Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Xây danh dự cho dân tộc Việt – Nguyễn Lương Hải Khôi.

Posted by BEAR on Tháng Một 16, 2010

http://tuanvietnam.net/2010-01-04-xay-danh-du-cho-dan-toc-viet-

Quyền tự do cho mỗi người:

Hầu hết các nghiên cứu về lịch sử tinh thần Nhật Bản thời Minh Trị đều khẳng định rằng, bản chất của 30 năm Duy tân Minh Trị là quá trình dân tộc Nhật Bản nhìn văn minh châu Âu để tự khai sáng tinh thần cho chính mình. Họ có cả một dòng “văn học khai sáng”, ở đó các nhà văn viết hàng loạt “tiểu thuyết chính trị” để giải thích, không phải chỉ cho quốc dân mà trước hết là cho chính những người lãnh đạo đất nước, hiểu về những giá trị của con người cá nhân, về bản chất của “Tinh thần luật pháp”, về dân chủ như một “giá trị đạo đức” và “phương thức quan hệ” trong xã hội, về con đường để rèn luyện văn hóa dân chủ trong mỗi cá nhân, những lợi ích của Nhà nước khi được giáo dục và tuân thủ giá trị đạo đức đó…

Chúng ta thường chỉ nghĩ đến một Nhật Bản chỉ trong vòng 30 năm mà đuổi kịp Phương Tây về kinh tế và  kỹ thuật, nhưng chúng ta gần như không nghĩ đến một Nhật Bản khác, một Nhật Bản của “khai hóa tinh thần”, cũng chỉ trong vòng 30 năm, các lãnh chúa của họ từ chỗ là những tên chúa đất sống ăn bám vào nông dân, đã tự mình học tập kinh doanh để trở thành tư sản; người nông dân của họ từ chỗ chỉ là “tá điền” của một lãnh chúa nào đó, tiến hóa đến chỗ trở thành “quốc dân”.

Đầu thế kỷ XIX, khi các nước thực dân châu Âu bắt đầu đánh lan đến châu Á,

  • “làm thế nào để bảo vệ tự do của Nhật Bản?”

Fukuzawa Yukichi:

  • “Bảo vệ tự do của Nhật Bản thông qua bảo vệ tự do của mỗi người dân Nhật Bản”

Đọc quyển “Khuyến học” (Gakumon no Susume”), 2 tập hợp các bài diễn thuyết của Fukuzawa Yukichi, ta hiểu rõ một điều mà với đất nước ta đang là một bài học nhãn tiền. Tinh thần cốt tủy của sách này, theo như tôi hiểu, là nếu Nhật Bản bắt đầu bằng nhập khẩu phương tiện kỹ thuật và mở cửa buôn bán, và chỉ dừng lại ở đó, thì sẽ chỉ phát triển đến một mức nào đó rồi dừng lại, bởi lẽ, một dân tộc cắm rễ trong những thiết chế văn hóa và xã hội đối lập với văn minh hiện đại, không thể xây dựng được một nền văn minh hiện đại đích thực.

Cũng với cái nhìn triết học này, sau khi Nhật canh tân được 17 năm, Fukuzawa Yukichi đề xướng thuyết “Thoát Á luận“. Ông cho rằng, để hiện đại hóa thành công, Nhật Bản cần thoát khỏi hệ thống tín điều, hệ thống giáo dục, chính trị và xã hội… theo mô hình lạc hậu của Trung Quốc đương thời, tái cấu trúc thành một hệ thống mà các giá trị hiện đại có thể vận hành.”Thoát Á luận”, do đó, có thể coi là “con đường thoát khỏi Trung Quốc” của Nhật Bản thời Minh Trị. 3

Karl Marx:

  • “… Sự phát triển tự do của mỗi người là  điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người!”

Hồ Chủ tịch,sau những ngày đất nước vừa độc lập, đã nói:

  • Đất nước độc lập nhưng nếu nhân dân không tự do, hạnh phúc, thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì.

Có sự tương đồng giữa Karl Marx, Hồ Chủ tịch và Fukuzawa Yukichi, nhưng tại sao có thể nhìn thấy trong tinh thần Nhật Bản hiện đại và các nước Châu Âu tư tưởng cao đẹp của K. Marx, nhưng điều cao đẹp ấy vẫn là một cái gì xa lạ trong nền văn hoá, trong cách tư duy của đất nước chúng ta?

Câu trả lời nằm ở chỗ lịch sử cận hiện đại của chúng ta chưa từng có một công cuộc khai hóa văn minh tinh thần quyết liệt và rực rỡ như xứ họ. Chúng ta từng có một Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can năm 1908, học tập theo mô hình Khánh Ứng nghĩa thục của Fukuzawa Yukichi ở Nhật Bản, từng có một Phan Chu Trinh, nhưng tiếc thay, dù hết sức sâu sắc về tư duy nhưng tất cả đều ngắn ngủi và chưa triển khai đến tận cùng những giá trị tinh thần mà mình ấp ủ.

Trong lịch sử hiện đại, trên toàn cõi Phương Đông, trừ Nhật Bản, chưa từng có một quốc gia nào thực sự nghiêm túc tiến hành một cuộc khai hóa tinh thần đúng với bản chất của văn minh hiện đại: xây dựng và bảo vệ tự do của quốc gia thông qua xây dựng và bảo vệ tự do của mỗi công dân!

Điểm yếu của văn hóa dân tộc trước thời đại mới

Cuối thế kỷ XIX, Cao Thắng đã dùng khả năng bắt chước tuyệt vời của mình để chế tạo những khẩu súng kíp, chính xác đến mức giặc Pháp phải khâm phục. Nhưng chip điện tử của thế kỷ XXI không phải là cái có thể bắt chước. Từ điểm nhìn này, chúng ta có thể thấy được điểm yếu của văn hóa dân tộc trước thời đại mới.

Marx cho rằng “lực lượng sản xuất” không bao giờ đứng yên, vì con người luôn có “nhu cầu” phát triển, và do đó, việc cải tiến và sáng tạo trong lao động là “tất yếu”, thế nhưng, cái điều “tất yếu” kỳ diệu ấy ở Châu Âu không phải là “tất yếu” ở nước ta.

Nền tảng ấy là năng lực của tư duy lý tính hướng vào sáng tạo, những phương thức tổ chức khai phóng cho tư duy, và một môi trường xã hội lấy dân chủ làm nguyên tắc quan hệ giữa người với người. Hầu hết những phát minh và sáng tạo quan trọng trong lịch sử  hiện đại đều được cống hiến từ các dân tộc mà tính dân chủ của nền văn hóa đạt đến trình độ cao. Mối quan hệ ấy không hề ngẫu nhiên.

Tất cả những điều trên đã và đang là một cái gì xa lạ với văn hóa của chúng ta. Do đó, nền văn hóa của chúng ta cần được tái cấu trúc theo hướng tìm đường khai mở cho dân tộc “những chân trời có người bay”, nơi “những người bay” 7 luôn tìm thấy mọi loại “chân trời”.

Khai phá để phát triển trong kỷ nguyên sáng tạo

Do đó, sự chệnh lệch giữa chúng ta và bộ phận tiên phong của thế giới không chỉ là sự chênh lệch về GDP hay những thứ tương tự,

mà trước tiên là chênh lệch về thời đại.

Để hội nhập vào thời đại này, chúng ta cần một trái tim đập cùng nhịp đập với thế giới, một ý thức về sáng tạo như là danh dự và trách nhiệm của dân tộc trước nhân loại chung, và một cấu trúc mà các giá trị hiện đại có thể vận hành.

Đầu thế kỷ XX, Rabindranath Tagore, trong một lần thỉnh giảng tại Đại học Keio Gijutsu, Tokyo, đã phát biểu rằng mỗi một dân tộc trên trái đất này đều mang gánh nặng một nghĩa vụ với toàn nhân loại, đó là

nghĩa vụ cống hiến những sáng tạo của riêng mình cho tiến trình tiến hoá chung của loài người.

Danh dự của Dân tộc được tính bằng những sáng tạo

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, có lẽ Nguyễn Huy Tưởng là người đầu tiên đặt vấn đề về năng lực sáng tạo của dân tộc, trong vở bi kịch “Vũ  Như Tô” (năm 1941). Nguồn lực vật chất eo hẹp của đất nước, sự giản đơn trong tư duy của nhân dân, sự bạo ngược và ngu dốt của kẻ  cầm quyền không phải là một “chân trời” để nhà nghệ sỹ sáng tạo nên kiệt tác “Cửu trùng đài”. Thông điệp của Nguyễn Huy Tưởng thôi thúc ta suy nghĩ về cái chết của năng lực sáng tạo ở rất nhiều dân tộc trong thế giới hiện đại ngày nay, ví dụ ở một số nước châu Phi, và, quay trở lại, nhìn vào chính mình.

Năm 1831, Lý Văn Phức đi sứ Trung Quốc, đã tranh cãi kịch liệt với các trí thức Trung Quốc về việc Việt Nam là một vùng đất “man di” hay có “văn hóa”, ta có “bản sắc” hay chỉ là “mô phỏng” Trung Quốc.

hế kỷ XIX, với một trái tim… đập lạc nhịp với thế giới, cha ông ta đã thất bại khi đối đầu với làn sóng thực dân hóa. Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hóa, và sẽ ra sao? Việt Nam và Nhật Bản đang tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa với hai tâm thế khác nhau. Người Nhật đang là một trong những lực lượng kiến thiết quá trình ấy, còn Việt Nam, phải chăng chúng ta đang nhìn làn sóng khách quan này của lịch sử

bằng đôi mắt sợ hãi và tư thế phòng thủ?

“Hội nhập” trong nỗi lo “đánh mất”,

chúng ta không in hình ảnh của dân tộc mình lên diện mạo của nó, lại càng không thể làm cho nhịp sống có một không hai trong lịch sử này mang một phần hơi thở của chúng ta.

Hội nhập với thế giới có nghĩa là đi tìm cơ hội cho dân tộc mình ở phạm vi toàn cầu, thông qua việc tự mình cũng trở thành một cơ hội cho kẻ khác. Để làm được điều đó, Việt Nam không cần đến nỗi sợ hãi, mà cần một “tinh thần toàn cầu” – 

không phải là vong bản để trở thành “thế giới” –  mà là ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung.

Trong triết học cận hiện đại,

có triết học về khai sáng (Philosophies of Englightment).

Ngày nay, cùng với thời đại của sáng tạo, sự ra đời của “Triết học về Sáng tạo” sẽ là tất yếu.

Chúng ta cần du nhập triết học về khai sáng đã có, và không được bỏ lỡ dòng triết học về sáng tạo sẽ đến, hơn thế, cần góp phần định hình diện mạo của dòng triết học ấy, xóa bỏ nỗi buồn của một dân tộc chưa từng cống hiến cho nhân loại một tư duy triết học nào.


Bình loạn:

Tôi đã khá ấn tượng khi đọc bài :  Thoát Thân Luận – Giáp Văn Dương

Câu chuyện “Thoát Thân” không phải là một chủ trương gì mới mẻ ở Việt Nam. Điều tôi ấn tượng đó là sự chỉ mặt gọi tên “again-and-again” về thực trạng VN trong bài viết, và một cách định danh cho quá trình “vượt lên bản thân mình, thoát khỏi những thang giá trị, những tư tưởng lạc hậu đang nằm trong chính bản thân mình” : THOÁT THÂN.

Từ này, như một cô bạn tôi nhận xét là một từ gượng ép. Song đối với tôi, khi gắn liền nó với từ THOÁT Á, THOÁT THÂN là một tên gọi có giá trị: THOÁT THÂN để THOÁT THÂN phận nghèo, hèn của dân tộc. Tôi luôn cho rằng một con người nói riêng và một dân tộc , một quốc gia nói chung , ĐỊNH VỊ BẢN THÂN trong xã hội và thế giới chính bằng nỗ lực của bản thân, bằng sự luôn tìm cách vượt lên những giới hạn và thói xấu của  bản thân mình, để khẳng định mình.

Trong thực trạng và điều kiện của VN: (chỉ có thể “thấy” thông qua sự nhìn nhận nghiêm túc, không “mẹ hát con khen hay”, không hình thức, không “nhìn xuống để so sánh”, không “nói tránh, nói giảm”, dám nhìn thẳng vào thực tiễn, không gọi bệnh trầm kha là hiện tượng ….v.v)

Và tính cách và văn hóa VN: ( có thể thấy khi đọc các bài viết của Vương Trí Nhàn, cuốn  Người TQ xấu xí của Bá Dương, cuốn Người Việt phẩm chất và thói hư tật xấu, …và có thể rất đơn giản là nhìn vào chính xác con người của mỗi chúng ta, cách chúng ta sống, cư xử…, nhìn vào lich sử VN

, có lẽ rất nhiều người đã chung cảm xúc như tôi khi đọc bài viết “THOÁT THÂN LUẬN”.

Nhưng khi đọc bài thứ 2 của TS Giáp Văn Dương, “Thoát thân” theo chiều thẳng đứng, bài viết để trao đổi với ý kiến “Thoát Á mới có thể thoát thân” của TS. Phạm Gia Minh, thì tôi lại cảm thấy không hài lòng. Tôi vẫn quan niệm rằng, THOÁT THÂN chính là vấn đề của VN. Song tôi cũng nhìn thấy rằng, THOÁT Á chính là một phương cách để THOÁT THÂN. Cách thức này đã được NHẬT BẢN thực hiện thành công từ  hơn 100  năm trước. Và sử dụng tuyên ngôn này, đi theo con đường này, để “KHAI SÁNG”  triết học  khai sáng cho người dân và nhà cầm quyền VN, vẫn còn nguyên giá trị!  THOÁT Á là một cách thức THOÁT THÂN có hiệu quả. Và tôi tin chắc là  sẽ có nhiều thêm trí thức VN đi trên con đường này và dẫn đầu cả dân tộc trong quá trình ĐI TÌM DANH DỰ CHO DÂN TỘC VIỆT.

Có thể thấy tư tưởng của Giáp Văn Dương đã đi lùi so với bài viết này, TS Giáp Văn Dương lại sa vào cái hố mà bao người Việt đã tự đào ra để cản mình trên hành trình THOÁT THÂN: Hội nhập” trong nỗi lo “đánh mất”…

Quy chiếu nỗi lo sợ này vào quá trình nhận thức và Thoát Thân của một cá nhân,  tôi thực sự cảm nhận sâu sắc hơn về chữ DŨNG, một nét được coi là  tính cách của người Nhật, và phải chăng chính tính cách đó đã làm nên một sự THOÁT THÂN THẦN KỲ?  Người Việt Nam có DŨNG KHÍ chăng? Để không sợ sai lầm, không sợ đánh mất, không sợ mạo hiểm, để trước hết là tiếp nhận tri thức và tư tưởng tiến bộ của thời đại, để đánh tan mọi thói hư, tật xấu của con người , của dân tộc, của cơ chế , để sáng tạo, để ĐỊNH VỊ VN trên thế giới, để mỗi người Việt có thể tự hào là người Việt, là con Lạc cháu Hồng, để người Việt khắp nơi trên thế giới luôn  đứng thẳng, ngẩng cao đầu, chính danh, chính trực không sống luồn cúi, nham nhở, chụp giật, “túng làm liếu”! …

Như nhiều người đã viết, MONG LẮM THAY…


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: