Welcome to BEAR’s BLOG!!!

“Cả tư duy và mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp”

Posted by BEAR on Tháng Hai 14, 2010

“Cả tư duy và mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp”

Vào thời điểm khép lại một năm đầy khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá nhìn lại những mảng sáng tối và triển vọng của nền kinh tế trong năm 2010, với những đánh giá đa chiều của một người đã từng nhiều năm tham gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô.

“Không có thành công nào mà không phải trả giá”

Thưa ông, đã có một số ý kiến nhìn nhận lạc quan về sức tăng trưởng của năm 2009, tuy nhiên, triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2010 sẽ cùng gam màu sáng?

Kinh tế Việt Nam năm 2009 không rơi vào suy thoái, chỉ bị suy giảm, đang phục hồi, ngăn chặn được nguy cơ phá sản nhiều doanh nghiệp; không xảy ra tình trạng tăng tỷ lệ thất nghiệp đô thị; xuất khẩu dù giảm khá mạnh nhưng vẫn duy trì được thị phần ở các thị trường chính; kiểm soát được lạm phát ở mức 6,88% đạt mục tiêu đề ra… là những kết quả đáng mừng.

Tuy nhiên, không có thành công nào mà không phải trả giá. Và cũng như kinh tế thế giới, sự phục hồi của kinh tế Việt Nam diễn ra không đồng đều, chưa vững chắc, tạo nên bức tranh sáng tối lẫn lộn.

Người nghiêng về phía các gam màu sáng, nhất là nhìn về số lượng thì đánh giá chúng ta đã phục hồi nhanh, thậm chí rất nhanh và dự báo sắp tới khá sáng sủa. Người nghiêng về các gam màu tối, và nhất là đào sâu vào mặt chất lượng tăng trưởng, vào các khó khăn đang tiềm ẩn dễ dẫn tới nhận định sự phục hồi kinh tế nước ta dè dặt hơn. Tôi thuộc nhóm người này.

Như vậy, những khó khăn ngắn hạn năm 2010 phải gánh chịu là gì, theo ông?

Một trong những nội dung quan trọng của quan niệm “phát triển bền vững” là phát triển của năm trước, thời kỳ trước phải tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của năm kế tiếp, thời kỳ kế tiếp.

Kết quả đạt được của năm 2009 cho thấy chưa tạo điều kiện tốt hơn cho phát triển trong năm 2010, năm cuối cùng của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2006-2010 và cũng là năm cuối cùng của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001-2010.

Những khó khăn mà năm 2010 và một số năm tiếp theo phải vượt qua có nhiều, bao gồm cả các vấn đề ngắn hạn và cả những vấn đề cơ bản, dài hạn. Ở đây xin nêu đôi điều trước mắt. Có mấy vấn đề có thể gây bất ổn nhất đối với kinh tế vĩ mô cho năm tới, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh, nổi bật là vấn đề tỷ giá hối đoái và lạm phát.

Xuất khẩu năm 2009 giảm nhiều so với năm 2008; năm 2010 dự kiến kim ngạch xuất khẩu tăng 6% so năm 2009, nhưng vẫn chưa đạt mức năm 2008 (62,7 tỷ USD năm 2008 so với 60 tỷ USD dự kiến cho năm 2010), ảnh hưởng đến nguồn thu ngoại tệ và gây khó khăn cho cán cân thanh toán quốc tế.

Lần đầu tiên trong nhiều năm, cán cân tổng thể năm 2009 và dự báo cho cả năm 2010, tuy chưa vượt quá tầm kiểm soát, đã bị thâm hụt. Hậu quả là khó khăn trong ổn định tỷ giá hối đoái.

Tuy chỉ số giá thị trường hiện đang còn ở mức thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trong năm 2010 do nhiều nguyên nhân.

  • Thứ nhất, tiền tệ, tín dụng năm 2009 tăng trưởng cao. Tín dụng cả năm 2009 ước tăng gần 38% so với cuối năm 2008, trong khi GDP tăng 5,32%. Như vậy, tỷ lệ giữa nhịp tăng tín dụng và nhịp tăng GDP lên đến 7 là con số khá cao.


  • Thứ hai, tăng chi tiêu của nhà nước, bao gồm cả tăng đầu tư kinh tế, xã hội; tăng lương cơ bản cho bộ máy công quyền, người về hưu… lên 12,3%, áp dụng từ 1/5/2010, cho dù dự kiến bội chi ngân sách Nhà nước có thấp hơn 2009 (6,9% GDP), nhưng vẫn còn khá cao (6,2% GDP).


  • Thứ ba, đặc biệt, xu hướng phục hồi kinh tế thế giới dẫn đến tăng giá nhiều nguyên liệu, nhiên liệu quan trọng.


Với tư cách là nước nhập siêu thì đây là vấn đề rất lớn. Ngoài ra, sự phục hồi vẫn đang phải dựa vào các yếu tố “ăn nhanh” tức là những yếu tố khai thác theo chiều rộng, càng khoét sâu vào những mặt yếu cơ bản của nền kinh tế.

Môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng, tuy vài năm qua đã làm nhiều việc, nhưng chưa chặn đứng được, là cản trở tăng trưởng bền vững không những trong dài hạn mà cả ngắn hạn.

Các vấn đề trên đây là những khó khăn tiềm ẩn, nhưng thực tế diễn biến thế nào còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng nhất là điều hành vĩ mô.

Bên ngoài không khủng hoảng, bên trong liệu có khó khăn?

Bất ổn kinh tế vĩ mô và suy giảm kinh tế trong thời gian qua chủ yếu là do nguyên nhân từ bên ngoài, khi kinh tế thế giới suy thoái, kinh tế Việt Nam cũng không thể tránh khỏi vòng xoáy, ông có bình luận gì về ý kiến này?

Ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta là rõ ràng và không thể phủ nhận. Nhưng, nhấn mạnh đến mức dường như chỉ do nguyên nhân bên ngoài, không nhận biết đầy đủ, đúng mức nguyên nhân nội tại và nhất là không thấy hết những mặt yếu cơ bản đang kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam là không phù hợp với thực tế, khó tìm ra các giải pháp đẩy nhanh phục hồi kinh tế của chúng ta.

Một câu hỏi đã được đặt ra mười năm trước, khi nổ ra khủng hoảng kinh tế, tài chính châu Á, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa, đó là giả sử không có khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế nước ta có rơi vào tình trạng khó khăn không?

Câu trả lời chắc chắn là có.

Một ví dụ dễ nhận thấy để chứng minh cho nhận định đó, là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra từ quý 3/2008, trong khi từ năm 2007 đến trước quý 3/2008, trong nền kinh tế của chúng ta đã xuất hiện không ít khó khăn (lạm phát cao, nhập siêu lớn…).

Như vậy rõ ràng là nguyên nhân suy giảm kinh tế của Việt Nam, như trên đã nói, không chỉ đến từ bên ngoài, mà quan trọng nhất là do những nguyên nhân nội tại. Tác động từ bên ngoài chỉ làm bộc lộ sớm và gây trầm trọng thêm những điểm yếu cơ bản của nền kinh tế nước ta. Những yếu kém cơ bản đó nằm ngay trong cả cơ cấu lẫn cơ chế của kinh tế Việt Nam.

Những biểu hiện chính là:

  • GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao, công nghệ chậm đổi mới, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu chưa thoát khỏi lạc hậu, thị trường trong nước kém phát triển, kinh tế vĩ mô còn nhiều yếu tố bấp bênh, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng, lành mạnh…

Điều này cắt nghĩa tại sao kinh tế nước ta chưa thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao ngay sau khi kinh tế phục hồi.

“Cần đưa ra sớm chương trình tái cấu trúc kinh tế”

Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2010 là 6,5%, con số này có khả thi không thưa ông?

Năm 2010 vẫn còn không ít khó khăn như đã nêu. Con số 6,5% là khả thi nếu khắc phục tốt những khó khăn trước mắt và nhanh chóng triển khai chương trình tái cấu trúc kinh tế nhằm khắc phục những mặt yếu cơ bản trên đây của nền kinh tế. Vấn đề này đã trở nên bức bách. Đây là vấn đề lâu dài nhưng phải làm từ bây giờ.

Phải xem đây là nhiệm vụ số một của cả nước nếu muốn phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo. Khắc phục những yếu kém này không phải chỉ là trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô mà quan trọng nhất là trách nhiệm của từng doanh nghiệp. Coi đây là tiềm năng to lớn, là dư địa để tăng trưởng và phát triển của cả nước, của từng doanh nghiệp trong thời gian tới.

Vốn ODA cam kết cho năm 2010 lên đến 8 tỷ USD, bên cạnh niềm vui về con số kỷ lục này, theo ông, có điểm nào đáng lo ngại về sức hấp thụ của nền kinh tế hiện nay?

Đạt được con số 8 tỷ USD là một tín hiệu vui. Những nước nghèo đi lên, muốn phát triển nhanh, bên cạnh tiết kiệm nội địa để tăng vốn đầu tư và đầu tư có hiệu quả, phải vay mượn từ bên ngoài, cả vay ODA và vay thương mại.

Nhưng vấn đề đặt ra là sử dụng tiền vay, cả vay trong nước và vay nước ngoài, thế nào cho có hiệu quả, phát triển được kinh tế, xã hội, trả được nợ. Điều đáng quan tâm là trên thế giới số nước “vì vay nợ mà nghèo đi” nhiều hơn nhiều so với các nước “nhờ vay nợ mà giàu lên”. Đương nhiên chúng ta mong muốn ghi tên mình vào nhóm nước thứ hai, nhưng giữa muốn và làm đang còn độ cách.

Phải nhanh chóng khắc phục những khó khăn, ách tắc trong hấp thụ vốn vay. Một trong những yếu kém nổi bật hiện nay là tình trạng giải ngân quá chậm, cả vốn trái phiếu Chính phủ và vốn ODA. Càng giải ngân chậm bao nhiêu thì hiệu quả và những “ưu đãi” của vốn ODA càng giảm bấy nhiêu.

Ví dụ, ODA thường ân hạn 10 năm mà 9 năm mới giải ngân thì ân hạn chỉ còn 1 năm. Không ít trường hợp do sử dụng vốn ODA kém hiệu quả thì ưu đãi bằng lãi suất rất thấp bị triệt tiêu, thậm chí còn kém hơn cả vay thương mại với lãi suất cao, thời hạn trả nợ ngắn… Vốn trái phiếu Chính phủ cũng đang có tình hình tương tự.

Gói giải pháp kích thích kinh tế của năm 2008 và 2009 đã có hiệu quả nhất định, theo ông, có nên tiếp tục sử dụng những giải pháp tương tự cho năm 2010?

Cần đánh giá đúng tác động thực sự của gói kích thích kinh tế áp dụng trong thời gian qua, cả mặt tích cực và hệ lụy để có đối sách tiếp theo.

Tôi cho rằng, việc không tiếp tục thực hiện gói hỗ trợ lãi suất 4% là đúng và cần thiết bởi lẽ tác dụng thực sự của chính sách này không quá cao như mong đợi, nhưng lại để lại những kết quả không mong đợi: “hỗ trợ người khỏe, chưa giúp được cho người yếu”; không kiểm soát được vòng quay vốn ngắn hạn; nguy cơ chảy vốn vào kênh không khuyến khích đầu tư; áp lực tái lạm phát; làm méo mó tín hiệu thị trường khi lãi suất cho vay VND và USD gần như bằng nhau; tái lập lại chế độ “hai giá”…

Các chính sách cho đến nay vẫn chủ yếu đẩy mạnh đầu tư, bao gồm cả các chính sách về bù lãi suất cho vay trung hạn. Các giải pháp này có thể là cần thiết nhưng phải xem đây là giải pháp tạm thời. Tăng vốn đầu tư mà không đi kèm với các với các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư thì càng khoét sâu vào những yếu kém của nền kinh tế, để lại gánh năng cho thời kỳ tiếp theo.

Vì vậy, cần đưa ra sớm chương trình tái cấu trúc kinh tế. Đến bây giờ mới nói đến cấu trúc nền kinh tế là chậm, lỡ thời cơ. “Biến họa thành phúc” đã nói khá sớm, mà nay mới khởi động là muộn. Cần tiến hành ngay cấu trúc lại nền kinh tế cả cơ cấu lẫn cơ chế, cả vĩ mô lẫn vi mô.

Nội dung của tái cấu trúc phải bao gồm tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản phẩm ngành nghề, sắp xếp và cấu trúc lại doanh nghiệp Nhà nước.

Hiện nay phải thấy là cả tư duy tăng trưởng và mô hình tăng trưởng đã không còn phù hợp. Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số, và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa. Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.

Kích thích kinh tế là tăng cường đầu tư. Vậy có tiếp tục đầu tư theo cách cũ để rồi lại gây thêm khó khăn cho nền kinh tế trong tương lai không xa, nếu để các sai lầm này vượt qua một giới hạn nào đó, sẽ xảy ra tình trạng có tăng trưởng mà không có phát triển? Phân công, phân cấp trong quản lý là cần thiết, nhưng thiếu sự chuẩn bị sẽ gây lãng phí; manh mún không kiểm soát được…

Ngay một loạt cơ chế tưởng chừng như dễ làm, làm nhanh được, mang lại hiệu quả thiết thực, ví dụ, cải cách hành chính và bắt đầu từ cải cách thủ tục hành chính, thế mà 15 năm rồi vẫn chưa có chuyển biến đáng kể, cắt bớt thủ tục chậm hơn mọc ra thủ tục mới!

Vì vậy cắt tối thiểu 30% thủ tục hành chính trong năm 2010 là rất cần thiết, phải làm cương quyết. Nhưng, còn cần hơn nữa là đừng để “mọc” thêm một cách nhanh chóng các thủ tục mới.

Yang Yao – Kết thúc sự đồng thuận Bắc Kinh – Liệu mô hình tăng trưởng độc tài của Bắc Kinh có tiếp tục tồn tại?

Lê Ngọc Tú dịch

Tóm tắt: Những nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng của Bắc Kinh đang xâm phạm đến các quyền lợi về kinh tế và chính trị của người dân. Để tồn tại, chính phủ Trung Quốc sẽ phải bắt đầu cho phép công dân bình thường tham gia vào tiến trình chính trị.

YANG YAO là Phó Trưởng khoa Trường Phát triển Quốc gia và là Giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh.

Kể từ khi Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế vào năm 1978, nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển với tốc độ gần mười phần trăm một năm, và GDP bình quân đầu người hiện nay lớn hơn mười hai lần so với ba thập kỷ trước. Nhiều nhà phân tích cho rằng sự thành công kinh tế của đất nước này là do phương pháp độc đáo trong chính sách kinh tế – một sự kết hợp của quyền sở hữu hỗn hợp, quyền sở hữu cơ bản, và sự can thiệp sâu của chính phủ. Cựu biên tập khu vực nước ngoài của tạp chí Time, Joshua Cooper Ramo, thậm chí đã đặt cho nó một cái tên: sự đồng thuận Bắc Kinh.

Tuy nhiên, trên thực tế, trong 30 năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đã chuyển dịch một cách hiển nhiên theo học thuyết thị trường của kinh tế học tân cổ điển, với sự nhấn mạnh đến chính sách tài khóa thận trọng, sự cởi mở kinh tế, tư nhân hoá, tự do hóa thị trường, bảo vệ tài sản tư nhân. Bắc Kinh đã rất thận trọng trong việc duy trì ngân sách cân bằng và kiềm giữ lạm phát. Các chương trình chỉ tái phân phối được giữ ở mức tối thiểu, và sự chuyển khoản cho chính quyền trung ương hạn chế chủ yếu vào chi tiêu hạ tầng cơ sở. Gánh nặng thuế tổng thể (đo bằng tỷ lệ doanh thu thuế so với GDP) nằm trong khoảng 20-25 phần trăm. Quốc gia này là nước nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đứng thứ hai trên thế giới, và trong nước thì tới hơn 80 phần trăm các công ty quốc doanh đã chuyển sang tay tư nhân hoặc chuyển đổi thành các công ty niêm yết giá công khai.[1] Vì Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thiếu tính hợp pháp theo nghĩa dân chủ cổ điển, nó buộc phải tìm kiếm tính hợp pháp dựa trên tính hiệu quả, bằng cách liên tục cải thiện đời sống của người dân Trung Quốc. Cho đến nay, chiến lược này đã thành công, nhưng có những dấu hiệu cho thấy nó sẽ không bền, vì sự bất bình đẳng thu nhập ngày càng gia tăng và sự mất cân bằng trong và ngoài do chiến lược này tạo ra.

Các chính sách  thị trường tự do của ĐCSTQ, như người ta dự đoán, đã dẫn đến chênh lệch thu nhập lớn tại Trung Quốc. Hệ số Gini[2] tổng thể – một cách đo lường sự bất bình đẳng về kinh tế, trong đó số không có ý nghĩa là sự bình đẳng hoàn hảo và số một là sự bất bình đẳng tuyệt đối – của Trung Quốc lên tới 0,47 trong năm 2008, cùng mức với Hoa Kỳ. Điều đáng lo ngại hơn nữa là cư dân thành phố Trung Quốc đang kiếm được gấp ba lần rưỡi so với đồng bào của họ ở nông thôn; đây là cách biệt thu nhập đô thị-nông thôn cao nhất trên thế giới.

Vậy thì làm thế nào mà chính phủ Trung Quốc có thể áp dụng các nguyên tắc kinh tế học tân cổ điển trong khi vẫn tuyên bố rằng chủ nghĩa Mác là hệ tư tưởng của mình? Câu trả lời là Trung Quốc đã có ba thập kỷ được cai trị bởi một chính phủ vô tư (disinterested government)- một hệ thống cai trị tách ra, không thành kiến , giữ lập trường trung lập khi phát sinh các xung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội và chính trị khác nhau. Điều này không có nghĩa là Bắc Kinh không có quyền lợi của mình. Ngược lại, nhà nước thường trấn áp người dân, nhưng sự trấn áp đó ở hình thức “mù loà về căn cước” (identity-blind) theo nghĩa Bắc Kinh nói chung không quan tâm đến vị thế xã hội và chính trị của những nạn nhân bị chọn – không giống nhiều nước khác nơi chính phủ hành động để bảo vệ và làm phong phú các nhóm chính trị xã hội đặc thù. Kết quả là, chính phủ Trung Quốc có nhiều khả năng hơn so với các chế độ độc tài khác trong việc thông qua chính sách nâng cao tăng trưởng.

Trong 30 năm qua, ĐCSTQ chủ định áp dụng chính sách ưu đãi các nhóm hoặc khu vực cụ thể  để thúc đẩy cải cách và tăng trưởng kinh tế. Việc chính phủ ĐCSTQ vô tư (disinterested) không chịu gắn bó với một nhóm hoặc khu vực nhất định nào đó có giúp mang lại thuận lợi [cho việc áp dụng những chính sách này]. Sự hòa nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới là một ví dụ. Vào cuối những năm 1970, Hoa Kỳ muốn kéo Trung Quốc về  phe của mình như vật đệm chống lại quyền bá chủ của Liên Xô, và Trung Quốc nhanh chóng nắm lấy cơ hội đó. Nhưng việc sớm thông qua chính sách “mở cửa” đó làm gia tăng sự đối kháng trong nước: các đặc khu kinh tế, như Thâm Quyến, được hưởng nhiều ưu đãi, khiến các khu vực khác của đất nước ghen tị. Hơn nữa, mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của ĐCSTQ buộc Bắc Kinh đi theo một chiến lược phát triển không cân bằng, nó khuyến khích tăng trưởng cho vùng bờ biển phía đông của đất nước trong khi bỏ qua vùng nội địa; ngày nay, gần 90 phần trăm hàng xuất khẩu của Trung Quốc vẫn còn đến từ chín tỉnh ven biển.

Việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001 cũng là một bước đi có tính toán. Trước khi gia nhập, nhiều người tin rằng Trung Quốc sẽ phải chịu đựng các chính sách điều chỉnh cơ cấu khó nhọc trong nhiều lĩnh vực để có thể gia nhập WTO. Mặc dù vậy, chính phủ trung ương trên thực tế đã tăng cường đàm phán với các thành viên của tổ chức. Bất chấp những gánh nặng đặt ra cho nông nghiệp và khu vực bán lẻ, việc gia nhập WTO đã thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc, cho thấy rằng thật sai lầm khi lo lắng về ảnh hưởng của việc gia nhập WTO. Giữa năm 2002 và 2007, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc hàng năm là 29 phần trăm, gấp đôi tỷ lệ trung bình trong thập niên 1990.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng vô cùng to lớn của Trung Quốc đã đặt nó vào một tình trạng bấp bênh. Các quốc gia đang phát triển khác đang mắc kẹt vào cái gọi là bẫy thu nhập trung bình – một tình huống thường phát sinh khi một đất nước GDP bình quân đầu người đạt mức từ $3,000 đến $8,000, nền kinh tế ngừng phát triển, sự bất bình đẳng thu nhập gia tăng, và nhiều xung đột xã hội bùng phát. Trung Quốc đã tiến vào phạm vi này, và những dấu hiệu cảnh báo của cái bẫy đã lù lù hiện ra.

Trong vài năm qua, sự tham gia của chính phủ vào kinh tế đã tăng lên – đáng chú ý nhất là kế hoạch kích thích kinh tế bốn-nghìn tỷ nhân dân tệ (586 tỷ đô la Mỹ) hiện nay. Vốn đầu tư của chính phủ đã giúp Trung Quốc đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP gần chín phần trăm trong năm 2009, được nhiều người ca ngợi; nhưng về lâu dài, nó có thể bóp nghẹt nền kinh tế Trung Quốc bằng việc giảm tính hiệu quả và đẩy khu vực đầu tư tư nhân [vốn] sôi động hơn ra rìa.

Nền kinh tế hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào cầu bên ngoài, gây ra xung đột giữa các đối tác thương mại lớn. Tài khoản tiết kiệm 52% của GDP, và mức tiêu dùng đã giảm xuống mức thấp trong lịch sử. Trong khi các chính phủ trong hầu hết các nền dân chủ tiên tiến chi tiêu chưa tới 8% tổng thu nhập của chính phủ về vốn đầu tư, con số này là gần 50 phần trăm ở Trung Quốc. Và thu nhập của người dân như một phần thu nhập quốc gia đang giảm, khiến cho công dân trung bình cảm thấy nghèo hơn khi nền kinh tế mở rộng. Thu nhập của người dân Trung Quốc càng tăng, thì họ càng không chỉ đòi hỏi lợi ích kinh tế, do đó ĐCSTQ sẽ ngày càng khó kiềm chế hoặc ngăn cản bất mãn xã hội  bằng cách chỉ dùng liều thuốc tăng trưởng kinh tế.

Mặc dù có quyền lực tuyệt đối và đạt được thành tích gần đây về tốc độ tăng trưởng kinh tế, ĐCSTQ vẫn phải đối mặt với sự đối kháng định kỳ của công dân. Sự kiện Thiên An Môn ngày 05 tháng 4 năm 1976, là hoạt động dân chủ tự phát đầu tiên tại Trung Quốc trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; phong trào ngày 04 tháng 6 năm 1989, và nhiều cuộc biểu tình sau đó đã chứng minh rằng nhân dân Trung Quốc khá sẵn sàng chống đối có tổ chức khi nhu cầu của họ không được nhà nước đáp ứng. Giám sát của quốc tế đối với công việc nội bộ của Trung Quốc cũng đóng một vai trò quan trọng; Hiện nay, khi đã nổi lên như một thế lực toàn cầu to lớn, Trung Quốc bỗng nhiên quan tâm tới tính chính đáng của nó trên trường quốc tế.

Chính phủ Trung Quốc nói chung cố gắng để quản lý sự bất mãn phổ biến như vậy bằng nhiều “liều thuốc giảm đau” khác nhau, bao gồm các chương trình nhanh chóng giải quyết những dấu hiệu ban đầu của tình trạng bất ổn trong nhân dân, như các trung tâm việc làm cho công nhân thất nghiệp, các chương trình di dân nhằm giảm chênh lệch vùng miền, và gần đây là “phong trào nông thôn mới” để cải thiện cơ sở hạ tầng, chăm sóc y tế, và giáo dục ở các vùng nông thôn.

Tuy nhiên, những biện pháp trên có lẽ là quá yếu kém để ngăn cản sự nổi lên của các nhóm lợi ích đầy quyền lực, tìm cách gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính phủ. Mặc dù các doanh nghiệp tư nhân từ lâu đã nhận ra tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng chính phủ để có lợi nhuận lớn hơn, họ không phải là ngoại lệ. Bản thân chính quyền, bè lũ thân hữu của nó và các doanh nghiệp quốc doanh đang nhanh chóng hình thành các nhóm lợi ích mạnh mẽ và độc quyền.Theo một cách nào đó, chính quyền địa phương ở Trung Quốc hành xử giống như các tập đoàn lớn: không giống như ở các nền dân chủ tiên tiến, nơi một trong những nhiệm vụ chính của chính phủ là phân phối lại thu nhập để cải thiện phúc lợi trung bình của công dân, chính quyền địa phương ở Trung Quốc chỉ theo đuổi lợi ích kinh tế.

Quan trọng hơn, những nỗ lực hiện thời của Bắc Kinh nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP chắc chắn sẽ dẫn đến vi phạm quyền  kinh tế và chính trị của người dân. Ví dụ, việc thu hồi đất tùy tiện vẫn phổ biến ở một số thành phố, chính phủ giám sát Internet chặt chẽ, các công đoàn lao động bị đàn áp, công nhân phải lao động nhiều giờ và trong điều kiện không an toàn. Công dân Trung Quốc sẽ không giữ im lặng khi đối mặt với các hành vi vi phạm nữa, và sự bất mãn của họ chắc chắn sẽ dẫn đến kháng cự định kỳ. Không lâu nữa, một số hình thức chuyển tiếp chính trị rõ ràng, cho phép công dân bình thường tham gia vào tiến trình chính trị, sẽ là cần thiết.

Những cải cách thực hiện trong vòng 30 năm qua phần lớn nhằm đối phó với những khủng hoảng sắp xảy ra. Sự kháng cự của người dân và sự mất cân bằng kinh tế đang dẫn Trung Quốc đến một cuộc khủng hoảng lớn khác. Các nhóm lợi ích mạnh và có đặc quyền cùng các chính quyền địa phương bị thương mại hóa, đang ngăn chặn sự phân phối công bằng các lợi ích của tăng trưởng kinh tế trong xã hội, và do đó, vô hiệu hoá chiến lược của ĐCSTQ trong việc dùng tăng trưởng kinh tế để giành sự đồng thuận của người dân cho quyền cai trị tuyệt đối của đảng này.

Tại các nền dân chủ tiên tiến, một tiến trình chính trị mở và bao gồm mọi nhóm nói chung [có tác dụng] kiểm soát sức mạnh của các nhóm lợi ích, chẳng hạn như Hoa Kỳ. Thật vậy, đây chính xác là sự ủy quyền cho một chính phủ vô tư (disinterested) – để cân bằng đòi hỏi của các nhóm xã hội khác nhau. Một chính phủ Trung Quốc cởi mở hơn vẫn có thể vô tư (disinterested) nếu những thể chế dân chủ đúng đắn được áp dụng để kiểm soát những nhóm quyền lực mạnh nhất.

Nhưng rốt cuộc thì không thể có chọn lựa nào khác hơn là phải dân chủ hóa nhiều hơn nếu ĐCSTQ mong muốn khuyến khích tăng trưởng kinh tế và duy trì sự ổn định xã hội.

Nguồn: http://www.foreignaffairs.com/articles/65947/the-end-of-the-beijing-consensus

Bản tiếng Việt © 2010 Lê Ngọc Tú

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Công ty niêm yết giá công khai (publicly listed company): Là một công ty đã phát hành cổ phần công khai (và do đó có quyền sở hữu công cộng) và được niêm yết trên thị trường chứng khoán.

[2] Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế.

Hệ số Gini thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: