Welcome to BEAR’s BLOG!!!

KẺ SĨ THỜI NAY: CÓ HÈN VÀ KHIẾP NHƯỢC ?

Posted by BEAR on Tháng Bảy 18, 2009

quechoablog

BÙI HOÀNG TÁM  thực hiện

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám

Thời gian gần đây, câu hỏi về khí phách trí thức mà ngày xưa gọi là chất “Sỹ phu Bắc hà” được đặt ra trên không ít phương tiện thông tin đại chúng và mỗi người có một câu trả lời khác nhau.

Có người cho rằng không ít trí thức thời nay “xu thời và khiếp nhược”

nhưng cũng có rất nhiều người cho rằng đó chỉ là số rất ít còn đa só vẫn giữ đươc phẩm tiết.

Có cả ý kiến cho rằng trí thức thời nay cơ hội được núp dưới cái bóng của câu thành ngữ: “Một điều nhịn là chín điều lành”…

Chúng tôi đã làm cuộc đối thoại với nhà văn, nhà báo Phan Quang,

Nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam đồng thời cũng là một trong số những trí thức trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp xung quanh câu hỏi:

  • Trí thức thời nay hèn hay không?

Ông Phan Quang nói:

Nhận định về tầng lớp tinh hoa của đất nước mà nói rằng hèn thì theo tôi là không nên và không đúng với bản chất.

Bất cứ một dân tộc nào cũng có những nhược điểm “cố hữu” của mình.

Gần đây, có nhiều cuốn sách của các tác giả là người chính nước đó đã viết về tính xấu của dân tộc họ. Ví dụ như người Trung Quốc có cuốn Người Trung Quốc xấu xí chẳng hạn. Rồi người Pháp cũng có những nhận định rất chính xác về các nhược điểm của trí thức Pháp là nói hay mà hành động không phải lúc nào cũng hay như nói…

Nhà báo lão thành Phan Quang

  • Nếu nói về những tính xấu của trí thức Việt Nam, ông sẽ nói về điều gì?

Tôi nghĩ cũng không ít đâu. Chẳng hạn, chúng ta đều có dịp nghe giai thoại khá phổ biến:

một người Việt Nam thì giỏi hơn một người Nhật, hai người Việt Nam bằng hai người Nhật, và ba người Việt Nam thì kém ba người Nhật.

Giai thoại đó đủ nói lên cái tính thiếu hợp tác, kém đoàn kết, thậm chí hay ghen ghét, kèn cựa nhau.

  • Thưa ông, đúng là tính cách mỗi dân tộc đều có những ưu điểm và cả những nhược điểm nhưng có thể nói khí phách của “Sỹ phu” luôn là niềm tự hào của truyền thống dân tộc…?

Đúng. Người trí thức cần phải có khí phách. Trí thức Việt Nam có khí phách. Tôi nghĩ nên gọi “Sỹ phu Việt Nam”. Bởi nói Sỹ phu Bắc Hà thì còn phải nói đến Hào khí Đồng Nai, đến Khí tiết Ngũ Quảng… Tổ tiên ta rất coi trọng khí phách. Cụ Chu Văn An dâng Thất trảm sớ. Cụ Mạc Đỉnh Chi dám nói thời đi sứ Bắc triều. Cụ Phan Đình Phùng phản đối Tôn Thất Thuyết ngay tại triều đình. Cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Thăng Long thất thủ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”… Đó là những phẩm chất cao thượng thể hiện khí phách sỹ phu Việt Nam. thái văn lung, phạm ngọc thạch, nvt, dqham, tràn đại nghĩa… cuingx đầy nghĩa khí

Một giáo sư rất được coi trọng về phẩm tiết, về sự thẳng thắn, trung thực thì cho rằng trí thức thời nay ít khí phách, hay nói cách khác là hèn và ông cũng không loại trừ mình có những lúc như thế?

Mỗi người đều có quyền có thái độ của mình đối với chính mình. Tôi rất khâm phục những vị có học hàm, học vị cao vì sự học là gian nan, vất vả lắm, sự học tạo nên tri thức của con người.

Tuy nhiên không phải ai có học hàm, học vị cao đều là những trí thức đầy đủ, đúng với ý nghĩa của hai từ ấy. Có thực học và có hư học.

Hư học không phải chỉ là bằng giả, học giả mà là suốt đời học những điều “hư”, không mấy lợi ích cho đất nước, cho nhân dân. Những người này thời nay không ít. Và có lẽ tại hư học cho nên họ không dám nói và nhất là không có gì nhiều của riêng mình để mà nói.

Còn trí thức đích thực thì không hèn, không thể hèn, không được hèn.

  • Ông nghĩ gì về nhận định của TS Chu Hảo: “Trí thức phải là người có năng lực phê phán và hướng dẫn xã hội”?

Trí thức trước hết là công dân cho nên cần phải dấn thân vào đời sống xã hội với tư cách công dân.

Dấn thân theo cách nào lại là vấn đề khác. Một nhà khoa học không nhất thiết phải lúc nào cũng phải góp ý về chủ trương, chính sách cụ thể hay trả lời báo chí về thời sự. Họ dấn thân vào những công trình nghiên cứu khoa học của họ và khi đất nước cần điều gì hợp với khả năng của họ, họ sẽ cống hiến hết mình. Tôi nghĩ trí thức không nhất thiết lúc nào phải phát biểu quan điểm chính trị của mình một cách ồn ào. Họ có cách thể hiện riêng, bằng chính các công trình khoa học của họ, bằng thái độ của họ đối với cuộc sống.

  • Nhưng nếu cả đời chỉ chăm chú với những công trình nghiên cứu khoa học mà không quan tâm đến những biến động của đời sống xã hội, “mũ ni che tai” phải chăng cũng là sự chạy trốn?

Tôi không nói là cả đời trùm chăn. Khi cần thiết, họ sẽ tỏ thái độ vì

là trí thức, chẳng mấy ai không có lòng yêu nước.

Người trí thức phải có năng lực phê phán, đồng thời cũng phải là người nhiệt thành biểu dương cái hay, cái tốt. Trí thức phải là mẫu mực của xã hội.

  • Tất nhiên “đất nước” và “thể chế” là hai khái niệm nhưng trong trường hợp này xin được đồng nhất. Xin hỏi ông, họ yêu đất nước nhưng đất nước có thực lòng yêu họ không?

Điều này tôi có dịp phát biểu trong một cuộc hội thảo về kinh tế trí thức và toàn cầu hóa. Không thể phủ nhận thời gian qua, chính sách của nhà nước ta đối với nhân tài còn nhiều bất cập. Tôi đã từng nghe một nhà trí thức nay đã quá cố nói rằng “Khi trí thức tin Đảng thì trí thức không thật sự được Đảng tin dùng, nay Đảng cần đến trí thức thì trí thức không phải ai cũng thật tin ở Đảng”. Dĩ nhiên đó là câu nói phẫn, mang tính cực đoan nhưng rất đáng được lãnh đạo lắng nghe.

  • Thưa ông, đặt vấn đề trí thức với Đảng tức là “hai trong một” vì rất nhiều trí thức lớn là đảng viên. Nhưng nếu như trong trí thức có xuất hiện tư tưởng khiếp nhược, hèn, cơ hội, chưa tin tưởng… thì đó là điều đáng thất vọng và ai phải chịu trách nhiệm?

Nếu có những biểu hiện đó thì đương nhiên là Đảng nhận sứ mệnh lãnh đạo đất nước thì

Đảng phải chịu trách nhiệm mọi vấn đề.

Nói cụ thể hơn, đường lối của Đảng đối với trí thức nhìn chung nhất quán, những yếu kém, bất cập đang được khắc phục dần. Nếu thực tế chưa làm được như đường lối đã đề ra thì trách nhiệm trước hết thuộc về những ai giữ trách nhiệm lãnh đạo.

  • Trách nhiệm đương nhiên là quan trọng nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để người thực tài có thể được trọng dụng?

Theo tôi, chính sách trọng dụng nhân tài không nằm ngoài ba mặt.

  1. Thứ nhất, đưa những người có thực tài vào những vị trí xứng đáng, tạo điều kiện tối thiểu về khoa học và đời sống để họ yên tâm làm việc. Sử dụng nhân tài phải đúng như chính sách đã ban hành: Không phân biệt người đó là đảng viên hay là người ngoài Đảng.
  2. Thứ hai, kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai.
  3. Thứ ba, các cơ quan đầu não quốc gia phải là tấm gương quy tụ những người có thực tài của đất nước. Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực.
  • Thưa ông, Nghị quyết TW 7 về công tác trí thức ban hành đã khá lâu, ông cảm nhận con đường đi vào đời sống của Nghị quyết này như thế nào?

Để những chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống luôn là con đường gian nan, cần rất nhiều công sức, thời gian và nhất là điều kiện để chủ trương trở thành hiện thực – yếu tố quyết định sự thành công của chủ trương, chính sách. Theo tôi, sau nửa năm ban hành, không biết Nghị quyết này đã ngấm vào chiều sâu thế nào chứ hiện nay dường như có vẻ lặng lẽ. Hay là tại môi trường xã hội bây giờ đang nổi lên nhiều bức xúc về kinh tế, đời sống? Hay tại mảnh đất tiếp nhận là đội ngũ trí thức chưa sẵn sàng? Hay tại trí thức có làm, làm nhiều song ít muốn nói về mình? Hay tại nó ra đời ở thời điểm chưa phù hợp?

Rất nhiều câu hỏi mà tôi chưa tìm ra câu trả lời.

  • Ông có nghĩ rằng việc chuẩn bị chưa chu đáo?

Không. Đây là nghị quyết được chuẩn bị rất kỹ trong một thời gian khá dài, được nhiều trí thức có tên tuổi đóng góp ý kiến và theo tôi nội dung tương đối hoàn chỉnh. Tôi nói tương đối vì chẳng bao giờ có một nghị quyết, một chủ trương đầy đủ và đúng đắn về tất cả mọi vấn đề, hoàn thiện 100%. Tại sao nó chưa được đón nhận được sự đón nhận như mong đợi? Một câu hỏi nữa phải tìm câu trả lời

  • Hay còn tâm trạng hoài nghi, thưa ông?

Có thể lắm. Tâm trạng trí thức gần đây không ít người dè dặt với những chủ trương, chính sách mới ban hành. Không phải họ hoài nghi mọi thứ mà do kinh nghiệm, nhiều người e bước đầu vồ vập quá, đến khi đi vào cuộc sống lại không được như kỳ vọng thì vỡ mộng nên phần nào còn dè dặt chăng. Tuy nhiên, nếu Nghị quyết đúng, đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của đời sống xã hội (tất nhiên là tương đối) thì sớm muộn, nó cũng sẽ đi vào cuộc sống. Trước mắt đành chờ đợi vậy. Cũng cần nói thêm: Nghị quyết có sức sống bền lâu cho nên sự thành bại của nó cũng phải có quá trình. Đây không phải là một cuộc vận động kịp thời như quyên góp, làm từ thiện chống bão, chống lụt chẳng hạn mà có thể đánh giá ngay kết quả đạt được lớn hay nhỏ. Nửa năm chưa đủ thời gian để khẳng định, chỉ vừa đủ để nói lên một điều gì đó có tính cảnh báo xu hướng mà thôi.

  • Trở lại với quan niệm về trí thức. Theo ông, nhà báo có phải là trí thức?

Có lẽ phải phân định rõ nhà báo và nghề báo.

Nhà báo làm nghề báo, là nghề hoạt động trên lĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, tinh thần nghĩa là nghề báo mang tính trí thức và đòi hỏi hàm lượng trí thức.

Nhưng không phải nhà báo nào cũng là trí thức. Nói cách khác, hoạt động báo chí là hoạt động trí thức còn ai làm nghề ấy có phải là trí thức không thì còn tuỳ thuộc nhiều điều kiện khác nữa.

  • Ông Hữu Thọ trả lời phỏng vấn trên NB&CL chúng tôi dịp Tết vừa qua về báo chí có nói năm 2008 là năm tổn thất nặng nề. Ông có đồng ý với nhận định này?

Trong Lễ trao giải báo chí quốc gia năm 2008, trong khi giao lưu với phóng viên truyền hình, tôi có phát biểu

nghề báo có nhiều đam mê nhưng cũng lắm chán chường, không chỉ chán chường mà có khi còn bạc bẽo.

Vui cũng nhiều mà buồn cũng không ít. Chuyện cũ qua rồi, buồn lắm chứ, nhắc lại chỉ để nhắc lại và hi vọng chuyện buồn ấy mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm. Riêng tôi vẫn nghĩ, nên có cách xử lý khác những gì đã diễn ra năm 2008. Tự ta làm khó cho ta. Hi vọng rằng sau này mọi việc sẽ được xử lý thấu tình, đạt lý và có lợi cho sự nghiệp chung, cho đất nước hơn.

Xin cám ơn ông!

GS. VS Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế – Chủ tịch Tổng hội Y – Dược Việt Nam):

Sỹ phu càng không được hèn

  • Đã là trí thức thì không được hèn.

  • Không có khí tiết, không là trí thức.

  • Không dám nói lên sự thật, không phải là trí thức.

  • Không trung thực, không phải là trí thức.

  • Không dám bảo vệ chân lý, không phải là trí thức…

Nói tóm lại, trí thức phải là người vừa có trí dục, vừa có đức dục.

Trí thức nói chung đã phải có những phẩm chất đó thì Sỹ phu Bắc hà yêu cầu còn phải cao hơn nữa.

Có người nói trí thức ta hiện nay có biểu hiện xu thời, cơ hội, khiếp nhược…. Tôi không thấy có sự khiếp nhược của trí thức hiện nay. Ví dụ những người như GS Hoàng Tụy, GS Hồ Ngọc Đại, Nhà văn Nguyên Ngọc, Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung… Họ dám nói lên sự thật, dám phản đối quyết liệt những gì họ cho là sai trái.

Những nhà khoa học khác, họ không nói hoặc chưa nói vì chưa có một diễn đàn thuận lợi cho trí thức lên tiếng và lỗi này thuộc về công tác tổ chức.

TS Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ):

Không ít trí thức phải náu mình

Có người nói trí thức của ta tùy thời, có người nói là cơ hội, có người nói nặng hơn là hèn.

Theo tôi, ở một mức độ nào đó thì những điều trên đều có.

Đó là dấu hiệu khá dài của những phương thức sinh hoạt nặng nề nên để bảo trọng, để không bị loại ra khỏi cuộc chơi, không còn phương tiện sinh sống nên không ít trí thức phải náu mình.

Trong không khí dồn nén thì khó có thể có được một tầng lớp trí thức có đủ dũng cảm và nhân cách. Tuy nhiên, trừ một số giữ được nhân cách, phẩm hạnh còn nhiều người tự nhận mình là trí thức, là sĩ phu cũng không đủ dũng cảm để vượt qua những trở ngại tinh thần đó.

Do vậy hơn lúc nào hết, đây là thời kỳ cần phải xây dựng một cơ chế dân chủ đảm bảo tự do tư tưởng và độc lập sáng tạo thì mới có thể xây dựng được một tầng lớp trí thức đúng nghĩa với vai trò tinh hoa của dân tộc.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

Nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình

Đúng là không ít trí thức ở thời điểm này hay thời điểm khác có biểu hiện xu thời, a dua nhưng cũng rất nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình.Trí thức Việt Nam chưa đạt tới độ tinh hoa không phải do không có trình độ hay không biết tự trọng. Nguyên nhân có thể là do khâu đào tạo, bồi dưỡng và một nguyên nhân quan trọng nữa là do cách nhìn nhận, đánh giá, sử dụng trí thức nhiều lúc, nhiều nơi chưa đúng và chưa đầy đủ.

Nguyên Phó thủ tướng – Nguyên Chủ tịch Hội Phát triển nguồn Nhân lực và Nhân tài Việt Nam Đoàn Duy Thành:

Theo hiểu biết của tôi thì kẻ sỹ ngày xưa cũng chia làm ba loại.

  • Loại không biết (và không cần biết) chữ thời. Họ hành động để thể hiện chí khí của mình với đời.
  • Loại thứ hai là những người trùm chăn chờ thời nhưng thời không đến, có người vì thế lâm vào bất mãn…
  • Loại thứ ba là những sỹ phu biết chọn chúa mà thờ, chọn thời mà hành động????

Nhà báo lão thành Hữu Thọ

Trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý

Đúng là trong giới trí thức hiện nay cũng có người hèn,

không chỉ hèn đâu còn xu nịnh và cơ hội.

Nhưng thời nào cũng có kẻ cơ hội, xu nịnh, hèn hạ… song thời nào cũng có những tinh hoa. Nói cả tầng lớp trí thức hèn, theo tôi là nói quá lời. Cứ nghe những cuộc tranh luận ở Mặt trận Tổ quốc, ở Quốc hội, trên các diễn đàn báo chí… thì đâu có phải họ không dám nói.

Đối với khí tiết bảo vệ chân lý, thái độ “trùm chăn”, “mũ ni che tai”, “an phận thủ thường”, trước hết là nó cũng có nguồn gốc sâu xa của người Việt.

  1. Đó là bệnh xuê xoa, “năm bỏ làm ba, chín bỏ làm mười”, cái tính “an phận thủ thường” rồi “một điều nhịn là chín điều lành”…
  2. Thứ hai, trách nhiệm bảo vệ chân lý của trí thức là phải có tố chất phản biện lại các nhà quản lý, tức là những người lành đạo, cầm quyền nhưng lại phải phân biệt rất rõ phản biện với phản bác.

Năm 1947, Bác Hồ gửi thư cho trí thức Nam bộ, Người đã dùng 4 chữ “Phò chính – Trừ tà”. Chống cái sai nhưng phải phò cái đúng. Cái gì sai thì phản đối, cái gì đúng thì ủng hộ, cái gì thiếu thì bổ sung… trên tinh thần đó thì mới là phản biện. Có ý kiến khác nhau là bình thường. Tôn trọng ý kiến khác mình là văn hoá cầm quyền cao nhất của người lãnh đạo.

Tôi nghĩ rằng người trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý,

lẽ phải theo phương hướng “Phò chính – Trừ tà” mà Bác Hồ đã nêu lên. Nhiều trí thức đã từng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Phải biết tự bảo vệ chính mình để phụng sự đất nước. Trong phản biện thì nên trung thực, thẳng thắn nhưng nên khiêm tốn. Với đặc tính sự thiếu hoàn thiện của nhận thức cho nên cũng nên nghĩ rằng không phải ý kiến nào cũng hoàn hảo, cho nên cũng cần biết lắng nghe.

( Theo website Trần Nhương)

Thực trạng XH + ‘Ba thái độ chính trị: Quá khích , Thờ ơ , Cơ hội’ + ‘Tự do tư tưởng rủi ro’ –>Tương lai đất nước???

Mà trí thức thì khá nhiều là cơ hội.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi – Phẩm cách quan trọng của người trí thức: tự do tư tưởng, độc lập với quyền lực, tích cực phản biện XH, kiên trì theo đuổi chính kiến


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: