Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Kinh tế Trung Quốc: “mong manh” và “dễ vỡ” – Sự phục hồi của Trung Quốc sẽ bắt đầu loạng choạng vào tháng 10, sau đó là một vài “phát súng” tiền tệ trước khi toàn bộ nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu vào năm 2012.

Posted by BEAR trên Tháng Tám 16, 2009

Kinh tế Trung Quốc: “mong manh” và “dễ vỡ”

Một cảnh báo bất ngờ: Sự phục hồi của Trung Quốc sẽ bắt đầu loạng choạng vào tháng 10, sau đó là một vài “phát súng” tiền tệ trước khi toàn bộ nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu vào năm 2012.

Mức tăng trưởng cho vay của Trung Quốc đã giảm trong tháng Bảy trong khi xuất khẩu giảm 23% so với cùng kỳ năm 2008 sau 9 tháng liền người tiêu dùng phương Tây “thắt lưng buộc bụng”. Bài phân tích về việc này trên tờ Telegraph của Anh số ra ngày 11/8 khẳng định thắt chặt tiền tệ có nguy cơ biến Trung Quốc thành một hệ thống Ponzi khổng lồ. (Charles Ponzi là cha đẻ của lừa đảo đa cấp). Nền kinh tế Trung Quốc nhiều khả năng sẽ đổ vỡ và suy thoái. Tuần Việt Nam xin giới thiệu với độc giả bài viết trên.

Ảnh: thesunsfinancialdiary.com

Một cách riêng rẽ, chỉ số Baltic Dry – chỉ số giá vận tải đường biển đối với hàng hóa thô – đã quay đầu giảm điểm 25% từ cuối tháng Bảy. Các số liệu của ngành hàng hải đã khẳng định lại các báo cáo cho thấy Trung Quốc đã ngừng tích lũy kim loại thô và các loại hàng hóa khác sau một thời kỳ mua vào ồ ạt đầu mùa hè này.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho biết mức tăng trưởng cho vay đã giảm xuống còn 52 tỷ USD từ mức 248 tỷ USD hồi tháng trước. Tuy nhiên, còn quá sớm để khẳng định Bắc Kinh đã trở thành “nữ hoàng tín dụng” sau sự bùng nổ các khoản cho vay của ngân hàng trong nửa đầu năm nay.

Các số liệu cho vay nói trên đang được các nhà phân tích và các thương gia theo dõi chặt chẽ. Lượng tiền mặt quá lớn đổ vào lưu thông ở Trung Quốc đã trở thành động lực chính cho các thị trường toàn cầu kể từ khi kinh tế bắt đầu phục hồi vào tháng Ba.

Bắc Kinh đang đi trên dây khi cố bù đắp sự sụp đổ trong lĩnh vực xuất khẩu – gần 40% GDP – bằng việc đầu tư ồ ạt cho đường xá và công nghiệp thông qua các công ty nhà nước.

Nền kinh tế thực không thể hấp thụ tiền, và như vậy, tạo một lỗ hổng cho đầu cơ. Ngân hàng trung ương ước tính khoảng 20% lượng tín dụng mới đây đang nằm trong các thị trường chứng khoán. Chỉ số Thượng Hải đã tăng 80% trong năm nay trong khi lãi suất giảm gần 1/3. Bức tranh này phản ánh giai đoạn cuối quả bong bóng Nikkei ở Nhật Bản năm 1989.

Trung Quốc gây ra nguy cơ cực lớn đối với các thị trường trên thế giới”, ông Hans Redeker, hiện đang là Giám đốc ngân hàng BNP Paribas, khẳng định. “Các cổ phiếu Thượng Hải đã đạt đến điểm cực đại hồi cuối năm 2007. Trung Quốc sẽ phải giảm cho vay, và khi điều này xảy ra, thị trường chứng khoán Thượng Hải và hàng hóa sẽ phải lĩnh đủ. Chính điều này sẽ ngăn cản sự phục hồi của toàn cầu”.

Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, nhà cho vay lớn thứ hai của nước này, sẽ cắt giảm 70% các khoản vay trong nửa cuối năm nay. Giải thích cho quyết định này, ông Zhang Jianguo, chủ ngân hàng cho biết một số khoản vay không đi vào nền kinh tế thực, giá nhà đất vẫn tăng chóng mặt.

Về phần mình, ông Andy Xie, một cố vấn cấp cao, cho rằng quả bong bóng Trung Quốc là “một hệ thống lừa đảo đa cấp khổng lồ” sẽ gây ra “những hậu quả khủng khiếp” đối với đất nước này.

Theo ông Xie, thị trường chứng khoán lại rơi vào một sự điên cuồng. Hầu hết các nhà đầu tư nhỏ lẻ thiếu hiểu biết đang bị hút vào đà tăng này. Các cổ phiếu đang được định giá cao hơn từ 50 – 100% so với giá thực.

Ông Xie, tác giả luận án tiến sĩ về quả bong bóng của Nhật Bản những năm 1980, cho rằng tỷ lệ giá bất động sản ở Trung Quốc so với thu nhập hiện đang cao gấp 7 lần so với ở Mỹ. Mỗi mét vuông đất trị giá tương đương ba tháng lương – có thể nói là đắt nhất thế giới – dù rằng các tòa tháp chọc trời vẫn chẳng có ai ở.

Ông Xie cho rằng sự lên bổng xuống trầm của Trung Quốc diễn biến theo một nhịp độ chính trị. Có một niềm tin ăn sâu bám rễ rằng chính quyền có thể giữ cho trò chơi tiếp diễn và nước này sẽ không để sự phục hồi kinh tế bị “xì hơi” trước lễ kỷ niệm 60 năm ngày Quốc khánh 1/10. Niềm tin này chính nó đã phát huy hết tác dụng trong một thời gian.

Ảnh: stdaily.com

Ông Xie dự báo sự phục hồi của Trung Quốc sẽ bắt đầu loạng choạng vào tháng 10, sau đó là một vài “phát súng” tiền tệ trước khi toàn bộ nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu vào năm 2012. “Giá bất động sản có thể giảm như ở Nhật Bản hai thập kỷ vừa qua, điều này sẽ phá hủy hệ thống ngân hàng”.

Theo ông Xie, quả bóng bất động sản Trung Quốc là mặt sau của đồng USD yếu. Các chương trình kích thích tiền tệ của Mỹ đã tác động tới Thái Bình Dương. Phá sản sẽ xảy ra khi đồng USD phục hồi, và rút bớt khỏi lưu thông. Nếu Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) bất ngờ siết chặt chính sách tiền tệ như từng làm dưới thời ông Paul Volcker đầu những năm 1980, thì kết cục sẽ rất đau đớn đối với Trung Quốc.

Bắc Kinh xứng đáng được ca ngợi vì đã cố chuyển hướng khỏi xuất khẩu để tập trung vào kinh tế trong nước. Họ đã đạt được một số thành công. Bán lẻ tăng 15% so với năm ngoái. Nhưng Giáo sư Michael Pettis, thuộc trường Đại học Bắc Kinh, cho rằng rất khó để thuyết phục người Trung Quốc thay đổi thói quen tiêu dùng. Các rào cản văn hóa cần nhiều năm mới vượt qua được.

Thực vậy, các chính sách kích cầu đã cung cấp nhiều nguồn đầu tư cho công nghiệp, dẫn tới tăng sản lượng. Nếu GDP của Trung Quốc tiếp tục tăng gần 8% thì đó là nhờ sản lượng. Ở phương Tây, tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào tiêu dùng. Hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau.

Vấn đề cơ bản không thay đổi. Sự bất cân bằng Đông – Tây sau cuộc Đại suy thoái 2008-2009 đang ngày càng tệ hơn.

  • Quốc Thái (theo telegraph.co.uk)

Trung Quốc: Chính sách tiền tệ “tiến thoái lưỡng nan”

Cho rằng Trung Quốc sẽ phải trả giá cho chính sách mua lượng lớn trái phiếu Mỹ nhằm giữ giá đồng NDT ở mức thấp, ông Vitaliy N. Katsenelson, giám đốc nghiên cứu của Hiệp hội Quản lý Đầu tư tại Denver (Colorado, Mỹ), đã phân tích tình thế tiến thoái lưỡng nan của Bắc Kinh về chính sách tiền tệ trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu hiện nay.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của tác giả này trên tờ Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) số ra ngày 23/7 vừa qua.

Trung Quốc sẽ tiêp tục tăng trưởng?

Các chuyên gia bình luận tài chính đang tranh cãi về việc liệu sự nổi lên mới đây trên thị trường chứng khoán Trung Quốc có phải là một quả bong bóng hay không, và nếu đúng thì khi nào quả bóng này sẽ nổ tung.

Những gì đang xảy ra đối với nền kinh tế mênh mông của Trung Quốc là những gì mà chúng ta đang thực sự trông thấy. Nó sẽ có một tác động sâu rộng đến phần còn lại của thế giới, mạnh hơn sự tụt dốc của thị trường chứng khoán.

Nguồn: static.guim.co

Bất chấp mọi chuyện, gần đây nền kinh tế Trung Quốc đã chứng tỏ một sức bật khó tin. Dù các khách hàng lớn nhất của họ là Mỹ và châu Âu đang vật lộn (đó là còn nói giảm nhẹ), và xuất khẩu của nước này giảm hơn 20%, nhưng Trung Quốc vẫn tạo ra những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Dự báo mới nhất cho thấy tăng trưởng của nước này sẽ đạt gần 8%/năm.

Phải chăng nền kinh tế Trung Quốc hoạt động trong một thực tế kinh tế khác? Liệu họ có tiếp tục tăng trưởng bất kể kinh tế toàn cầu đang thế nào?

Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là không. Tài sản của Trung Quốc trong thập kỷ vừa qua khiến người ta nhớ lại thời Công ty Công nghệ Lucent, một trong những công ty viễn thông lớn của Mỹ những năm 1990. Lucent bán thiết bị máy tính cho các công ty dot-com (tức là các công ty kinh doanh qua mạng).

Trước tiên, tăng trưởng của họ bình thường, kết quả của việc bán hàng cho các công ty truyền thống thông qua trao đổi bằng tiền mặt. Khi các cơ hội khách hàng thanh toán bằng tiền mặt suy giảm, các dot-com chỉ có thể mua trang thiết bị của Lucent bằng việc lấy tiền từ các quỹ tư nhân hoặc thông qua các thị trường vốn (chứng khoán), vì các mô hình kinh doanh của họ không phải lúc nào cũng phát sinh chu kỳ tiền mặt.

Nhưng các quỹ để mua trang thiết bị của Lucent cũng nhanh chóng cạn kiệt, và tăng trưởng của họ bị đình trệ hoặc thậm chí sụt giảm. Lucent đã đề nghị trao cả vốn liếng của mình cho các công ty dot-com bằng việc cho vay và vay tiền với lãi suất thấp để chi trả cho việc mua các sản phẩm của họ. Chiến lược này đã vận hành khá tốt, cho đến thời điểm phải thanh toán nợ.

Tất nhiên, Mỹ không phải là một dạng dot-com. Nhưng một tỷ lệ lớn tăng trưởng của họ dựa vào việc vay tiền Trung Quốc để mua sản phẩm của Trung Quốc, điều này có nghĩa là tăng trưởng của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào chính việc cho vay này.

Hiện giờ, Mỹ và phần còn lại của thế giới đang hạn chế chi tiêu, các công ty thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, còn người tiêu dùng thì khóa ví tiền của mình lại. Điều này cũng có nghĩa là tiêu dùng đối với hàng hóa của Trung Quốc bị suy giảm. Và tình trạng này xảy ra khi các dot-com tương tự bị đổ vỡ.

Không giống như Lucent, Trung Quốc có vũ khí hạt nhân. Họ có thể in tiền bao nhiêu tùy thích và hoàn toàn có thể ra lệnh cho các ngân hàng của mình cho vay tiền. Nói tóm lại, họ là một nền kinh tế có điều tiết. Lucent giờ chỉ là một kho dự trữ 2 USD nhưng Trung Quốc sẽ không tụt dốc dễ như vậy.

Ngân hàng trung ương Trung Quốc có một lợi thế hơn hẳn Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Giám đốc Ben Bernanke và đồng nghiệp của ông có thể in rất nhiều tiền (và họ đã làm như vậy), nhưng họ hầu như không thể làm gì để đẩy nhanh tốc độ sinh lợi của đồng tiền.

Đơn giản là họ không thể ép các ngân hàng cho vay nếu không quốc hữu hóa chúng (nhưng chỉ các doanh nghiệp của chính phủ là đã được quốc hữu hóa). Họ cũng không thể ép các tập đoàn và người tiêu dùng chi tiêu. Trong khi đó, Trung Quốc không gặp phải những vấn đề này.

Chính phủ Trung Quốc sở hữu một phần lớn các công cụ in tiền và tiêu tiền. Họ đã cung ứng thêm 28,5% lượng tiền vào lưu thông trong tháng Sáu vừa qua. Bởi vì họ kiểm soát các ngân hàng và có thể buộc các thể chế tài chính này phải cho vay tiền, và điều này đã được thực hiện.

Cuối cùng, Trung Quốc có thể buộc các công ty nhà nước vay tiền và tiêu tiền, và tiêu thật nhanh số tiền đã vay. Đây hoàn toàn không phải là một nền dân chủ chuyển động chậm chạp, hay quá thận trọng dè chừng. Nếu Chính phủ Trung Quốc quyết định xây đường cao tốc, họ chỉ cần vẽ một đường thẳng trên bản đồ. Mọi trở ngại, như bệnh viện – trường học hay nhà riêng của một nhân vật nào trong Bộ Chính trị – đều có thể được hy sinh cho đất nước.

Dù Trung Quốc không thể kiểm soát chi tiêu của người tiêu dùng, song đối tượng này cũng chỉ là một phần tương đối nhỏ trong nền kinh tế. Hơn nữa, sự kiểm soát hiện nay đã hạn chế sức mua của người tiêu dùng. Tất cả điều này khiến các kế hoạch hỗ trợ lĩnh vực ngân hàng (TARP) của Mỹ chỉ như một trò chơi trẻ con. Nếu Trung Quốc muốn kích thích nền kinh tế, họ làm được, và làm nhanh là khác. Đó chính là lý do khiến nước này tạo ra được những con số kinh tế ấn tượng.

Tại sao?

Nguồn: foreignpolicy.com

Tại sao Trung Quốc làm được vậy? Họ không có mạng lưới an sinh xã hội như ở các nước phát triển, vì vậy họ phải đảm bảo nền kinh tế của mình bằng mọi giá. Hàng triệu người đã di cư ra thành phố, và giờ đây đang đói và thất nghiệp. Phàm những người không có cái ăn và việc làm thường có xu hướng gây náo loạn. Để tránh tình trạng này xảy ra, chính phủ hơn bao giờ hết muốn ra tay kích thích kinh tế, với hy vọng giết thời gian cho đến khi hệ thống toàn cầu ổn định. Và thế là các ngân hàng được lệnh phải cho vay, điều này tạo ra một lượng lớn các khoản vay xấu, nhiều hơn mọi khoản vay ở nước này trong thập kỷ vừa qua.

Nhưng đừng nhầm giữa tăng trưởng nhanh với tăng trưởng bền vững. Hầu hết tăng trưởng của Trung Quốc trong thập kỷ vừa qua là nhờ cho Mỹ vay tiền. Họ đã cho vay quá khả năng thực. Và giờ đây, tăng trưởng đến từ việc đi vay – và các quyết định trị giá hàng trăm tỷ USD được đưa ra nhanh chóng không tạo được nhiều niềm tin. Ví dụ, một tòa nhà 13 tầng gần như sắp hoàn tất tại Thượng Hải đã bị sụp đổ hồi tháng Sáu vì không đảm bảo chất lượng công trình.

Sự tăng trưởng này sẽ dẫn tới kết quả là một lượng lớn nợ xấu – vì cho vay kiểu ép buộc là tín dụng xấu. Danh sách các hậu quả xấu rất dài, song điểm mấu chốt rất đơn giản: Không có sự kỳ diệu trong sức tăng trưởng diệu kỳ của Trung Quốc, và Trung Quốc sẽ phải trả giá. Câu hỏi duy nhất đặt ra là khi nào và bao nhiêu.

Sự hy sinh khác đang diễn ra ở Trung Quốc là lãi suất của Mỹ. Trung Quốc bán hàng cho Mỹ và nhận về USD. Nếu Trung Quốc làm theo quy luật tự nhiên, họ sẽ chuyển các đồng USD này thành nhân dân tệ (tức là bán USD để mua NDT). USD sẽ giảm giá và NDT sẽ tăng giá. Nhưng điều này sẽ khiến hàng hóa Trung Quốc đắt đỏ hơn nếu tính bằng USD, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Trung Quốc, từ đó giảm xuất khẩu và khiến nền kinh tế nước này tăng trưởng với tỷ lệ chậm hơn nhiều.

Trung Quốc đã chọn con đường khác. Thay vì đổi USD thành NDT, họ đã đổi ngược đồng nội tệ của mình sang đồng bạc xanh bằng việc mua trái phiếu ngân khố Mỹ. Họ đã cố tình làm tăng giá đồng USD. Và hiện nay, Trung Quốc đang nắm giữ 2.200 tỷ USD ngân phiếu Mỹ.

Nhưng giờ đây, Trung Quốc cần kích thích kinh tế. Họ phải đối mặt với một tình huống rất tế nhị: cần tiền nội tệ để duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, nếu họ bán các trái phiếu bằng USD, một số vấn đề sẽ xảy ra. Giá NDT sẽ tăng vọt, tức là mất tính cạnh tranh là hàng giá rẻ. Nhưng nếu không, lãi suất của Mỹ tăng kinh khủng, không tốt cho các khách hàng lớn nhất của họ, và đương nhiên không tốt cho Trung Quốc.

Chính vì vậy, Trung Quốc đang liều mình tính cách rút tiền của mình khỏi USD mà không làm mất giá đồng tiền này. Điều đó không hề dễ.

Và Chính phủ Mỹ cũng không giúp ích gì: họ in tiền và phát hành trái phiếu, và cần ai đó tiếp tục mua chúng. Nếu Trung Quốc mua ít đi hoặc ngừng mua, Mỹ có thể dựa vào lãi suất cao. Kịch bản này là đáng ngại nhất.

Mọi chuyện đã được tiên liệu: một quả bong bóng cực đại của Trung Quốc. Nhận dạng những quả bóng như vậy dễ hơn nhiều việc đoán xem khi nào nó sẽ nổ tung. Quả bóng này càng phình to lâu bao nhiêu thì trọng lượng tài chính sẽ càng nặng và kéo nền kinh tế Trung Quốc đổ sập xuống đất./.

  • Quốc Thái (Theo foreignpolicy.com)

Trung Quốc: siêu cường mỏng manh

Susan L. Shirk, Joanne J. Myers
Postmodernism, X-Cafe chuyển ngữ
Trung Quốc: siêu cường mỏng manh: Làm thế nào mà nội vụ chính trị của Trung Quốc có thể làm trật đường ray sự phát triển một cách bình ổn của nó.

Giới thiệu:

Joanne Myers: Chào quý vị. Tôi là Joanne Myers, giám đốc ngoại vụ, xin phép thay mặt hội đồng Carnegie cám ơn quý vị đã có mặt sáng nay.

Hôm nay chúng ta hoan hỉ đón chào thuyết trình viên Susan Shirk. Bà sẽ thảo luận về cuốn sách “Trung Quốc: siêu cường mỏng manh: Làm thế nào mà nội vụ chính trị của Trung Quốc có thể làm trật đường ray sự phát triển ổn định của nó” của mình.

Hai trăm năm trước, Napoleon dường như đã cảnh báo mọi người nên “để cho Trung Quốc ngủ yên, bởi vì khi thức giấc nó sẽ rung động thế giới”. Không thấy có ghi nhận chính thức của lời cảnh báo này ở đâu cả, và lời trích dẫn này cũng có thể thiếu chính xác hoặc thậm chí đáng nghi vấn. Nhưng những lời này quả thật đã được nói ra, Napolean quả thật đã dự đoán rằng sức mạnh của gã khổng lồ ngủ yên trước đây đã bắt đầu rung động thế giới và sự chấn động đã được cảm nhận xa và rộng.

Trong nhiều ngàn năm, vị trí của Trung Quốc luôn luôn nằm ở chỗ dẫn đầu về sức mạnh là điều không còn gì để ngờ vực. Trong khi Tây Phương đắm chìm trong thời đen tối [1], Trung Quốc đã chế tạo ra giấy, thuốc súng và kỹ thuật ấn loát. Hai ngàn năm trước khi Alexander Fleming [2] khám phá ra penicillin, người Trung Quốc đã dùng nấm đậu hũ để tạo kháng sinh. Nhưng rồi, vào những năm của niên kỷ 1500, Trung Quốc đã tháo lui, bế quan, toả cảng và quay lưng lại với toàn thế giới. Nhưng từ những năm 1970, khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa kinh tế, tiến trình đuổi bắt đã gia tăng.

Ngày nay, với mức độ kinh tế phát triển nhanh, với sự giàu có về khoa học kỹ thuật và kỹ nghệ, nhiều kinh tế gia và nhiều nhà khoa học chính trị đồ đoán rằng Trung Quốc sẽ là siêu cường kế tiếp của thế giới. Trong khi đó, nhiều người ở Tây phương quan ngại rằng sức mạnh kinh tế kỳ diệu này chính là mối đe doạ lớn lao đến sự bình ổn của thế giới.

Trong khi thực sự gã khổng lồ này được tiếp liệu với sự thành công của kinh tế, theo thuyết trình viên của chúng ta, hiểm hoạ thật sự không nằm ở chỗ kinh tế phát triển chóng mặt của Trung Quốc mà ở chỗ suy yếu do những đe doạ bên trong mang lại từ sự tăng trưởng quá nhanh, từ sự chênh lệch trong xã hội, từ sự hư hoại môi trường và từ sự tham nhũng của chính quyền.

Giáo sư Shirk tranh biện rằng việc am hiểu những quan ngại của các lãnh tụ Trung Quốc về sự thiếu khả năng bảo tồn kiểm soát và quyền lực của họ là điều các nước Phương Tây cần phải làm. Chẳng đáng ngạc nhiên khi tình trạng thiếu an ninh này thường đưa đến chỗ các quan chức của Đảng phải chơi đòn chủ nghĩa quốc dân sắt đá với công dân của họ, dẫn đến thái độ hung hăng đối với Nhật và Đài Loan.

Theo đó, vị khách mời [3] của chúng ta viết rằng, “nếu chúng ta ngộ nhận mô thức của họ và phản ứng sai đối với Trung Quốc thì đây sẽ là đại hoạ bởi vì, nếu không xử lý một cách hợp lý, những vấn đề này có tiềm năng làm trật đường rày tiến trình phát huy một cách bình ổn để trở thành một siêu cường của thế giới.”

Lần đầu tiên đến Trung Quốc vào năm 1971, kể từ đó Giáo sư Shirk trở thành một quan sát viên sắc sảo về quang cảnh sân khấu chính trị của Trung Quốc. Sự am tường của bà sẽ chóng được vén mở khi bà làm sáng tỏ cái nghịch lý Trung Quốc này, cái nghịch lý rơi vào khoảng đâu đó giữa việc cân bằng của sự bấp bênh bên trong và những thử thách an ninh bên ngoài. Nếu xem từ bên trong, có lẽ Trung Quốc không phải là sức mạnh đáng chiêm ngưỡng thường được thấy từ lớp vỏ bên ngoài.

Vậy, chúng ta có nên lo ngại về Trung Quốc? Sau khi đọc Trung Quốc: siêu cường mỏng manh, tôi phải thú thật rằng câu trả lời chắc chắn là có. Tuy nhiên, câu trả lời này là vì những lý do rất khác so với những gì chúng ta được nghe từ Washington [4].

Xin mời quý vị cùng tôi đón chào vị khách của chúng ta sáng hôm nay, một người mà tôi tin rằng sẽ không tránh né [5] trách nhiệm chia xẻ cùng chúng ta đầy đủ câu chuyện bên trong Trung Quốc này nay. Chúng tôi cám ơn Susan đã đến với chúng tôi sáng hôm nay.

Các ý kiến cá nhân.

Susan Shirk: Cám ơn rất nhiều vì lời giới thiệu tuyệt vời. Tôi cảm nhận được sự thông hiểu. Đây là một cảm giác thật tuyệt.

Có mặt ở đây vào sáng hôm nay tại một tổ chức lâu đời và cao quý này là một vinh dự lớn lao đối với tôi. Đây là cơ hội đầu tiên tôi được nói chuyện với hội đồng Carnegie và tôi hết sức vui khi thấy số lượng khán thính giả đông đúc như thế, bởi vì tôi biết những người đến dự ở hội đồng Carnegie là những người uyên bác như thế nào. Bởi thế, tôi mong đến phần hai của chương trình khi chúng ta có phần thảo luận.

Tôi là một học giả về Trung Quốc, người đã từng viếng thăm Trung Quốc từ 1971 và rồi dưới thời kỳ Clinton đương nhiệm, tôi có cơ hội được làm việc ở vị trí Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng, chịu trách nhiệm về các vấn đề bang giao với Trung Quốc, tất nhiên đó là cơ hội hết sức lý thú đối với tôi để tham gia vào lịch sử hơn chỉ là nghiên cứu nó.

Khi tôi vào làm việc với chính phủ vào năm 1997, trong đầu tôi chất chứa nỗi bồn chồn về khả năng chiến tranh xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bởi vì một năm trước đó, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã va chạm mặt đối mặt [6] về chuyện Đài Loan, một hòn đảo mà Bắc Kinh cho rằng nó thuộc về Trung Quốc nhưng nó đã tự trị từ 1949.

Người Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận cỡ lớn, thử nghiệm tên lửa vào vùng biển bên ngoài các hải cảng của Đài Loan bởi vì họ muốn biểu lộ sự giận dữ của họ đối với Hoa Kỳ vì đã mời tổng thống Đài Loan khi ấy là ông Lý Đăng Huy đến viếng trường đại học nơi ông đã tốt nghiệp, trường Cornell, đây nơi ông đã diễn thuyết. Đối với người Trung Quốc, điều này hàm chứa rằng Hoa Kỳ đã công nhận hòn đảo này đã có chủ quyền như một quốc gia độc lập, bởi thế chúng ta mới mời tổng thống của họ. Hoa Kỳ đã gởi hai nhóm không chiến đến khu vực để giải quyết. Trung Quốc rút lui; Trung Quốc hạ hoả. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra lần kế tiếp? Sự gia tăng hiểm hoạ có sinh mạng riêng của nó. Chiến tranh có thể xảy ra ngay cả nếu chẳng có ai muốn nó xảy ra.

Trong khi làm việc trong chính phủ để cố gắng cải thiện và tạo nền móng tốt giữa quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc, tôi để ý đến mức độ những người nắm quyền lực ở Trung Quốc tập trung đến các vấn đề chính trị bên trong của chính họ như thế nào và họ đã có vẻ thiếu an ninh như thế nào. Thế, tất nhiên ấy là dưới thời Clinton, tôi đã chứng kiến vô số chuyện chính trị nội vụ kiểu Mỹ về những việc liên quan đến Trung Quốc. Đấy là những lúc, hãy nhớ rằng, chính phủ đã bị đổ tội cho việc nhận tiền vận động tranh cử từ Trung Quốc và bán cho Trung Quốc vệ tinh của chúng ta và những bí mật nguyên tử của chúng ta. Nhưng bên trong Trung Quốc thì còn nhiều thứ để đánh đổi hơn nữa – không chỉ thắng cử lần kế tiếp mà còn là sự sống sót của Đảng Cộng Sản. Nếu Đảng Cộng Sản bị sụp đổ thì tất cả các lãnh tụ Trung Quốc và gia đình họ đều sẽ mất tất cả.

Quý vị biết chăng, trong khi tôi viết cuốn sách này, tôi đã giới thiệu với bạn bè người Mỹ của tôi và bạn bè người Trung Quốc của tôi về nó. Khi tôi nói với bạn bè người Mỹ của tôi rằng tôi đang viết một cuốn sách về nội vụ chính trị và ngoại vụ chính trị có tên là Trung Quốc: một siêu cường mỏng manh, họ bảo, “ý bà mỏng manh là gì?” Nhưng khi tôi nói với bạn bè người Trung Quốc rằng tôi đang viết một cuốn sách có tên là Trung Quốc: một siêu cường mỏng manh, tôi thề là tất cả mọi người đều nói “ý bà ‘cường quốc’ là gì?” – chẳng ai hỏi về “mỏng manh”.

Tính mỏng manh bên trong này đến một cách rõ ràng từ kinh nghiệm khủng hoảng nhất của tôi khi còn làm việc với chính phủ. Một buổi chiều tháng Năm, trên đường từ sở về nhà vào tháng Năm năm 1999, tôi nhận được một cú điện thoại từ trung tâm liên lạc của Bộ cho biết rằng toà đại sứ Trung Quốc ở Belgrade đã bị đánh bom từ phi cơ của Hoa Kỳ trong thành phần thuộc chiến dịch ở Nam Tư của NATO.

Tất nhiên, tôi ngầm định rằng đây chỉ là lạc đạn [7], một miểng lạc vô tình nào đó. Nhưng nhanh chóng sau đó, tôi được biết rằng Hoa Kỳ đã thật sự nhắm vào toà đại sứ này và xác định nhầm ấy là cơ sở quân sự của Nam Tư, đánh vào điểm ấy với ba quả bom chính xác cao, gây tử thương ba nhà báo và trọng thương hai mươi người khác.

Bản năng tự nhiên của tôi ngay lập tức là mình phải xin lỗi thành khẩn việc này từ tổng thống trở xuống, bởi vì tôi biết rằng nếu chúng tôi không biểu lộ một cách rõ ràng chúng tôi đã hối tiếc về sự vụ như thế nào thì những người Trung Quốc sẽ không bao giờ để cho chúng tôi quên được chuyện ấy, y hệt như việc họ đã không bao giờ để cho người Nhật quên rằng họ (người Nhật) đã không xin lỗi đúng mực vì những thảm sát mà người Nhật đã tạo ra trong thời gian chiếm đóng Trung Quốc vào đệ nhị thế chiến.

Bởi thế, tổng thống Clinton ngay lập tức đã gọi điện; Chủ Tịch Giang Trạch Dân không tiếp cú gọi. Thư ký Albright vào toà đại sứ Trung Quốc ngay đêm hôm ấy để xin lỗi. Tổng thống Clinton chính thức xin lỗi trên truyền hình. Chúng tôi đòi hỏi ông phải ký trong cuốn tưởng niệm từ đại sứ Trung Quốc. Chúng tôi cố gắng gởi ngay một ủy ban đến Trung Quốc để xin lỗi; họ vẫn không tiếp nhận. Chúng tôi muốn gởi đại sứ của chúng tôi đến sân bay khi máy bay chở những lưu vật của nạn nhân đến; người Trung Quốc bảo, “đừng đến.” Rốt cuộc, vài ngày sau Giang Trạch Dân nhận điện thoại của Clinton, và thế Tổng Thống Clinton xin lỗi một lần nữa. Riêng phần tôi đếm thì ông ấy đã xin lỗi bốn lần trong vòng vài ngày đầu. Và chúng tôi đền bù những thiệt hại của nạn nhân và của toà nhà.

Nhưng tất cả các cố gắng của chúng tôi đều vô ích. Nhanh chóng sau đó, những người biểu tình xuống đường ở các thành phố ở Trung Quốc và tấn công vào toà đại sứ Hoa Kỳ và các tổng lãnh sự ở Bắc Kinh và những thành phố khác. Sau tai nạn ấy, Đảng Cộng Sản đã tuyên bố chính thức ngay lập tức trên tờ Nhân Dân Nhật Báo và những tờ báo khác rằng đây là cuộc tấn công có chủ đích chớ chẳng phải tai nạn.

Đảng Cộng Sản sắp xếp xe buýt cho các sinh viên căm phẫn đến toà đại sứ Hoa Kỳ và các tổng lãnh sự để biểu tình chống đối. Cảnh sát cho phép sinh viên ném gạch, chai xăng [8], đá tảng ở các trụ sở của Hoa Kỳ nhưng cảnh sát không cho phép họ tiến vào các trụ sở.

Vậy, chuyện gì xảy ra đây? Bạn hãy tự đặt mình vào vị trí của Giang Trạch Dân. Thật ra, đó là tất cả nội dung cuốn sách của tôi muốn thực hiện, là bước lên mức độ thông cảm, để chúng ta có thể suy nghĩ y hệt như các nhà lãnh đạo Trung Quốc suy nghĩ.

Thời điểm xảy ra của tai nạn này quả là không may tí nào. Nó xảy ra đầu hạ tuần tháng Năm năm 1999. Chưa đến một tháng trước đó, Giang Trạch Dân thức giấc vào một buổi sáng, nhìn ra cửa sổ và thấy mười ngàn tín đồ Falun Gong, một tổ chức tôn giáo, đang vây quanh Trung Nam Hải, nơi các vị lãnh đạo sống và làm việc, đòi hỏi Falun Gong được công nhận là một nhóm hợp pháp. Chẳng cần cảnh báo, tổ chức này sử dụng điện thoại lưu động và Internet để tổ chức cuộc biểu tình này ngay trước cửa nhà của Giang Trạch Dân.

Chẳng phải ngạc nhiên, biến cố này đã báo động trực tiếp đến Giang Trạch Dân và các lãnh đạo khác. Thật sự, nhiều người trong nội bộ đã nói với tôi rằng đêm Belgrade bị đánh bom Giang Trạch Dân thức khuya để viết một công văn không phải cho vụ đánh bom mà cho vấn đề làm sao để xử lý Falun Gong. Dường như trong đầu ông ta những đe doạ này bị xen lẫn vào nhau.

Và rồi, ít hơn một tháng sau vụ thả bom tháng Năm, các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rất rõ rằng sắp tới là ngày 4 tháng Sáu năm 1999. Tôi đoan chắc nhiều quý vị biết ngày ấy là ngày gì rồi, đó là ngày tưởng niệm lần thứ mười vụ biểu tình Thiên An Môn. Nhân thể, những cuộc biểu tình đòi dân chủ mà chúng ta thấy được trên đài CNN ở Bắc Kinh cũng đã xảy ra tại hơn 130 thành phố khác ở Trung Quốc trước khi quân đội đã dập tắt họ một cách tàn nhẫn. Bởi thế, Giang Trạch Dân và những vị lãnh tụ Trung Quốc rất lo lắng rằng những cuộc biểu tình sẽ tái diễn trong lần kỷ niệm thứ mười này.

Khi vụ thả bom ở Belgrade xảy ra, họ tin rằng rất có thể sinh viên sẽ cuồng nộ với chính phủ Trung Quốc vì đã quá yếu kém để xảy ra chuyện Hoa Kỳ tấn công vào toà đại sứ Trung Quốc. Bởi vậy, họ lo lắng rằng sinh viên sẽ diễu hành đến Thiên An Môn hoặc Trung Nam Hải và đó là điểm giải thích tại sao có những chiếc xe buýt kia. Họ muốn chuyển hướng sự giận dữ của sinh viên chệch ra khỏi chính họ và nhắm vào người Mỹ. Nói một cách khác, họ liều chọn biện pháp đối chọi với Hoa Kỳ để bảo vệ họ né khỏi những phản kháng từ bên trong.

Dựa vào kinh nghiệm kinh hoàng này hồi năm 1999 và một số trường hợp tương tự khi tôi còn làm việc cho chính phủ, tôi bắt đầu thấy được biểu hiện thiếu an ninh chính trị của các lãnh tụ Trung Quốc. Mặc dù họ trông như những gã khổng lồ đối với chúng ta từ thế giới bên ngoài do sự thành công to lớn về mặt phục hồi kinh tế, quân đội và sức mạnh chính trị từ khi ban hành chính sách cải tổ kinh tế thị trường vào năm 1978, tôi tin rằng họ cảm thấy như những đứa trẻ đang sợ hãi cố gắng một cách tuyệt vọng để nắm víu vị trí tột đỉnh trong xã hội từ những dao động của sự thay đổi kinh tế.

Thế, tại sao những nhà lãnh tụ Trung Quốc lại cảm thấy thiếu an ninh trong khi đất nước của họ thành công như thế?

Đầu tiên, như tôi đã thảo luận, vào năm 1989, Đảng Cộng Sản đã bị rung chuyển đến tận gốc rễ do cùng một lúc, những cuộc biểu tình của sinh viên và những chia rẽ ngay chính trong nội bộ lãnh đạo của Đảng về việc làm cách nào để đối phó. Nếu quân đội đã từ chối theo lệnh và không nghe lời Đặng Tiểu Bình thì thể chế Trung Quốc đã là lịch sử. Bởi thế, từ 1989, từ cú ngã quá cận kề sự diệt vong, từ sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Bang Xô Viết và cả khối Đông Âu xảy ra gần như cùng lúc, họ luôn luôn bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi rằng ngày kết thúc của họ cũng cận kề.

Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc cũng biết rằng họ bị thiếu hẳn các biểu tượng cao quý như Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, các lãnh tụ của thế hệ “trường hành” [9], của những người đã sáng lập ra Cộng Hoà Nhân Dân. Những người hiện tại như Hồ Cẩm Đào hoặc người tiền nhiệm của ông như Giang Trạch Dân chỉ là những kẻ kỹ trị không màu [10], những tay giỏi sắp xếp nhưng chẳng có mấy thu hút, ngay cả họ rất cố gắng để tìm cách tạo thêm thu hút.

Họ cũng nhận ra rằng hai thập niên rưỡi của việc cải tổ kinh tế và mở cửa đã đổi ngược xã hội và tạo những thách thức chính trị cho bộ máy cầm quyền cộng sản.

Chúng ta đều biết rất rõ – chúng ta đọc trên báo chí hàng ngày – rằng kinh tế Trung Quốc đã gia tăng chừng 10 phần trăm mỗi năm trong 25 năm. Nó đã vững mạnh, cũng như Joanne đã nhận định, trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới một lần nữa. Thật ra nó đã là một nền kinh tế lớn nhất thế giới trong hai ngàn năm cho đến cuối thế kỷ 19, khi nó bị Hoa Kỳ qua mặt.

Thu nhập của người dân gia tăng nhanh chóng với khoảng tám phần trăm mỗi năm. Thật ra, qua hai thập niên họ đã có thu nhập bình quân cải thiện ở tốc độ như thế chính là kỷ lục chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng, Trung Quốc vẫn là một quốc gia nghèo. Mức thu nhập trung bình chỉ $1,500 cho một năm, so sánh với khoảng $40,000 ở Hoa Kỳ.

Các cải tổ kinh tế đã thay đổi xã hội một cách chóng mặt. Đảng không còn có khả năng bám sát dân số cũng như bị mất kiểm soát với dân số. Hơn một trăm triệu nông gia đã bỏ nông thôn vào thành phố. Ba phần tư lực lượng lao động hiện nay làm việc bên ngoài hệ thống chính phủ nơi chế độ quản lý chính trị rất ít ỏi. Ba mươi triệu người du lịch nước ngoài năm 2005.

Nhân dân có nhiều phương tiện tiếp cận với thông tin hơn trước rất xa cái thời ai cũng phải đọc Nhân Dân Nhật Báo và xem tin tức lúc 7 giờ trên truyền hình [11]. Đầu tiên, 132 triệu người có thể truy cập liên mạng toàn cầu (Internet) để lấy thông tin, bao gồm 90 phần trăm liên quan đến giáo dục. Và bây giờ – thiên hạ chẳng còn chú ý mấy đến đến báo chí và truyền hình như đang chú ý đến Internet – việc thương mại hoá của hệ thống thông tin đại chúng rất quan trọng. Có hàng loạt tờ báo buổi chiều ở các thành phố ở Trung Quốc và trang tin tức trên mạng và họ tranh giành khách với nhau. Bởi thế, dù vẫn bị kiểm duyệt, họ luôn luôn cố gắng đẩy tới giới hạn tận cùng của mức kiểm duyệt. Bởi thế, các lãnh tụ của Đảng không còn đủ khả năng kiểm soát dân chúng tránh xa tin trong Trung Quốc hoặc tin ngoài Trung Quốc nữa.

Tất nhiên, sự cách biệt trong xã hội là nỗi lo ngại lớn nhất của các vị lãnh tụ. Khoảng cách giữa người giàu và kẻ nghèo đã nới rộng ra. Ngày nay ở Hoa Kỳ chúng ta rất lo lắng rằng khoảng cách giàu nghèo của chúng ta đã nới rộng ra sau một thế kỷ. Nhưng ở Trung Quốc thì tệ hại hơn nữa. Theo giá trị bất biến Gini [12], một phương pháp đo đạt sự cách biệt được thế giới chấp nhận thì với zero là tuyệt hảo, giá trị đo của Hoa Kỳ là 4.1 và của Trung Quốc là 4.6 đến 4.9 với các giá trị ước chừng khác nhau. Trong các bài diễn văn và trong các bài viết trên báo chí, các lãnh tụ Trung Quốc không ngừng lo lắng rằng sự phân hóa [13] này, cách họ gọi, có thể tạo ra sự xáo trộn một cách khủng khiếp trong xã hội.

Một lý do khiến cho sự cách biệt trong xã hội là tiềm năng của loại chất nổ mang tính chính trị, đó là dân Trung Quốc tin rằng những ai thật sự giàu có, ăn trên ngồi trốc, thường không làm ăn lương thiện bằng mồ hôi nước mắt mà do tham nhũng và có những quan hệ móc nối với chính quyền. Trung Quốc tất nhiên vẫn còn hàng triệu người sống trong đói nghèo.

Thế, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo đang cố gắng nhấn chìm tình trạng xáo trộn này bằng cách thể hiện họ rất mực quan tâm đến người nghèo. Họ đeo đuổi cái gọi là tình thương cộng sản. Khẩu hiệu của họ là “một xã hội hài hoà.”

Tôi có mặt ở Trung Quốc cả mùa hè và rất thích thú khi thấy ông thủ tướng Ôn Gia Bảo xuất hiện trên truyền hình hầu như mỗi tối hoặc ít nhất cũng một hai lần mỗi tuần, ở vùng quê, ông rỏ nước mắt như kiểu Bill Clinton của Trung Quốc trong khi ôm choàng một người nông dân lam lũ nào đó, người bị thất thiệt trong cơn thiên tai hoặc nhân tai nào đó. Ông ta rất điêu luyện với việc ấy.

Dẫu vậy, mặc cho mọi cố gắng theo kiểu tình thương cộng sản, phản kháng của những người thất nghiệp và những nông dân bất mãn vẫn xảy ra hàng ngày. Và những vấn nạn về môi trường như hoá chất rò rỉ và sông ngòi vẫn tiếp tục gia tăng cũng làm ngòi nổ cho những cuộc chống đối. Quý vị biết không, họ thật sự phải lo ngại những cuộc chống đối khi số đông người dân cùng bị một vấn đề cùng một lúc. Một trong các vụ hoá chất rò rỉ cũng những những vụ đại hoạ về sức khoẻ, có thể bùng ra các cuộc chống đối.

Nhưng các cuộc chống đối không chỉ là chuyện duy nhất mà các nhà lãnh đạo lo lắng. Nếu các thành viên tối cao của Đảng đoàn kết thì họ có thể dẹp tan các cuộc chống đối, lực lượng an ninh có thể triệt hạ chúng không mấy khó khăn và thể chế sẽ tiếp tục sống còn.

Trong khoảng thời gian khủng hoảng Thiên An Môn vào năm 1989, họ học được vài bài học rất quan trọng. Đó là, họ phải thật sự quan tâm đến ba điều: thứ nhất, ngăn chặn một cuộc xáo trộn rộng lớn có tầm cỡ quốc gia; thứ nhì, giữ vững sự đoàn kết của lãnh đạo, bởi vì nếu lãnh đạo chia rẽ thì nhân dân sẽ cảm thấy an toàn khi ra tham gia một cuộc phản kháng; và rồi, thứ ba, vòng tự vệ cuối của nhóm cầm quyền Đảng Cộng Sản là lực lượng Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân, bởi thế cần phải gìn giữ sự trung thành của quân đội. Những gì đã xảy ra trong suốt biến cố Thiên An Môn đó là sự trỗi dậy ở khắp 130 thành phố, quân đội chia rẽ và chế độ này sống còn trong khi tất cả chế độ cộng sản khác sụp đổ thật sự là do quân đội đã theo lệnh của Đặng Tiểu Bình và đã triệt hạ những cuộc biểu tình.

Thế, tôi nghĩ hiểm hoạ của việc lãnh đạo chia rẽ xem chừng rất thật, đặc biệt trong suốt thời kỳ chuyển giao lãnh đạo. Nhân thể, hiện nay Trung Quốc đang ở trong thời điểm bầu cử chủ tịch cũng như chúng ta đang bầu cử tổng thống. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sẽ được yêu cầu phục vụ thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa nhưng họ cần chọn một vị kế nhiệm trong đại đội Đảng vào mùa thu sắp tới. Bởi vậy, ngay lúc này có nhiều vị lãnh đạo đang đấu với nhau để trở thành những vị lãnh đạo trong thế hệ tới của Trung Quốc. Trong khoảng thời gian như thế, chắc chắn sẽ có hiểm hoạ chia rẽ trong lãnh đạo.

Thế còn quân đội thì sao? Chủ tịch Hồ Cẩm Đào biết rằng họ phải gìn giữ sự trung thành của quân đội. Thật ra, tôi nghĩ rằng Hồ Cẩm Đào muốn bảo đảm quân đội trung thành với riêng cá nhân ông. Đó là lý do cốt lõi tại sao quân đội nhận được ngân sách gia tăng hai con số [14] lần đầu tiên từ sau vụ Thiên An Môn.

Một quan ngại lớn đối với các nhà lãnh đạo đó là tính dân tộc chủ nghĩa của người Trung Quốc đã được hâm nóng lên suốt nhiều thập niên qua trong lúc Trung Quốc trỗi dậy và phục hồi sức mạnh như trước đây và đặc biệt trong những năm 90′, Giang Trạch Dân bơm thổi tính tinh thần dân tộc chủ nghĩa để thu hút thêm hỗ trợ cho ông ta và cho Đảng Cộng Sản.

Những gì hết sức to lớn trong tâm trí họ chính là lịch sử. Đây là cách họ nghĩ về lịch sử. Hai triều đại – triều đại nhà Thanh [15] bị sụp đổ năm 1911 và Cộng Hoà Trung Hoa bị Cộng Sản triệt hạ trong cuộc nội chiến 1949 – cả hai triều đại ấy đều sụp đổ do những cuộc trỗi dậy toàn quốc trong đó, những nhóm người ở nông thôn và thành thị bất mãn vì những lý do nội bộ đã liên kết với nhau trở thành lực lượng dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ. Những triều đại ấy bị sụp đổ bởi lẽ nhân dân nói rằng họ quá yếu kém trong việc đối diện với sức ép bên ngoài. Bởi thế bài học lịch sử ấy luôn luôn nằm trong tâm trí của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Họ muốn bảo đảm tình trạng như thế không xảy ra với họ và bởi vậy họ cảm thấy mình cần phải luôn luôn dẫn đầu chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc.

Tình cảm của những người chuộng chủ nghĩa quốc dân luôn đặt nặng trên ba nút bấm về những vấn điểm quốc tế mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc xử lý rất khác với phần còn lại của chủ trương đối ngoại: Nhật, Đài Loan và một phần ít hơn, Hoa Kỳ.

Nhật là tiêu điểm. Thăm dò cho thấy lớp trẻ bài Nhật nhiều hơn lớp già, lớp người thật sự chứng kiến sự chiếm đóng của Nhật. Những vấn đề liên quan đến lịch sử như việc các thủ tướng Nhật viếng bàn thờ Yasukuni [16], nơi 14 tội phạm chiến tranh được thờ phượng đã khuấy động những tình cảm rất mạnh mẽ được thể hiện trên mạng và đôi khi tràn ra ngoài đường phố. Tôi không biết quý vị còn nhớ không nhưng đã có nhiều cuộc biểu tình rất lớn trên 25 thành phố vào tháng Tư năm 2005, hầu hết là do lớp trẻ tổ chức nhằm bài chống Nhật.

Bởi thế, nỗi sợ hãi của các nhà lãnh tụ Cộng Sản Trung Quốc về sự sống còn của chính họ chính là nguyên nhân thúc đẩy cho tất cả mọi việc họ làm, trong chính sách đối ngoại lẫn đối nội. Cuốn sách của tôi mô tả cách hình thành thái độ của quốc gia này đối với thế giới từ sự mong manh của nội vụ Trung Quốc.

Tôi rất tự tin mà cho rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc rất muốn vươn lên một cách bình ổn; họ muốn đất nước họ vươn lên một cách bình ổn. Họ rất cố gắng và rất đúng mực khi thuyết phục thế giới rằng họ là một cường quốc có trách nhiệm với những mục tiêu hoà bình.

Nhưng tôi có một câu hỏi: Liệu họ có thể duy trì điều này hay không trong khi bên trong tiếp tục xảy ra những cuộc chống đối nặng tính dân tộc và thực tế dân chúng Trung Quốc có thể biết được các tin tức về những sự việc đang xảy ra ở Nhật, Đài Loan và Hoa Kỳ?

Chúng ta cần dè chừng sự mỏng manh của Trung Quốc khi chúng ta hình thành các chính sách của chính chúng ta đối với Trung Quốc. Tất cả những gì người Mỹ nói và làm có liên quan đến Trung Quốc đều được vang vọng đến hệ thống chính trị của Trung Quốc. Bằng cách ghi nhớ ngôn từ và hành động của chúng ta rung động bên trong Trung Quốc, người Mỹ có thể giúp các lãnh đạo Trung Quốc có động thái như một cường quốc có trách nhiệm như lời họ tuyên bố về Trung Quốc thay vì đẩy nó về phía tạo những hành động hung hăn do những khó khăn bên trong của họ.

Cuốn sách của tôi kết thúc bằng một số đề nghị cho người tạo chính sách của Trung Quốc và Mỹ về cách ngăn ngừa vị thế mỏng manh bên trong của Trung Quốc từ thái độ khiêu khích tạo nên những mâu thuẫn giữa hai quốc gia. Bây giờ chúng ta có thể nói về chuyện ấy hoặc về những khía cạnh khác của Trung Quốc mà quý vị muốn thảo luận.

Cám ơn rất nhiều.

(còn tiếp)

Chú thích của người dịch:

[1] Dark Ages: tạm dịch “thời đen tối”. Lịch sử thế giới đánh dấu “thời đen tối” xảy ra từ lúc thành trì Roma sụp đổ cho đến lúc phục hồi. Đây là thời gian vào khoảng 476 đến khoảng 1000 sau Công nguyên.

[2] Alexander Fleming, nhà sinh vật học người Tô Cách Lan, người đã tìm ra enzyme lysozyme vào năm 1923 và phân tử penicillin từ nấm Penicillium notatum vào năm 1928. Ông ta cũng là người được giải Nobel Vật Lý và Dược Học năm 1945.

[3] Ngụ ý là bà giáo sư Susan Shirk ở đây.

[4] Ám chỉ chính phủ Hoa Kỳ.

[5] shirk: có lẽ bà giám đốc ngoại vụ của Carnegie, bà Joanne Myers đã chơi chữ ở đây. Shirk là họ của bà Giáo sư Susan Shirk cũng có nghĩa là “né tránh” trong tiếng Anh.

[6] “eyeball-to-eyeball”, một thành ngữ chỉ cho sự đối chọi “mặt đối mặt” mặc dù tinh thần “eyeball-to-eyeball” mang tính đối chọi còn cận kề hơn “face-to-face”.

[7] Collateral damage, một cụm từ rất hay trong Anh ngữ. Tạm dịch là “lạc đạn”.

[8] Molotov cocktails: Một dạng mìn được tạo từ hỗn hợp cồn Phần Lan có nồng độ cao. Mìn này có nguồn gốc từ cuộc chiến Mùa Đông (Winter War) giữa Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết và Phần Lan vào tháng 11 năm 1939. Trong cuộc chiến này, lực lượng không quân Xô Viết sử dụng bom chùm và bom hoả nhiệt để tấn công quân đội Phần Lan. Khi ngoại trưởng Xô Viết, ông Vyacheslav Molotov tuyên bố trên đài vô tuyến rằng Xô Viết không thả bom mà chỉ thả thực phẩm để cứu trợ những người Phần Lan đang đói lả. Khi ấy, người Phần Lan mới bắt đầu gọi bom của Xô Viết là “các giỏ bánh mì Molotov”. Sau đó họ bắt đầu tấn công chiến xa của Xô Viết bằng “Molotov cocktails”, một cách gọi mỉa mai “thức uống đi với thức ăn” (mà không quân Nga đã thả xuống Phần Lan không phải là thức ăn mà là bom).

[9] Long March hay 长征 (trường hành), còn được biết đến với cái tên “vạn lý trường chinh”: cuộc triệt thoái vĩ đại của Hồng Binh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tiền thân của Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng để tránh sự truy kích của Quân Đội Quốc Dân Trung Quốc bắt đầu từ tháng 10 năm 1934. Cuộc triệt thoái này dưới sự hướng dẫn của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai kéo dài 370 ngày xuyên qua khoảng đường dài 12500 cây số, qua địa hình hiểm trở nhất ở phía tây và bắc Trung Quốc.

[10] Nguyên bản “colorless technocrats”: đây là cụm từ hàm chứa ít nhiều sự xem nhẹ bởi vì một chính trị gia của một cường quốc như Trung Quốc lại bị xem là “technocrat” (đám kỹ thuật) mà lại “colorless” (không màu), có nghĩa là không có gì trội nổi cả.

[11] CCTV: China Central TV – Đài Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc; hệ thống phát hình độc quyền và duy nhất ở Trung Quốc.

[12] Gini coefficient: giá trị bất biến dành cho thống kê được nhà thống kê người Ý Corrado Gini phát triển và công bố vào năm 1912. Giá trị này được dùng để đo sự cách biệt trong thống kê.

[13] Nguyên bản “polarization”, động thể xác định hai thái cực âm dương (của hệ thống tiếp điện hoặc của pin cung cấp điện) nhưng ngữ cảnh ở đây nghiêng về phía “phân hóa” hơn là “phân cực”.

[14] Nguyên bản “double-digit” là hai con số. Ý nói đây là gia tăng rất lớn. Nếu ngân sách cho quân đội là một tỉ thì “double-digit” sẽ nâng ngân sách lên thành một trăm tỉ.

[15] Qing dynasty (1644 – 1911): triều đại nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng ở Trung Quốc.

[16] Yasukuni Shrine: bàn thờ Yasukuni, nơi tưởng niệm các vong hồn chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh cho nước Nhật và các vị hoàng đế Nhật, một nơi tạo nhiều phản ứng đối nghịch giữa người Nhật và người Trung Quốc trong nhiều thập niên qua mặc dầu người Nhật luôn luôn tuyên bố những hoạt động tưởng niệm này chỉ thuần túy tôn giáo và tinh thần chớ không mang tính chính trị.
Nguồn: Carnegie Council

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: