Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Những câu hỏi về tình trạng thất thu vốn Nhà nước.

Posted by BEAR on Tháng Tám 3, 2009

Công khai KQ kiểm toán

Những câu hỏi từ kết quả Báo cáo kết quả kiểm toán năm tài chính 2007

  • Một là, vì sao việc chi tiêu từ ngân sách nhà nước (NSNN) lại quá dễ dãi như vậy? Có thể khẳng định rằng, trên thế giới, không có một doanh nghiệp nào đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng các công trình rồi bỏ đó, không sử dụng. Thế mà, điều đó lại có thật ở nước ta.

Báo cáo kiểm toán đã nêu một số trường hợp điển hình như: báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng công trình thoát nước nhằm cải tạo môi trường Hà Nội (dự án II) đã được thực hiện nhưng không được sử dụng gây lãng phí 1,4 tỉ đồng; hoặc hai dự án đã hoàn thành nhưng không hoạt động là dự án xử lý nước thải Khu công nghiệp Vĩnh Niệm – Hải Phòng (vốn đã cấp là 3 tỉ đồng), dự án xử lý nước thải khu du lịch Vịnh Tùng Dinh, Hải Phòng (vốn đã cấp là 23,52 tỉ đồng); dự án Vườn ươm Thanh Tao thuộc công trình tuyến tránh Hà Nội – Cầu Giẽ đã đầu tư 1,2 tỉ đồng nhưng đến nay đang để hoang…

  • Hai là, chúng ta đã có một hệ thống các văn bản pháp luật nhằm quản lý NSNN và công tác đầu tư phát triển. Nhưng tại sao những vi phạm Luật NSNN, Luật Đấu thầu, Luật Kế toán lại xảy ra một cách phổ biến trong các đơn vị được kiểm toán như vậy? Đằng sau những vi phạm ấy là gì?

Theo báo cáo kiểm toán, hầu hết các đơn vị được kiểm toán đều vi phạm Luật Đấu thầu như hồ sơ mời thầu không được bảo mật, thông thầu, dàn xếp thầu, chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế sai quy định, phê duyệt giá trúng thầu cao hơn giá gói thầu được phê duyệt…

  • Ba là, kết quả kiểm toán cũng cho ta thấy năng lực thực sự của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà các tổng công ty, tập đoàn là ví dụ điển hình. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn – một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp – ở nhiều doanh nghiệp được kiểm toán rất thấp, chỉ khoảng 2-8%.

Công tác hạch toán kế toán phản ánh giá trị tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và nghĩa vụ với NSNN cũng bộc lộ nhiều sai phạm. Với năng lực tài chính, năng lực quản lý như vậy, liệu những DNNN có thể trở thành “quả đấm thép”, có thể giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân hay không?

Cổ phần hóa để hoạt động theo mô hình công ty cổ phần là biện pháp quan trọng và cấp bách để bảo đảm sự minh bạch, nâng cao năng lực quản lý và cạnh tranh của các DNNN. Thế nhưng, tại sao việc cổ phần hóa các DNNN vẫn giậm chân tại chỗ?

  • Bốn là, từ khi Kiểm toán Nhà nước trở thành đơn vị trực thuộc Quốc hội và Luật Kiểm toán Nhà nước được ban hành, nhân dân đã được biết về những lãng phí trong chi tiêu NSNN, về những yếu kém trong quản lý DNNN. Báo cáo kết quả kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước vừa công bố có nhiều nội dung tương tự báo cáo của những năm trước.

Như vậy, nếu kiểm toán, công bố kết quả, kiến nghị giải pháp xử lý rồi… mọi việc vẫn không có gì thay đổi thì kiểm toán để làm gì? Tại sao không ai quy trách nhiệm rõ ràng, cụ thể đối với những sai phạm gây lãng phí NSNN và tiền vốn của DNNN do Kiểm toán Nhà nước nêu ra?

Có thể nêu ra nhiều câu hỏi nữa. Song, những câu hỏi đã nêu trên đây là quan trọng nhất. Trả lời những câu hỏi đó tức là tìm ra được nguyên nhân của nạn tham nhũng, lãng phí và từ đó có những biện pháp khắc phục. Việc trả lời những câu hỏi đó còn có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng một “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và góp phần thực hiện phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Một số khoản tăng thu, giảm chi được Kiểm toán Nhà nước

phát hiện và đề xuất (đvt: tỉ đồng)

Lĩnh vực kiểm toán

Tổng cộng

Đơn vị sử dụng ngân sách và cấp ngân sách

DNNN

Chỉ tiêu

I. Các khoản tăng thu NSNN 4.166 3.516 650
1. Tăng thu thuế nội địa 1.203 572 631
2. Tăng thu thuế XNK 1.415 1.415 0
3. Tăng thu phí, lệ phí 155 155 0
4. Tăng thu tiền sử dụng đất 1.049 1.049 0
5. Thu từ xổ số kiến thiết 74 74 0
6. Tăng thu ngân sách 268 249 19
II. Các khoản giảm chi NSNN 2.731,6 2.730,1 1,5
1. Chi thường xuyên 1.371,2 1.371,2 0
2. Chi đầu tư xây dựng, chương trình, dự án 1.360 1.358,5 1,5

Nguồn: Báo cáo kiểm toán ngân sách 2007

Tình trạng thất thu vốn Nhà nước

Theo công bố của Kiểm tóan Nhà nước mới đây về kết quả kiểm tóan ngân sách 2007, tình trạng vốn nhà nước bị thất thu khi đầu tư cho các dự án là rất lớn.

Nhã Trân hỏi chuyện Tiến sĩ Nguyễn Quang A của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS về các vấn đề liên quan. Trứơc hết Tiến sĩ Nguyễn Quang A có nhận xét:

TS Nguyễn Quang A: Thật sự vốn của nhà nước hay nói chung là sở hữu nhà nước ở trong doanh nghiệp thì tôi nghĩ, rõ ràng là vấn đề lợi ích. Động cơ, khuyến khích đối với chuyện của người chủ sở hữu và người đại diện chủ sở hữu tách xa ra, nên ông giám đốc là đại diện chủ sở hữu ông làm kinh doanh, nhưng vì ông ta không phải là ông chủ thật nên động lực để ông ta chăm lo cho lợi tức của nó không cao.

  • Lời thì ông tìm cách hưởng,
  • còn thiệt hại thì đổ cho ông chủ,

đấy là chuyện mà tôi nghĩ rất là phổ biến, không chỉ đối với vốn nhà nước mà đối với vốn của các cổ đông nhỏ, của các công ty lớn với rất nhiều cổ đông và người điều hành, tức quyền điều hành và sở hữu tách ra thì chuyện đó luôn luôn xảy ra.

Nguyên nhân

Nhã Trân: Kể chi tiết thì những rủi ro nào có thể xảy ra một khi nhà nước cấp vốn cho các dự án được giao cho doanh nghịêp sở hữu, ngòai yếu tố tâm lý đó?

TS Nguyễn Quang A: Tôi là nghĩ rằng vấn đề nó như là một công ty rất là lớn có hàng trăm ngàn cổ đông. Các cổ đông ấy giao tiền cho một ban điều hành công ty. Ban điều hành công ty có thể cũng có cổ phần nhưng cổ phần rất nhỏ, thì đối với những công ty đại chúng lớn như thế cũng như các công ty vốn nhà nước mà thực sự không biết đằng sau nó là con người cụ thể nào, ông chủ cụ thể nào cho nên động lực giám sát của ông chủ với người điều hành thì yếu. Đấy là một nguyên nhân rất quan trọng .

Nhã Trân: Có chuyên gia kinh tế nhận xét là vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp đựơc quản lý theo phương thức hành chính thay vì phương thức kinh doanh. Điều đó tạo nên mâu thuẫn trong vấn đề sử dụng vốn và có thể khiến nguồn vốn đó không được đầu tư một cách có hiệu quả.  Suy nghĩ của Tiến sĩ thì thế nào?

TS Nguyễn Quang A: Đấy là một căn bệnh của những nước mới phát triển như Việt Nam, và nhất là của những chính quyền mà họ nghĩ rằng họ phải điều hành việc sản xuất kinh doanh, nhà nước phải đứng ra điều hành vấn đề sản xuất, kinh doanh. Dùng các tập đoàn, các công ty, các doanh nghiệp nhà nước như công cụ kinh tế của mình. Đấy là một chuyện, mà tôi nghĩ không phải là hay.

Nhã Trân: Theo TS thì việc cấp tín dụng một cách dễ dãi cho doanh nghiệp trong các dự án có là một điều tiêu cực?

TS Nguyễn Quang A: Ở những nước tiên tiến, khi mà luật pháp nghiêm minh,

  • thì trách nhiệm của người quản lý
  • với trách nhiệm của người chủ

được phân vai rõ ràng. Chủ có quyền giám sát của mình cũng rất rõ ràng mà gây sức ép với người quản lý, thì lúc đó vấn đề quan hệ giữa chủ sở hữu với người quản lý vẫn có vấn đề chứ không phải không, nhưng nó giảm thiểu đi, và lúc đó, việc quản lý vốn sẽ hữu hiệu hơn. Rất tiếc ở Việt Nam, môi trường pháp lý chưa được như vậy.

Giải pháp?

Nhã Trân: Trước tình trạng thất thu rất lớn của vốn nhà nước lâu nay, Tiến sĩ có ý kiến hay giải pháp nào để chấm dứt hoặc ít ra là giảm bớt sự lãng phí ngân sách do việc cấp vốn cho doanh nghiệp?

TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ đối với các doanh nghiệp nhà nước hay các tập đoàn, vấn đề quan trọng nhất không phải là vấn đề vốn của nhà nước hay không phải là vốn của nhà nước, mà là vấn đề: các doanh nghiệp ấy có phải cạnh tranh một cách lành mạnh với nhau hay không, và có phải cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân hay không. Còn để họ được độc quyền, để họ được có nhiều ưu ái thì hiệu quả sử dụng nguồn vốn sẽ không bao giờ cao hết.

Điểm thứ hai là ràng buộc ngân sách của những doanh nghiệp ấy luôn luôn mềm. Tại sao? Bởi vì cơ quan nhà nước cấp tín dụng cho nó dễ dãi, ưu ái cho nó nhiều thứ. Nếu nó gặp khó khăn thì giơ tay ra cứu trợ.

Trong trường hợp như thế, cái môi trường bên ngoài như thế, doanh nghiệp luôn luôn nghĩ là nếu làm không hiệu quả cũng sẽ có người giúp, nếu gặp khó khăn cũng sẽ có người giúp, nếu không trả được nợ thì nhà nước cũng sẽ giúp và chính hai nhân tố là

  • không cạnh tranh lành mạnh và

  • ràng buộc mềm là

hai nguyên nhân chính làm cho các công ty, các doanh nghiệp của nhà nước hoạt động không hiệu quả, mà đồng vốn của nhà nước cũng không hiệu quả. Chứ thật sự, không phải là vấn đề cốt lõi là vốn của nhà nước hay không phải của nhà nước.

Đấy là chuyện mà theo tôi nghĩ về mặt tâm lý rất dễ hiểu, rất là con người. Để tránh những chuyện rất là con người và dễ hiểu ấy, thì phải có những khung pháp lý rất chặt chẽ.

Trong những trường hợp mà luật lệ chưa được nghiêm minh, phân vai chưa thật rõ ràng, trách nhiệm của người quản lý chưa thật rõ ràng thì cách hay nhất là phải tư nhân hóa để cho người chủ họ bỏ tiền túi thật của người ta ra, của đau con xót, thì lúc ấy người ta sẽ tiến hành việc giám sát, kiểm soát đối với những người quản lý một cách hữu hiệu hơn.

Nhã Trân: Xin cám ơn tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Nguyên nhân sâu xa về mặt cơ cấu của bất ổn vĩ mô

Mô hình tập đoàn nhà nước và mối lo vượt tầm kiểm soát

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: