Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Việt Nam: Xã hội Thần Dân hay xã hội Công Dân?

Posted by BEAR on Tháng Tám 21, 2009

Đảng cử, Dân bầu…: Bầu cử tại Quốc hội là cuộc bầu cử mở rộng trong nội bộ Đảng!

Bàn về phân công quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan nhà nước nhằm để phòng ngừa sự lạm dụng quyền lực, chuyển từ Vương quốc của một Ông Vua sang Vương quốc của Nhân Dân, từ xã hội Thần Dân sang xã hội Công Dân.

>> Kinh nghiệm Đảng giới thiệu, Quốc hội bầu
>> “Chỉ giao trọng trách cho người có tư tưởng Đổi Mới”

Thực hành chức năng theo quy định của pháp luật phải là một nguyên tắc tối thiết trong lãnh đạo và quản lý nhà nước hàng ngày, cũng như trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết tiếp theo của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về thực hành chức năng theo quy định của pháp luật.

Thần linh pháp quyền

Ảnh: Tuoitre


Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn (sau đây gọi tắt là chức năng) của các cấp, các ngành quản lý nhà nước;

  • quy định chức năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

  • và chức năng quản lý nhà nước của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, …

Chỉ khi nào chức năng của từng cơ quan được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh thì hoạt động của hệ thống bộ máy mới có hiệu lực và hiệu quả cao. Hiện nay, trong cuộc sống thường nhật còn diễn ra không ít những sai phạm về chức năng, làm ảnh hưởng không tốt tới hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là của hệ thống quản lý nhà nước.

Các cơ quan đảng và nhà nước, các đảng viên và công chức nhà nước phải chấp hành nghiêm chỉnh chức năng của cơ quan mình và tôn trọng chức năng của các cơ quan khác. Các cơ quan và công chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.

Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đòi hỏi mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phải thực hành đúng chức năng, mà trước hết là trách nhiệm nêu gương mẫu mực của các cơ quan đảng và nhà nước, các đảng viên và công chức nhà nước.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Theo Hiến pháp quy định thì Quốc hội được quyền phân công quyền lực nhà nước cho Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,… và cho chính Quốc hội khi thực hiện chức năng lập hiến. Quốc hội được quyền quyết định nhân sự cấp cao của Nhà nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước… Đó là những quyền cực kỳ quan trọng và cao nhất, Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao không có được các quyền đó.

Tuy vậy, sau khi Hiến pháp đã được ban hành, Quốc hội cũng vẫn phải tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh chức năng hiến định đã được phân công, không được can thiệp hoặc làm thay chức năng riêng có cao nhất của Chính phủ và của Tòa án nhân dân tối cao.

Tương tự như vậy, Quốc hội và Chính phủ cũng phải tôn trọng chức năng xét xử của Tòa án, tôn trọng phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; Quốc hội và Tòa án cũng phải tôn trọng chức năng quản lý hành chính nhà nước cao nhất của Chính phủ, mọi người tham gia giao thông cũng phải tuân theo cái gậy chỉ đường của chiến sĩ cảnh sát giao thông.

Tóm lại, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất cũng vẫn phải chấp hành nghiêm chỉnh chức năng đã được phân công, tôn trọng chức năng của các cơ quan khác, không can thiệp hoặc làm thay chức năng của các cơ quan khác.

Đảng làm thay hậu quả sẽ khôn lường


Đảng Cộng sản Việt nam là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội, song Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước.

Đảng không đứng trên cùng một mặt bằng quyền lực nhà nước với các cơ quan nhà nước, mà đứng ở tầm cao của Đảng lãnh đạo, và lãnh đạo cả Nhà nước và xã hội.

Đảng lãnh đạo chứ không chỉ đạo trực tiếp làm thay chức năng quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước.

Sự lãnh đạo của Đảng phải được luật hoá, thể hiện ở trong hệ thống pháp luật, thông qua đội ngũ cán bộ đảng viên và thiết chế bộ máy của hệ thống chính trị.

Đảng đề xuất về đường lối, tiến cử về cán bộ, cả đảng viên và không đảng viên, nhân dân và các cơ quan nhà nước lựa chọn và quyết định theo quy định của pháp luật. Trí tuệ lãnh đạo, soi đường chỉ lối của Đảng cùng với trí tuệ lựa chọn quyết định trực tiếp của nhân dân và các cơ quan nhà nước là một cơ chế cần thiết và tối ưu trong điều kiện một đảng duy nhất lãnh đạo để bảo đảm lòng Dân ý Đảng là một, trong đó lòng Dân là gốc.

Nếu cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước thì điều gì sẽ xẩy ra? Đây là một câu hỏi mang tính chất của một giả thiết, để thử phân tích hậu quả khi chức năng quản lý nhà nước bị vi phạm.

Trong trường hợp chủ trương lãnh đạo của Đảng chưa được luật hóa, và Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước, thì

Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước.

Trước tiên, việc làm như giả thiết nêu trên là trái với Hiến pháp, vì tại Điều 4 Hiến pháp đã ghi rằng ... Đảng …là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, chứ không ghi Đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước. Chúng ta đều biết rằng, lãnh đạo là chức năng của Đảng, còn chỉ đạo và quản lý là chức năng của nhà nước, cho nên không thể lẫn lộn hai chức năng đó được.

Thứ nữa, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước lúc đó sẽ không còn tương thích:

Đảng là người có quyền quyết định song lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn người đứng đầu cơ quan nhà nước không có quyền quyết định lại phải chịu trách nhiệm trước nhân dân theo pháp luật.

Quyền hạn và trách nhiệm tách rời nhau là điều không thể chấp nhận trong thiết chế tổ chức và nhân sự, trong lãnh đạo và quản lý nhà nước.

Ảnh: ttxvn

Cuối cùng, cơ quan nhà nước lúc đó sẽ trở thành hình thức, trách nhiệm cá nhân sẽ không được đề cao, hiệu lực và hiệu quả hoạt động sẽ giảm sút, và

toàn bộ thiết chế bộ máy nhà nước sẽ rối loạn ở

mức độ tương ứng với mức độ chỉ đạo trực tiếp làm thay của các cơ quan đảng.

Sự thiếu tôn trọng, chỉ đạo trực tiếp làm thay hoặc can thiệp của cán bộ trong cấp ủy và ủy ban nhân dân ở một số địa phương vào hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và xét xử của ngành Tòa án trong thời gian vừa qua đã cho chúng ta những bài học kinh nghiệm phản diện sâu sắc. Nếu sai phạm để sẩy ra ở cấp trung ương thì kỷ cương phép nước sẽ bị rối loạn, hậu quả sẽ là khôn lường.

Tóm lại, sau khi có đường lối đúng, Đảng tiến cử những cán bộ, cả đảng viên và không đảng viên, có đức tài, có chuyên môn nghiệp vụ cao nhất để nhân dân trực tiếp lựa chọn bầu hoặc cơ quan nhà nước xem xét bổ nhiệm vào những chức danh thuộc lĩnh vực phù hợp theo quy định của pháp luật, và họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

Nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ thì phải bị xử lý, cả về đảng, cả về nhà nước, và khi thật cần thiết thì phải thay thế họ, chứ không thể cứ để họ ở đó rồi cơ quan đảng lại chỉ đạo trực tiếp làm thay họ.

Như trên đã phân tích, nếu sự lãnh đạo của Đảng không bảo đảm nguyên tắc pháp luật là tối thượng và cơ quan đảng chỉ đạo trực tiếp làm thay các cơ quan nhà nước thì hậu quả sẽ là khôn lường.

Cũng giống như cơ chế của một thiết bị cơ học nào đó, ví dụ như bộ máy của chiếc đồng hồ chẳng hạn. Mỗi một bánh răng cưa, mỗi một loại kim chỉ giây, phút, giờ…phải làm việc theo một chức năng nhất định, không thể làm thay nhau được, nếu ta đem thay thế vị trí của chúng thì đồng hồ sẽ chỉ lung tung, thậm chí nó sẽ chết ngay lập tức.

Hoặc như cơ chế của một dàn nhạc cũng thế, chỉ có một nhạc trưởng duy nhất chỉ huy, mỗi một nhạc cụ chỉ có một nhạc công duy nhất được phân công, nếu có trục trặc gì thì phải xử lý ngay ở những khâu có vấn đề trong nội bộ dàn nhạc, kể cả việc thay nhạc trưởng, nhạc công và nhạc cụ, không thể cứ để dàn nhạc trục trặc như cũ mà lại chữa trị bằng cách bổ xung chỉ huy hay nhạc công đứng từ bên ngoài dàn nhạc được.

Khi phân tích tình hình thực hành chức năng và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta phải đứng vững trên quan điểm lịch sử cụ thể. Chúng ta đang ở trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Chúng ta cần phân tích sâu sắc những nhận thức cũ không còn phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn Việt Nam, song không phủ định sạch trơn, không phải cái gì cũng đổi mới.

  • Chỉ đổi mới cái gì không còn phù hợp với Việt nam, cái gì cản trở sự phát triển theo đường lối đổi mới của Đảng.

Có những cái phù hợp với thời chiến, phù hợp với thời kỳ non trẻ của chính quyền, thì đến nay lại cần phải được đổi mới cho phù hợp với thời bình, phù hợp với thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phù hợp với thời kỳ hợp tác và hội nhập kinh tế. Nhưng đổi mới cũng phải là một quá trình, vì đổi mới nhận thức, đổi mới thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở cũng phải có quá trình, không thể chủ quan nóng vội.

Đổi mới đúng, có nguyên tắc, có bước đi phù hợp sẽ tạo ra động lực và phát huy nguồn lực tiềm tàng vô cùng to lớn, ngược lại nó cũng có sức tàn phá ghê gớm, gây bất ổn, đổ vỡ, thậm chí chệch mục tiêu lý tưởng cách mạng. Đổi mới không phải là mục đích tự thân. Mục đích đổi mới của chúng ta là ổn định và phát triển bền vững theo đường lối của Đảng, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Song có một câu hỏi thường được đặt ra là, nếu một cơ quan nào đó của Nhà nước có sai phạm thì sao, lúc đó có giao cho cơ quan lãnh đạo của Đảng hay một cơ quan khác của Nhà nước được quyền làm thay chức năng của cơ quan đó để sửa chữa sai phạm đã xảy ra hay chúng ta cam chịu đứng nhìn?

Về nguyên tắc, cơ quan lãnh đạo của Đảng và các cơ quan của Nhà nước cũng đều là những cơ thể sống, mặc dù chúng ta mong muốn và đòi hỏi các cơ quan đó không được phạm sai lầm, vì hậu quả của nó là khôn lường, song chắc cũng khó có thể khẳng định rằng các cơ quan đó sẽ tuyệt đối không bao giờ phạm sai lầm.

Thực tiễn cuộc sống đã chứng minh rất rõ điều đó. Ông cha ta thường nói, chỉ có bào thai trong bụng mẹ và người đã qua đời nằm trong áo quan mới không phạm khuyết điểm.

Cho nên không thể giao cho cơ quan lãnh đạo của Đảng hay một cơ quan khác của Nhà nước làm thay chức năng của cơ quan có sai phạm để sửa chữa sai phạm của cơ quan đó, mà phải thực hiện đúng chức năng đã được pháp luật quy định và phải xử lý nghiêm minh, kịp thời cơ quan và cá nhân có sai phạm theo pháp luật.

Chính vì nhận thức được thực tiễn đó nên khi xây dựng bộ máy các cơ quan nhà nước, ở nước ta cũng như ở các nước khác trên thế giới, đã đặc biệt quan tâm đến cơ chế tự xử lý và phòng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra.

Những cơ chế đó đã được pháp luật quy định khá cụ thể và chúng ta có thể sửa đổi, bổ sung để không ngừng hoàn thiện từ bên trong của mỗi cơ quan, chứ không thể bổ khuyết bằng sự chỉ đạo làm thay từ bên ngoài của một cơ quan khác.

Cũng giống như việc sửa chữa đồng hồ, phải sửa chữa bộ phận hư hỏng ở bên trong, chứ không thể cứ để nguyên hư hỏng ở bên trong mà chỉ lo can thiệp từ bên ngoài, vì làm như vậy thì đồng hồ vẫn hư hỏng và không thể chạy được. Đối với dàn nhạc cũng vậy, cũng phải xử lý và hoàn thiện từ bên trong.

Phân công rành mạch

Ảnh: na.gov.vn

Hãy xem xét cơ chế pháp luật của một cơ quan nào đó, ví dụ như ngành Toà án chẳng hạn. Pháp luật quy định Toà án xét xử theo hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm.

Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật; nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Đối với những bản án có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hay tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định. Cơ chế xét sử đó đã được pháp luật quy định khá chặt chẽ. Quốc hội giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao, bầu và bãi nhiệm Chánh án toà án nhân dân tối cao.

Khi thấy có dấu hiệu sai phạm trong hoạt động của Tòa án, cơ quan chức năng của Quốc hội và Quốc hội nêu kiến nghị, yêu cầu để Tòa án tự xem xét và giải quyết theo chức năng được phân công, trưòng hợp thật cần thiết thì Quốc hội phải điều chỉnh lại cơ chế pháp luật, quy trách nhiệm cá nhân và xử lý nhân sự theo quy định của pháp luật, chứ Quốc hội cũng không chỉ đạo can thiệp vào công việc thuộc chức năng xét xử cao nhất của TANDTC.

Vụ án vi phạm luật đất đai ở Đồ Sơn vừa qua là một ví dụ cho thấy cơ chế xét xử của ngành Toà án đã được pháp luật lường trước những tình huống có thể xẩy ra: Sau khi xét xử ở cấp sơ thẩm, do có sai phạm nên dư luận nhân dân và báo chí đã phê phán gay gắt, đã có kháng cáo, kháng nghị, và vụ án đã được xét xử ở cấp phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Nếu sau này phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì vẫn còn hai van an toàn dự phòng nữa là giám đốc thẩm và tái thẩm như pháp luật đã quy định. Cơ chế pháp luật xét xử của ngành Tòa án cùng với sự giám sát của quần chúng nhân dân và các cơ quan chức năng như vậy là đã tính đến tình huống phải tự xử lý và phòng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra trong việc thực hành chức năng xét xử của ngành Toà án.

Sự phân công rành mạch giữa các cơ quan nhà nước cùng với cơ chế tự điều chỉnh của mỗi cơ quan như vậy sẽ góp phần ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực nhà nước, bảo đảm cho việc tự xử lý và phòng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra trong nội bộ từng cơ quan.

Và nếu có sai phạm xảy ra thì chúng ta phải xử lý từ bên trong, phải hoàn thiện cơ chế pháp luật, và khi cần thì phải chỉnh đốn lại đội ngũ cán bộ, kể cả người đứng đầu các cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, chứ không thể bổ khuyết bằng sự chỉ đạo can thiệp làm thay từ bên ngoài của một cơ quan khác.

Quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan nhà nước nhằm để phòng ngừa sự lạm dụng quyền lực, chuyển từ Vương quốc của một Ông Vua sang Vương quốc của Nhân Dân, từ xã hội Thần Dân sang xã hội Công Dân. Đó là tính ưu việt cực kỳ to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong việc phân công quyền lực nhà nước, là một thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại. Đối với nước ta, đây là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta đã giành được trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Tóm lại, mỗi cơ quan đảng và nhà nước phải thực hành đúng, đầy đủ và thực chất chức năng đã được pháp luật quy định, phối hợp chặt chẽ với nhau và tôn trọng chức năng của nhau. Tuân thủ chức năng chính là tuân thủ pháp luật, và cũng chính là tuân thủ nguyên tắc đảng.

Thực hành chức năng theo quy định của pháp luật phải là một nguyên tắc tối thiết trong lãnh đạo và quản lý nhà nước hàng ngày, cũng như trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

  • Nguyễn Văn An

HỌC THUYẾT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

LS. LÊ CÔNG ĐỊNH

Trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.

Học thuyết này khác với học thuyết tam quyền phân lập vốn là nền tảng của mọi thể chế pháp trị trên thế giới, là không có sự phân lập giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà chỉ có sự phân nhiệm trong nội bộ các cơ quan nhà nước để đảm nhiệm chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam. Có thể tóm lược những điểm chính của học thuyết như sau:

1. Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.


2. Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật do Quốc hội ban hành, trong đó hiến pháp và luật pháp là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng.

3. Thẩm quyền của Chính phủ được xác định trên cơ sở phân định những loại việc Chính phủ chủ động quyết định với những loại việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư trực tiếp quyết định hoặc cho ý kiến định hướng. Cũng tương tự như vậy, thẩm quyền của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định những loại việc do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân chủ động quyết định với những loại việc ban chấp hành và ban thường vụ đảng bộ quyết định hoặc cho ý kiến để hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện.

4. Hoạt động tư pháp, kể cả việc đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, do Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp căn cứ quy định của Đảng.

Vì quyền lực nhà nước tập trung và không phân lập nên Quốc hội và Tòa án chỉ là hai bộ phận của hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất, chứ không độc lập tuyệt đối như cách tổ chức chính thể ở các nước khác.

  • Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa khẳng định toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trên cơ sở xác lập vai trò đại diện mặc nhiên của Đảng đối với nhân dân nhằm thực thi và bảo vệ quyền lực đó.

Toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp tập trung vào việc bảo đảm và củng cố vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Đối với hoạt động quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương, Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đề xuất một sự phân định thẩm quyền cụ thể và tương ứng giữa chính quyền và các tổ chức Đảng cấp trung ương và địa phương.

Như vậy, có hai hệ thống cùng tồn tại để điều hành và cai trị quốc gia, đó là chính quyền và Đảng, trong đó Đảng vừa lãnh đạo, vừa trực tiếp quyết định.

Hoạt động của các cơ quan tư pháp, tức là tòa án, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng trên cơ sở quy định của Ðảng. Cấp ủy Đảng ở địa phương đảm nhiệm việc lựa chọn để giới thiệu bổ nhiệm thẩm phán cho tòa án các cấp.  Thẩm phán do vậy vừa là đảng viên vừa là công chức trong bộ máy nhà nước. Vì lẽ đó, việc xét xử của thẩm phán không chỉ dựa vào luật và các bản văn lập pháp khác, mà còn dựa vào các bản văn lập quy của Chính phủ, Bộ và Ủy ban nhân dân địa phương.

Với sự công bố minh bạch và dứt khoát nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa như đã nêu trên, vị trí và vai trò của Đảng và Nhà nước trong chính thể hiện tại được xác lập rõ ràng, giúp tránh tình trạng can thiệp hoặc chồng lấn công việc giữa hai thiết chế như từ trước đến nay.  Tuy nhiên, sự áp dụng học thuyết này cũng đặt ra những vấn đề mới đối với bản Hiến pháp hiện hành.

Thứ nhất, nếu luật pháp là sự thể chế hóa đường lối và chủ trương của Đảng, thì vai trò của các đại biểu quốc hội ngoài Đảng trong việc xây dựng luật cần phải xác định cụ thể. Về mặt pháp lý, những đại biểu ngoài Đảng không có nghĩa vụ tuân thủ đường lối và chủ trương của Đảng. Vậy để những đại biểu này hành xử quyền hạn của mình, cần phải có cơ chế giúp họ hiểu và thấm nhuần quan điểm của Đảng đến mức có thể thể chế hóa thành luật, tất nhiên không chỉ đơn thuần qua vận động, mà phải bằng con đường hiến định.

Mặt khác, do vai trò chính của các đại biểu quốc hội là đại diện nguyện vọng của nhân dân, nên vào một thời điểm nào đó và liên quan đến một vấn đề nhất định, chính sách của Đảng có thể không phản ánh được thực tiễn phát triển của xã hội,

thì các đại biểu quốc hội sẽ thể chế hóa nguyện vọng của nhân dân hay chính sách của Đảng?

Đây là tình huống cần tiên liệu cho hoạt động lập pháp tương lai.

Thứ hai, tuy vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp 1992, nhưng cần phải xác định phạm vi vấn đề nào các tổ chức Đảng trực tiếp quyết định và vấn đề nào chỉ cho ý kiến định hướng. Điều này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối và chủ trương đối với các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng, và tránh ý kiến dị nghị về mối quan hệ của Đảng và Nhà nước trong điều hành và quản lý quốc gia.

Thứ ba, nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo luật có thể gặp nhiều trở ngại khi trên thực tế sự bổ nhiệm và miễn nhiệm thẩm phán do cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp quyết định căn cứ quy định của Đảng, thay vì chỉ dựa vào Hiến pháp và luật pháp. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực cải cách tư pháp của Chính phủ vì mục tiêu hàng đầu của chương trình cải cách là bảo đảm sự độc lập của hệ thống tài phán.

Cần phải xác định phạm vi lãnh đạo của Đảng và hiến định các quy định nội bộ của Đảng để bảo đảm tôn trọng nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập. Điều này cũng sẽ giúp các thẩm phán có thể chuyên tâm trao dồi nghiệp vụ lâu dài sau khi được bổ nhiệm, thay vì chỉ tìm cách làm hài lòng một cách ngắn hạn cấp ủy và ban cán sự đảng để chuẩn bị cho lần xem xét tái bổ nhiệm kế tiếp.

Một điều quan trọng khác là nên tập trung quyết liệt vào việc loại trừ sự buôn bán và ngả giá công lý giữa các bên tranh tụng. Đừng để người dân nghèo ngay tình chỉ biết mơ những giấc mơ công lý xa xăm mỗi khi bước chân đến cổng tòa của chính nhân dân. Điều chúng ta hiện nay thiếu là

  • một công cụ hiến định giúp thanh lọc một số thẩm phán vừa bất tài vừa tham nhũng.

Cuối cùng, cần nghĩ đến khả năng tu chính Hiến pháp hiện hành để hiến định mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và Nhà nước mà Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đã xác lập, nếu không mối quan hệ đó trở nên vi hiến.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

Lập hiến hướng đến pháp quyền ở Việt Nam

Gần đây chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp như một nhu cầu cấp bách. Tôi cho rằng, nhu cầu này là có thật, nhưng thay vì sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao chúng ta không tính đến một chiến lược lâu dài hơn là hoàn thiện một Hiến pháp tích hợp được cả những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó của dân tộc, vừa phải tích hợp được những tinh hoa của nền lập hiến các nước trên thế giới…

………………………………………….

Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử nhân loại và cũng là bản Hiến pháp tồn tại lâu nhất cho đến nay trên thế giới, đấy chính là bản Hiến pháp của Mỹ năm 1787. Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng, nhiều vấn đề có thể hôm nay đúng, nhưng ngày mai chưa chắc vẫn còn đúng, vậy đâu là những giá trị trường tồn có khả năng thích ứng với đổi thay của xã hội trong bản Hiến pháp này?

Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là bản Hiến pháp này đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu: sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các cơ quan Nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ. Thiết chế này có khả năng phản biện các chính sách, buộc Nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển. (GS. TS. John Attanasio).

Cách đây không lâu tôi có dịp trao đổi với GS.TS. John Attanasio, Chủ nhiệm Khoa Luật, đến từ Đại học Dedmann của Hoa Kỳ về Hiến pháp so sánh. Chúng tôi đã cùng chia sẻ nhiều vấn đề về Hiến pháp.

Ông đã đặt một câu hỏi mà tôi cho rằng rất thú vị đó là: “Bạn thử nghĩ xem Hiến pháp Mỹ qui định cho đối tượng nào?”

Tôi biết ông đặt câu hỏi như vậy là có ý muốn chia sẻ và so sánh một điều gì đó nên tôi trả lời để lắng nghe ông giải thích: “Phải chăng cho hai chủ thể là công dân và Nhà nước?”

Ông chia sẻ: Lẽ thường là như vậy, nhưng những nhà lập hiến đất nước tôi khi xây dựng Hiến pháp cho rằng: Hiến pháp chỉ nên qui định hành vi của Nhà nước (ông nhấn mạnh).

Vì mục đích của Hiến pháp là giới hạn quyền lực của Nhà nước, tạo lập và bảo vệ xã hội dân sự (Civil Society) một cách hợp pháp, thúc đẩy tiến bộ xã hội, ngăn chặn hành vi lạm quyền từ phía Nhà nước.

Xã hội dân sự không thể tồn tại hợp pháp và phát triển được nếu quyền lực Nhà nước không bị giới hạn.

Tôi thắc mắc: Vậy Tuyên ngôn nhân quyền (The Bill of Rights) của Mỹ qui định về các quyền công dân thì qui định cho đối tượng nào?

Ông cũng trả lời ngay: Ðó cũng là cho Nhà nước. Thực chất tuyên ngôn nhân quyền chính là những qui định về trách nhiệm của Nhà nước phải đảm bảo các quyền công dân. Tuyên ngôn nhân quyền chính là kết quả sự đấu tranh của nhân dân buộc chính quyền phải thừa nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Vì một khi qui định các quyền công dân mà Nhà nước không cam kết bảo vệ và tôn trọng thì những quyền đó cũng không có ý nghĩa gì.

Thấy thú vị, tôi tiếp tục đặt câu hỏi: Vậy ông đánh giá cao điều gì nhất ở Hiến pháp Mỹ?

Ông chia sẻ: Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là

bản Hiến pháp này đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu,

  1. đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các cơ quan Nhà nước,

  2. và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ. Thiết chế này có khả năng phản biện các chính sách, buộc Nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển.

Đây chỉ là quan điểm của một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về Hiến pháp của Mỹ, nhưng những quan điểm của ông rất đáng phải suy ngẫm.

Hiến pháp bao giờ cũng là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất ở mỗi một quốc gia, khi ra đời về nguyên lý để đảm bảo tính pháp quyền, nó còn được đặt cao hơn cả Nhà nước, để nhằm giới hạn quyền lực của Nhà nước. Tất cả việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải được đặt trên cơ sở Hiến pháp. Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà quyền lực Nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp, phi chính trị, phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành. Chính xã hội dân sự đó mới là động lực phản biện đẩy Nhà nước và xã hội cùng tiến bộ.

Điều làm nên giá trị trường tồn của Hiến pháp không chỉ là những gì được qui định trong Hiến pháp, vì thực tế không có một bản Hiến pháp nào có thể qui định được cụ thể hết các điều trong đó, mà quan trọng hơn là cơ chế giải thích Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp. Cả hai cơ chế này đều phải được thực hiện bởi một thiết chế tài phán Hiến pháp độc lập, chính đó mới là công cụ hữu hiệu hiện thực hóa những điều đã qui định trong Hiến pháp.

Chừng nào các thuật ngữ trong Hiến pháp còn chưa được giải thích bởi thiết chế độc lập này, thì chừng đó các nhà chính trị sẽ giải thích theo cách có lợi cho họ, các nhà khoa học sẽ còn tranh luận không có điểm dừng, những văn bản qui phạm pháp luật vi hiến sẽ không có cơ sở rõ ràng để hủy bỏ, xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan vẫn cứ diễn ra và quan trọng hơn là quyền lợi của người dân sẽ không được bảo vệ.

Gần đây Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp như một nhu cầu cấp bách [1]. Tôi cho rằng, nhu cầu này là có thật, nhưng thay vì sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao chúng ta không tính đến một chiến lược lâu dài hơn là hoàn thiện một cách cơ bản Hiến pháp, để những thay đổi đó có khả năng giải quyết được căn bản nhiều vấn đề của đất nước – một bản Hiến pháp mà chúng ta có thể tin tưởng về tính lâu dài, tính ổn định, và tính pháp quyền của nó?

Nếu được xây dựng, Hiến pháp trong tương lai pháp luật Việt Nam sẽ phải là Hiến pháp tích hợp được cả những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó của dân tộc, vừa phải tích hợp được những tinh hoa của nền lập hiến các nước trên thế giới.

Từ bản Hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam đến nay, thì Hiến pháp năm 1946 [2] vẫn được đánh giá là có nhiều qui định tiến bộ, đặc biệt là trên phương diện tổ chức quyền lực Nhà nước hơn cả. Nhiều sửa đổi của pháp luật hiện hành cũng đang theo hướng trở về với những giá trị của Hiến pháp 1946.

Tuy nhiên nhiều tác giả khi nhận xét về bản Hiến pháp này đã quá nhấn mạnh, thậm chí tuyệt đối hóa, chỉ nhìn thấy những điểm tích cực của nó, tôi cho rằng nếu chỉ đánh giá như vậy là có phần phiến diện, lý thuyết. Vì xét trên phương diện thực tế, thì bản Hiến pháp này chưa được hiện thực hóa đầy đủ một ngày nào, lại càng khó khăn hơn khi thực tiễn lúc đó là trong hoàn cảnh chiến tranh, dân số chúng ta lúc đó chưa đông như hiện nay, và chưa kể đến tính chất quan hệ kinh tế, quốc tế lúc đó cũng khác rất nhiều so với thời điểm hiện nay.

Nhìn rộng ra thế giới, đành rằng hiến pháp nào cũng chỉ có thể qui định những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của một quốc gia, nhưng khi áp dụng nó cho những trường hợp cụ thể thì lại cần đến nhu cầu phải cụ thể hoá chúng. Khắc phục những mặt còn hạn chế của Hiến pháp hiện hành, nên xây dựng một cơ chế tài phán Hiến pháp độc lập vừa có chức năng giải thích Hiến pháp, vừa có chức năng xét xử những hành vi vi phạm Hiến pháp [3], xây dựng cơ chế giám sát bên trong giữa các cơ quan Nhà nước, bên ngoài với xã hội dân sự phù hợp.

  • Chừng nào Hiến pháp chưa được đặt lên trên Nhà nước, nhằm giới hạn quyền lực Nhà nước như đúng tinh thần của Hiến pháp năm 1946

  • , chừng nào chưa sẵn sàng cho một cơ chế giám sát Hiến pháp,

  • cơ chế giải thích Hiến pháp và tài phán Hiến pháp độc lập,

thì chừng đó theo thiển ý của tôi chưa nên đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp.

NGUYỄN MINH TUẤN
(Cộng hòa liên bang Đức)
Theo Tia Sáng

Chú thích:

[1] http://www.phapluattp.vn/news/chinh-tri/view.aspx?news_id=250285

[2] Hiến pháp năm 1946 gồm có 7 chương, 70 điều, là một bản Hiến pháp có nhiều giá trị tiến bộ ở thời điểm lúc đó. Do hoàn cảnh chiến tranh, bản Hiến pháp này chưa được Chủ tịch nước kí lệnh công bố.

[3] Liên hệ với Hiến pháp Việt Nam hiện hành, tương ứng với nhiều quyền năng cơ bản thường kèm theo về quy định của pháp luật” (ví dụ: Điều 57. Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật; Điều 62. Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật; Điều 68. Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật…). Cách qui định này thực chất là cách mở ra rồi lại đóng vào. Với cách qui định như thế, thì người dân không biết nội hàm đầy đủ của quyền đó là gì, và giới hạn của quyền đó đến đâu, rồi khi bị vi phạm thì bảo vệ bằng con đường nào? Vì theo qui định của pháp luật nói chung thì rất rộng, và khi đi tìm thì người dân không biết tìm cái gọi là “theo qui định của pháp luật” đó ở đâu.

QUETSTION:

Cái gì ngăn chặn hành vi lạm quyền từ phía Đảng???

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: