, bị nộp phạt thì coi như tán gia bại sản. Như vậy đóng tàu công suất lớn để làm gì, chả lẽ chỉ để quẩn quanh ven bờ thôi sao?”, ngư dân Dương Văn Thọ, vừa may mắn được trở về, bộc bạch.

Không tạo tiền lệ xấu

Báo Tuổi trẻ chiều 26-6 dẫn lời ông Nguyễn Xuân Hước, phó chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, nêu rõ quan điểm: “Huyện chúng tôi đang kiến nghị Đại sứ quán VN tại Trung Quốc, Bộ Ngoại giao can thiệp để phía Trung Quốc sớm thả ngư dân cùng phương tiện trở về. Ngư dân Lý Sơn chúng tôi đánh bắt ngay trên tọa độ vùng biển của VN, cớ sao phía Trung Quốc bắt ngư dân và ép ngư dân lăn tay, chịu mức phạt cao như vậy.

Huyện kiên quyết không để ngư dân Lý Sơn phải nộp khoản tiền vô lý đó”.

Theo ông Hước, huyện không muốn ngư dân lại tiếp tục nộp phạt tạo thành tiền lệ xấu mà cần có sự can thiệp từ các cấp cao hơn để giải cứu ngư dân.

Ông Võ Xuân Danh – Chủ tịch UBND xã An Vĩnh (Lý Sơn), huyện đảo Lý Sơn – cũng cho biết tháng 2/2009 tại xã có ba tàu của ông Lê Vinh, ông Đặng Thu và ông Trần Tùng đang đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa bị phía Trung Quốc bắt giữ ở khu vực gần đảo Linh Côn. Phía Trung Quốc đã tạm giữ hàng chục ngư dân của ba tàu này bảy ngày và quyết định xử phạt ba tàu với tổng số tiền 190.000 nhân dân tệ (487 triệu đồng), khiến nhiều gia đình phải chạy đôn chạy đáo để nộp khoản tiền phạt này.

Đến thời điểm này, huyện đảo Lý Sơn có khoảng 100 tàu đánh bắt xa bờ với hơn 1.200 lao động nghề cá đang hành nghề trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.

Vô lý và vô nhân đạo

Chỉ cách đây chưa đầy nửa tháng, hai chiếc tàu Trung Quốc thả neo “núp” ngay vùng biển Đại Lãnh của Việt Nam, danh chính ngôn thuận là xâm phạm sâu vùng lãnh hải của Việt Nam, nhưng sau khi bị bắt và đã ký xác nhận vi phạm, họ đều được thả về và chỉ phải đóng một số tiền nộp phạt rất tượng trưng, rất ít ỏi. Khoan hãy xét hai chiếc tàu ấy thả neo ở vùng biển VN với mục đích gì, nhưng vì tình hữu nghị giữa hai nước láng giềng “núi liền núi sông liền sông”, nhà đương cục Việt Nam đã đối xử với họ rất nhân đạo và trên tinh thần hữu nghị. Trong khi đó, giữa biển khơi của quần đảo Hoàng Sa, lúc cơn bão đang ập tới, khi chuyện cứu người cứu thuyền trở nên vô cùng cấp thiết, thì tàu hải quân Trung Quốc lại làm một chuyện xưa nay chưa ai làm là đuổi bắt thuyền ngư dân Việt Nam đang sợ hãi chạy trốn cả bão lẫn bạn. Bắt và phạt vạ! Sau khi thả 25 ngư dân đảo Lý Sơn trở về với 3 tờ “biên bản phạt vạ” lên tới hơn nửa tỉ VND, phía Trung Quốc vẫn tiếp tục “giữ làm con tin” 12 ngư dân Lý Sơn và hai chiếc thuyền đánh cá với lời hẹn: trả tiền nộp phạt mới thả người!

01/07/2009 – RFA – Tình trạng hiện nay của 12 ngư dân bị Trung Quốc bắt giữ

Đã gần nửa tháng sau khi bị phía Trung Quốc bắt giữ, 12 ngư dân Việt Nam vẫn chưa được thả ra.

Gia Minh hỏi chuyện ông Nguyễn Dự, Chủ Tịch Xã An Hải (huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) là nơi quê quán của các ngư dân đó, xem chính quyền đang có nỗ lực ra sao để đưa họ trở về với gia đình.

Ông Chủ Tịch Xã cho biết tin tức:

Còn lại 12 ngư dân còn ở bên đó, trong đó có 3 thuyền trưởng; trong 3 thuyền trưởng đó thì cách đây 4 ngày thì ở gia đình có liên lạc được với những người đó, bởi vì họ có (điện thoại) di động đó; nhưng mà tới bây giờ thì liên lạc không được.

Các anh đó người Trung Quốc nói tiếng Việt và người ta buộc phải đem 30 ngàn nhân dân tệ để nộp thì các anh sẽ cho về, còn không thì thôi. Nhưng mà lý do là ngư dân đánh bắt (trong) vùng biển của Việt Nam chớ không phải là đánh bắt (trong) vùng biển của Trung Quốc, và tất cả các đảo của Trung Quốc ở lân cận đó thì họ (ngư dân) không có xâm phạm.

Ngư dân đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam chớ không phải là của Trung Quốc. Oan nhứt là người ta ở toạ độ, vĩ độ của họ là họ đang đánh bắt tại vùng biển Việt Nam.

Ô. Nguyễn Dự

Oan nhứt là người ta ở toạ độ, vĩ độ của họ là họ đang đánh bắt tại vùng biển Việt Nam, cộng với cơn bão họ tìm chỗ núp và họ neo ở vùng biển đó. Họ có làm đơn kiến nghị với xã và họ kiên quyết là không thể nộp tiền được (một cách) vô lý như thế này. Ngừơi Trung Quốc có thể lấn lần từng bước ở vùng biển Việt Nam cho nên họ (ngư dân) không nộp.
Mất liên lạc…

Gia Minh:  Sau khi có đơn của những người trở về cũng như thông tin của những thuyền trưởng mà cho biết như vậy thì xã đã có trợ giúp cho họ ra sao?

Ông Nguyễn Dự :  Ở xã thì nói chung về kinh phí trong khoản trợ giúp này thì chưa có trợ giúp gì, chỉ trợ giúp tinh thần là động viên gia đình là không buồn, lo làm ăn, còn vợ con thì làm ăn học hành.

Nói vậy thôi chớ nhà nước có quan tâm đột xuất gì đó thì xã bắt đầu xuất, hoặc gia đình nào thật sự tắt lửa hết gạo thì bắt đầu xã mới vận động dân cư để giúp, chớ còn trước mắt thì chưa có giúp gì đâu anh.

Gia Minh:  Xã đã đệ trình lên cấp trên là huyện ra sao để rồi có những biện pháp hữu hiệu hơn, thưa ông?

Ông Nguyễn Dự:  Chúng tôi có trình cộng với đơn của ngư dân đó. Xã cũng soạn công văn trình lên UBND Huyện, rồi kiến nghị lên Sở Nội Vụ, Sở Ngoại Vụ với đề nghị là các cấp ở bộ – ngành liên quan với đại sứ quán can thiệp về vấn đề này vì ngư dân mình đánh bắt ở vùng biển mình chớ không đánh bắt ở vùng biển của họ, cho nên nhờ ở trên can thiệp vào đó thôi, chớ còn thực tế bây giờ không biết ở tỉnh, ở Sở Nội Vụ, rồi ở các Bộ chuyên ngành, các anh bên phía Việt Nam làm như thế nào thì chưa có trả lời dứt khoát.

Gia Minh:  Chưa có trả lời cho xã à?

Ông Nguyễn Dự:  Chưa có trả lời gì.

Gia Minh:  Bây giờ cách thức giúp cho những người đang còn bị giữ, trước hết như ông nói là cũng có làm đơn lên các cơ quan chức năng rồi, nhưng mà còn cách gì nữa không để có thể nhanh đưa họ về?

Không biết ở tỉnh, ở Sở Nội Vụ, rồi ở các Bộ chuyên ngành, các anh bên phía Việt Nam làm như thế nào thì chưa có trả lời dứt khoát.

Ô. Nguyễn Dự

Ông Nguyễn Dự:  Chắc có lẽ Đại Sứ Quán mình can thiệp cũng với Đại Sứ Quán Trung Quốc rồi làm cho rõ việc, đưa các đơn và các chứng từ khi bị bắt họ đánh cá ở toạ độ- vĩ độ – kinh độ mấy thì họ báo cáo lại thì sau này mình có đề nghị can thiệp.

Chúng tôi cũng có điện thoại với tỉnh thì tỉnh chắc có lẽ họ đề nghị với chính phủ can thiệp thôi chớ bây giờ làm sao? Bọn tôi ở cấp xã cũng như con người mà kêu Ông Trời thôi chớ bây giờ đâu có biết trực tiếp được.

Gia Minh:  Việc liên lạc thường xuyên  hàng ngày thì đến nay đã bị gián đoạn rồi phải không ông? Không liên lạc được à?

Ông Nguyễn Dự:  Liên lạc được thì được đó nhưng mà họ (Trung Quốc) không cho gặp người nhà. Có liên lạc được nhưng mà họ chỉ có cho biết là có ở đây nhưng mà họ không cho gặp.

Gia Minh:  Và họ dứt khoát là phải gửi tiền, nhưng mà cách gửi tiền như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Dự:  Gửi tiền thì ở đây một là gửi tiền qua đường bưu điện, qua chỗ ngân hàng cũng được, Ngân Hàng Nhà Nước cũng được, nhưng mà y vào chỗ Đà Nẵng cơ. Đà Nẵng hình như có đường dây nào đó, người ta gửi ra được.
Giải pháp cho ngư dân?

Gia Minh:  Từ trước tới nay ngư dân của xã đã bị bắt như thế này bao nhiêu lần rồi, thưa ông?

Ông Nguyễn Dự:  Bắt cỡ này có thể tương đương gần chục chiếc tàu như thế này, nhưng mà có lần thì thực sự ngư dân họ có khi đi vào cái chỗ của Trung Quốc đóng để đánh bắt cá thì có, cho nên họ chấp nhận là họ nộp.

Họ có thiếu thì họ cũng đi vô họ mượn của chủ nợ, cái chỗ mà họ bán cá đó, để họ nộp, rồi về thì họ có thể làm hai ba phiên để họ trả. Nhưng mà lần này thì họ đánh bắt ở vùng biển Việt Nam cho nên họ kiến nghị các cấp can thiệp chớ họ không có vi phạm.

Còn ở đây quê hương con em mọi người làm ở đây họp thật thà lắm, hễ mà họ vi phạm thì họ chấp nhận thôi, họ về họ báo cáo cho xã biết là họ đánh bắt ở vùng nào như thế nào, có tàu thuyền Trung Quốc hay là tàu thuyền Thái Lan, hễ mà có gặp là họ vẫn báo cáo lại hết thôi.

Gia Minh:  Vấn đề hướng dẫn cho ngư dân về các khu vức lãnh hải thì như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Dự:  Thì cũng tuyên truyền cho dân là vùng biển của mình thì mình đánh bắt, không xâm phạm vũng biển của các nước, không những là của Trung Quốc mà là còn của Indo(nesia), Malaysia, Phillipnes thì mình không nên vi phạm, thì ngư dân họ cũng kiên quyết không vi phạm, họ chỉ đánh bắt ở vùng biển của Việt Nam chớ họ không vi phạm gì.

Sở Thuỷ Sản thường xuyên cũng cho các sơ đồ, bản vẽ các vùng nước, vùng biển của Việt Nam, vùng biển của các nước lân cận, cũng tuyên truyền cho dân thông suốt thôi. Vùng nào là vùng mình đánh bắt ở trong nước, vùng nào là vùng ngoài nước, vùng nào là vũng lãnh hải biên giới chung, vùng nào là vùng lãnh hải của Việt Nam, thì đều tuyên truyền hết, học tập hết.

Hoàng Sa đúng là một quần đảo rất là nhiều đảo; đảo thì có đảo trước kia ông bà cha mẹ ở từ trước với các loại giấy tờ là của Việt Nam.

Ô. Nguyễn Dự

Gia Minh:  Chưa bao giờ có trưòng hợp họ giữ lâu như lần này phải không ạ?

Ông Nguyễn Dự:  Trong các lần khác thì họ cũng thông báo, ví dụ thông báo mà chính xác dân mình vi phạm thì họ có khi họ cũng giữ lâu như lần này cũng có chớ. Nhưng mà đó là vì điều kiện là ở xã theo tình hình họ về báo cáo là họ (ngư dân) vi phạm thì cái quyền của họ (Trung Quốc) họ giữ bao nhiêu họ giữ.

Còn lần này là mình không có vi phạm nên nhờ can thiệp, còn các lần vi phạm thì cũng can thiệp, nhưng can thiệp bằng cách là hai bên cũng thoả thuận với nhau và giữa gia đình cũng như nhà nước can thiệp cho nó nhanh chóng mau lẹ. Còn cái này thì không có vi phạm cho nên cũng can thiệp nhưng mà can thiệp này không phải là buộc phải chồng tiền được.

Gia Minh:  Cái chỗ Hoàng Sa đó là cái chỗ đang tranh chấp thì không biết là ở đó có những thông tin như thế không, thưa ông?

Ông Nguyễn Dự:  Hoàng Sa đúng là một quần đảo rất là nhiều đảo; đảo thì có đảo trước kia ông bà cha mẹ ở từ trước với các loại giấy tờ là của Việt Nam, nhưng mà khi chiến tranh từ lúc với Mỹ đó thì đâu vào năm 68 thì anh Trung Quốc có bước vào giứp đỡ Việt Nam mình.

Ảnh giúp đỡ Việt Nam mình thì ảnh có chiếm một số đảo, sau này khi mà khởi nghĩa năm 75 thì ảnh cũng không trả, ảnh chiếm giữ. Thì những đảo ảnh đang chiếm giữ, ngư dân tránh ra đó. Còn giờ tranh chấp như thế nào thì không rõ, nhưng mà các đảo của Việt Nam đóng thì ngư dân mình có quyền khai thác.

Gia Minh:  Cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi những thông tin vừa rồi.

Ông Nguyễn Dự:  Dạ, không có chi. Cảm ơn anh nhiều.

Bắt ngư dân VN, TQ vi phạm công ước quốc tế về luật biển

Kiên quyết không nộp phạt cho Trung Quốc

Ngư dân góp phần bảo vệ  lãnh hải Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Hước, Phó Chủ Tịch UBND huyện Lý Sơn, nhấn mạnh các ngư dân hoạt động trên vùng biển Hoàng Sa – Trường Sa có vai trò đặc biệt trong việc góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Sự việc tàu kiểm ngư Trung Quốc bắt giữ 3 tàu đánh cá Việt Nam với 37 ngư phủ, trong khi họ đang đánh bắt cá trên vùng biển Hoàng Sa gây bất bình cho hàng chục ngàn ngư dân Miền Trung.

Tuy nhiên qua lời kể của chị Hoa, có chồng hàng ngày ra khơi kiếm sống, thì mạnh ai nấy lo, chẳng có lực luợng biên phòng nào bảo vệ mình cả:

– Ngoài nớ làm chi có ai bảo vệ. Mạnh anh mô anh nấy lo làm ăn thôi chớ không có ai bảo vệ hết trơn đó anh ơi.
Được biết hiện giờ huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có gần 100 tàu đánh cá với trên 1200 ngư phủ, thường xuyên hành nghề quanh vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.

Hà Nội khẳng định TQ vi phạm chủ quyền VN

2009-07-06 – Việt Nam làm gì để bảo vệ ngư dân?

Mặc Lâm phỏng vấn ông Dương Danh Dy, cựu viên chức ngoại giao cao cấp có kinh nghiệm hơn 25 năm làm việc tại Sứ Quán Việt Nam ở Bắc Kinh, để biết thêm quan điểm cũng như kinh nghiệm của ông về vấn đề này.

Chủ trương của Bắc Kinh

Mặc Lâm: Thưa ông Dương Danh Dy, chắc ông cũng đã biết là mới đây Trung Quốc đã cho bắt giữ những tàu đánh cá của Việt Nam và họ đòi những số tiền chuộc rất lớn. Những việc vừa xảy ra có phải là do những địa phương của Trung Quốc tự phát hay là từ chủ trương của lãnh đạo Bắc Kinh?

Ông Dương Danh Dy:  Họ nói rõ là tàu Ngư Chính số bao nhiêu đấy (tôi không nhớ) là một quân hạm được biến thành tàu đánh cá. Đó là một tàu rất lớn. Và nhiệm vụ của đoàn tàu kiểm tra vùng đánh cá trên Biển Đông mà họ gọi là vùng của họ, thì có nhiệm vụ bắt giữ, xua đuổi tất cả những ngư dân nước ngoài đến đánh cá tại nơi họ gọi là “không hợp pháp”. Đây là chủ trương của họ rồi chứ không phải là hành động đột xuất.

Đối sách của Việt Nam?

Mặc Lâm:  Ngư dân Quảng Ngãi liên tiếp bị chấn động vì những hành động bắt người giữ của và đòi tiền chuộc, liệu Việt Nam có nên xem lại hệ thống biên phòng của mình nhằm bảo vệ hữu hiệu hơn cho người dân hay không, vì theo chúng tôi được biết thì cho đến nay, phương tiện vũ khí của bộ đội biên phòng vẫn còn quá thô sơ so với Trung Quốc. Ý kiến ông về vấn đề này ra sao?

Ông Dương Danh Dy:

Tất nhiên là về lực lượng bộ đội biên phòng của mình trên biển thì còn phải tăng cường thêm nữa.

Nói thẳng ra trong chuyện này thì tôi nghĩ rằng những người lãnh đạo Việt Nam cùng như là nhân dân Việt Nam đều biết đây là cuộc rất tốn kém, không thể ngày một ngày hai mà chúng ta có được đầy đủ tàu biên phòng, rồi tàu biên phòng chạy với tốc độ nhân, vân vân.

Mặc Lâm:  Theo báo chí đưa tin thì người dân Quảng Ngãi như đang sống trên lò lửa vì ra khơi thì họ lo sợ bị bắt nhưng ở nhà thì không có cái ăn. Ông có thấy đây là vấn đề mà nhà nuớc phải chú ý triệt để hơn so với những lời lẽ chống đối yếu ớt rất ngoại giao mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay hay không?

Ông Dương Danh Dy:  Không đến nỗi như thế đâu! Ta vẫn phải sống, ta vẫn phải làm chứ. Các tư lệnh bộ đội  biên phòng địa phương Quảng Ngãi khuyến khích ngư dân Việt Nam vẫn ra khơi, ngư dân vẫn tổ chức thành từng đoàn bảo vệ, rồi có những phương tiện như máy bộ đàm để kêu gọi, nếu cần nhờ bộ đội biên phòng giúp đỡ. Chúng ta vẫn làm.

Tôi xin nói thẳng ra là nghe như bên ngoài – những người ngoài cuộc thì tôi biết rằng là người ta cũng tức vì sao mình yếu, mình kém, mình nhẹ như thế này,

nhưng thực ra tôi vẫn nghĩ đến câu các cụ mình nói là “một sự nhịn chín sự lành”.

Mặc Lâm:  Nhưng nếu ta càng nhân nhượng thì họ càng lấn tới thì sao?

Ông Dương Danh Dy:  Không. Đã đến lúc chúng ta không để như vậy. Bây giờ còn nhẫn nhịn được thì tôi nghĩ chúng ta chúng vẫn phải nhẫn nhịn miễn là những trường hợp cơ bản là thả ngư dân, không cho tiền chuộc, chúng ta giữ được. Người ngoài không biết, họ tức họ nói mình mất mặt, Việt Nam kém thế này, vân vân.

Tôi nói thật, tôi trong giao tiếp ngoại giao, tôi đã nói với  đại sứ Thái Lan rằng “này tôi đổi cho mày đấy, mày sang ở chỗ tao, tao sang ở chỗ Thái Lan, máy sẽ biết ngay là ở với cái anh phương Bắc  này sẽ như thế nào chứ không phải như anh ở cách xa, anh không  có tiếp giáp rồi anh ngồi anh nói thế nào cũng được.” Nó khó lắm, khó lắm.

Tôi là người trong cuộc và nói thẳng ra là tôi cũng được tiếp xúc với nhiều cấp cao, thậm chí thượng đỉnh đấy, thì tôi biết là khó lắm chứ không phải dễ đâu.

Mặc Lâm:  Một vấn đề nữa là tuy ngư dân Việt Nam bị bắt nhưng nhiều trang mạng tiếng Hoa vẫn lên tiếng sỉ vả người bị hại trong khi đó Bắc Kinh không hề lên tiếng ngăn cản hay có biện pháp thích hợp đối với những trang viết này. Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối như thế nào về hình thức tấn công bằng vũ khí internet này, thưa ông?

Ông Dương Danh Dy:  Mình có làm hết chứ. Tôi xin nói chẳng hạn như cái chuyện họ viết “lần đầu tàu hải quân Việt Nam thăm Trung Quốc, cũ nát như vậy mà cũng chiếm các đảo ở Nam Haỉ của ta”.

Tôi biết chuyện này và chúng ta có ý kiến với họ chứ, chúng ta có im đâu! Chỉ có cái là mình không công bố thôi.

Còn tôi với tư cách một anh nghiên cứu thì tôi cũng lên mạng để cho đông đảo đồng bào Việt Nam biết là họ mời mình sang và họ coi mình như thế đấy để cho dân Việt Nam mình biết rõ. Gần đây hàng ngày tôi đều lên mạng đọc khoảng độ gần một chục mạng Trung Quốc, thì tôi thấy rằng là gần đây giọng điệu họ có dịu đi rồi đấy, chứ không phải những cách chúng ta nói với họ như vậy là không kết quả đâu.

Mặc Lâm:  Và cuối cùng thì ông nghĩ còn con đường nào khác để có thể vừa ngăn chận họ tiếp tục lộng hành mà không gây chiến tranh dù dưới bất cứ hình thức nào kể cả cuộc chiến kinh tế mà chúng ta không cân sức với họ, thưa ông?

Ông Dương Danh Dy:  Đối với một nước lớn như Trung Quốc, mình là nước nhỏ mà lại có nhiều vấn đề va chạm với họ thì lúc nào mình cũng phải cảnh giác và biết giữ mình thôi, nhưng mà chỉ có điều là thông tin rất nhiều, rất nhiều chuyện mà mình không nắm được hết thì nhiều lúc do tình cảm sốc nỗi mà nhiều khi mình xử sự không đúng.

Nhưng mà do không nắm được tình hình tổng hợp, tình hình lớn, tình hình chung, cho nên nhiều lúc mình có ý nghĩ thế này thế kia thôi, chứ còn cái nhất quán của chúng ta là giữ nguyên tắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chứ còn cách xử lý như thế nào thì tuỳ từng hoàn cảnh, tuỳ từng lúc.

Mặc Lâm:  Xin cám ơn ông Dương Danh Dy đã dành thời gian cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

09.07.2009 – Yêu cầu Trung Quốc thả không điều kiện ngư dân Việt Nam và bồi thường cho ngư dân

Hôm nay (9/7), tại cuộc họp báo thường kỳ tại Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đã và đang tiếp tục yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay, không điều kiện 12 ngư dân và 2 tàu cá Việt Nam bị phía Trung Quốc bắt khi đang hoạt động đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Người phát ngôn Lê Dũng.

Ông Lê Dũng cho biết Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc bồi thường thiệt hại đối với sức khoẻ và tài sản của ngư dân bị bắt giữ, sớm thông báo tình hình và kết quả giải quyết vụ việc cho phía Việt Nam theo đúng quy định của Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Trung Quốc.

12/07/2009 – Tình trạng ngư dân Việt Nam ở biển Đông

Bắt giam, nộp phạt

Không ai bảo vệ

Lấn lướt

Tưởng cũng cần nhắc lại là Việt Nam và Trung quốc ký hiệp định phân định vịnh bắc bộ hồi cuối năm 2000. Sau nhiều phiên bàn thảo, hai bên đã thiết lập một vùng đánh cá chung với phạm vi và cơ chế quản lý riêng. Tuy nhiên, lực lượng của Trung Quốc kể cả lực lượng quân sự lẫn lực lượng đánh bắt cá đều vượt trội hơn Việt Nam rất xa, nên đã xẩy ra nhiều tình huống đáng tiếc cho phía Việt Nam. Hồi đầu năm 2005, đã xẩy ra vụ chín ngư dân ở tỉnh Thanh Hoá bị tàu hải quân Trung Quốc bắn chết khi họ đang làm nghề trong vịnh Bắc Bộ, một số khác bị thương và ngư cụ bị tịch thu. Thật khó xác định là khu vực họ đang làm nghề là thuộc vùng đánh cá chung, hay thuộc lãnh hải của Việt Nam hay của Trung quốc.

Một ngư dân nói với biên tập viên Gia Minh như sau:

Phía Trung Quốc sang đánh trộm của mình thì được chứ mình thì không sang bên họ được vì trang thiết bị của họ hơn hẳn ta.

Không chỉ gặp khó khăn khi đánh bắt cá trong vùng được gọi là đánh cá chung, ngay đối với vùng biển mà Việt Nam coi là thuộc lãnh hải của mình, nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố như vậy, tức là có tranh chấp, thì phía Bắc Kinh sử dụng ngay sức mạnh hải quân để thực hiện điều mà họ tuyên bố. Cụ thể là hồi giữa tháng năm, họ ra lệnh cấm đánh bắt cá trong một khu vực lãnh hải lớn tại biển Đông cho đến đầu tháng tám. Đó lại chính là thời gian thuận lợi nhất cho ngư dân Việt Nam. Người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam có lên tiếng yêu cầu Trung Quốc không cấm đoán như thế, nhưng phía

Bắc Kinh trả lời rằng đó là “quyền không thể tranh cãi” của họ.

7/7/2009 – Hải quân Trung Quốc đã ra tay trên biển Nam Hải! Giết chết 6 lính hải quân Việt Nam?

Theo tin tức loan tải rộng rãi trên các diễn đàn Trung Quốc từ ngày 7/7/2009 có liên quan tới vụ đụng độ giữa tàu hải quân Trung Quốc và Việt Nam, xin dịch lại như sau:

Hải quân Trung Quốc đã ra tay trên biển Nam Hải! giết chết 6 lính hải quân Việt Nam?

7/7/2009 Nguồn: diễn đàn Cường quốc, Mạng Trung Hoa

Sáng sớm nay, khi chiến hạm Trung Quốc tuần tra trên biển Nam Hải đã bị tàu của Việt Nam cản trở và phát tín hiệu cảnh cáo. Tiếp đó đã bị chặn mặt cách 2 hải lý.

Chiến hạm Trung Quốc đâm trực diện, khi tàu tuần tra Việt Nam quay đầu né tránh đã bị chiến hạm Trung Quốc đâm ngang thân, tàu Việt Nam bị đâm hư hại. Bước đầu nhận định có 6 người chết, 7 người được cứu sống, một số người mất tích. Phía Trung Quốc không có thương vong, chiến hạm không bị hư hại. Được biết, tàu hải quân Trung Quốc là Tuần dương hạm có trọng tải hơn 3000 tấn được sản xuất vào thập niên 90, phía Việt Nam là tàu tuần tra có trọng tải hơn 1000 tấn sản xuất vào những năm 70 thời kỳ Xô Viết.

Chỉ cách đây chưa đầy nửa tháng, hai chiếc tàu Trung Quốc thả neo “núp” ngay vùng biển Đại Lãnh của Việt Nam, danh chính ngôn thuận là xâm phạm sâu vùng lãnh hải của Việt Nam, nhưng sau khi bị bắt và đã ký xác nhận vi phạm, họ đều được thả về và chỉ phải đóng một số tiền nộp phạt rất tượng trưng, rất ít ỏi. Khoan hãy xét hai chiếc tàu ấy thả neo ở vùng biển VN với mục đích gì, nhưng vì tình hữu nghị giữa hai nước láng giềng “núi liền núi sông liền sông”, nhà đương cục Việt Nam đã đối xử với họ rất nhân đạo và trên tinh thần hữu nghị. Trong khi đó, giữa biển khơi của quần đảo Hoàng Sa, lúc cơn bão đang ập tới, khi chuyện cứu người cứu thuyền trở nên vô cùng cấp thiết, thì tàu hải quân Trung Quốc lại làm một chuyện xưa nay chưa ai làm là đuổi bắt thuyền ngư dân Việt Nam đang sợ hãi chạy trốn cả bão lẫn bạn. Bắt và phạt vạ! Sau khi thả 25 ngư dân đảo Lý Sơn trở về với 3 tờ “biên bản phạt vạ” lên tới hơn nửa tỉ VND, phía Trung Quốc vẫn tiếp tục “giữ làm con tin” 12 ngư dân Lý Sơn và hai chiếc thuyền đánh cá với lời hẹn: trả tiền nộp phạt mới thả người!
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: