Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Việt Nam -“Trung Quốc cộng một” gặp khó khăn: vấn đề nguồn nhân lực?

Posted by BEAR on Tháng Năm 7, 2010

Vấn đề lao động Việt Nam

Oxford Analytica, 03.15.10, 06:00 EDT

Chi phí lao động tăng cùng những căng thẳng với Trung Quốc đã khiến các công ty tìm kiếm lao động ở Việt Nam, nhưng Hà Nội mang trong mình những vấn đề nghiêm trọng.

Việt Nam được xem như một lựa chọn khả thi thay cho Trung Quốc đối với các công ty nước ngoài (đặc biệt là Mỹ) đang tìm cách thiết lập hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất chi phí thấp.

Điều này là do sự gia tăng chi phí lao động tại Trung Quốc; sự tăng thuế của Trung Quốc đối với các doanh nghiệp nước ngoài; những khó khăn trong môi trường kinh doanh tại Trung Quốc; và nhận thức của một số công ty Mỹ rằng rủi ro về mặt chính trị của việc kinh doanh tại Trung Quốc có thể tăng lên do sự gia tăng căng thẳng thương mại Mỹ – Trung.

Tuy nhiên, về lâu dài, các công ty nước ngoài tìm cách mở rộng hoạt động tại Việt Nam có thể phát hiện ra rằng lực lượng lao động Việt thiếu các kỹ năng quan trọng, do những vấn đề trong hệ thống giáo dục.

Sự gia tăng dân số ở độ tuổi lao động

Lực lượng lao động ở Việt Nam (được định nghĩa là những người có độ tuổi từ 23-65) dự kiến sẽ tăng vọt từ 23 triệu đến 65 triệu trong vòng 20 năm tới. Điều này sẽ giúp [Việt Nam] trở thành một nước thay thế Trung Quốc trong vai trò một trung tâm sản xuất – nếu Hà Nội có thể hạn chế nạn tham nhũng và sự yếu kém lan tràn khắp các trường tiểu học và trung học. Giáo dục đại học ở Việt Nam cũng có vấn đề, đặc biệt là ở chất lượng giảng dạy khoa học và kỹ thuật.

Sự thiếu kỹ năng

Một cuộc khảo sát gần đây về người tuyển dụng lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho thấy chỉ 40% lực lượng lao động có đào tạo ở mọi loại hình. Đa số người được hỏi đã từng trải qua khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên có kỹ năng để phù hợp với nhu cầu của họ. Trong số các công nhân ở độ tuổi 20 của họ, có gần 80% không được đào tạo nghề chính thức trước khi tham gia lực lượng lao động.

Sự thiếu sót của hệ thống giáo dục

Khoảng 40% dân số của Việt Nam là ở độ tuổi đến trường hoặc trẻ tuổi (dưới 23). Hiện nay, các vấn đề của hệ thống học đường là cấp bách:

– Thời gian lên lớp không thỏa đáng

Một phân tích gần đây của nhóm nghiên cứu Anh,  Young Lives, một [nhóm] nghiên cứu Quốc tế về Trẻ em nghèo, đã nêu bật một thực tế là  một năm học của Việt Nam chỉ có 33 tuần và chỉ 20% trẻ em được học theo chuẩn quốc tế, ít nhất 5-6 giờ trên lớp mỗi ngày. Cả hai con số này còn tệ hơn một cách đáng kể ở các vùng nông thôn, nơi trẻ em phải giúp đỡ gia đình mình làm công việc nông nghiệp.

– Học phí không có khả năng thanh toán

Năm 1991 Việt Nam thực hiện giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí. Tuy nhiên, chính sách phục hồi chi phí được khởi xướng vào năm 1992 chuyển gánh nặng chi phí từ chính phủ đến người học trong các bậc giáo dục tiếp theo: trường phổ thông cơ sở, trường trung học cơ sở và  trường đào tạo kỹ thuật / dạy nghề. Sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu tại Việt Nam với đủ khả năng kinh tế để trả các chi phí giáo dục tăng cao đang ẩn chứa những thiếu sót về cấu trúc trong hệ thống. Trẻ em của các gia đình ít khả năng kinh tế hơn đôi khi bị buộc phải từ bỏ hoàn toàn bậc giáo dục trung học. Một lần nữa, vấn đề đặc biệt nghiêm trọng tại các khu vực nông thôn.

– Tiền lương của giáo viên thấp:

Tiền lương của giáo viên thấp đã dẫn đến các tình huống mà các nhà sư phạm đã gây áp lực buộc học sinh tham gia học thêm để làm tăng thêm mức lương chính xoàng xĩnh của họ. Thực trạng này đã rất phổ biến đến mức Nghị định 242 của nhà nước, được phê duyệt vào năm 1993, đã bao gồm quy định hạn chế “các lớp học thêm.” Chỉ có giáo viên được ủy quyền  mới được phép tổ chức các lớp học như vậy, và học sinh trường tiểu học có thể  phải cam kết học không quá hai buổi học thêm, tổng cộng bốn giờ mỗi tuần.

Tổng quan

Sự thiếu sót của hệ thống giáo dục đã tạo ra những thách thức lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm cách tuyển dụng và giữ chân các nhân viên tiềm năng của Việt Nam.

Họ thấy rằng không chỉ phải chịu chi phí đáng kể cho việc đào tạo và chương trình phát triển, mà còn cần áp dụng các phương pháp sáng tạo để giữ lại những nhân viên sau khi họ đã thành thạo và có đủ khả năng.

Ngoài ra, như đã chứng kiến tại Ấn Độ trong sự bùng nổ các dịch vụ outsourcing, thị trường lao động địa phương sẽ nóng lên khi nền kinh tế phát triển. Điều này sẽ làm tăng nhu cầu đối với nguồn lao động lành nghề tương đối giới hạn, và thúc đẩy thay thế nhân viên khi các chủ sở hữu lao động tham gia vào cuộc cạnh tranh giá cả khi tuyển dụng nhân viên.


Mời đọc thêm

Cùng đọc Thomas L. Friedman:  “Mơ ước tại Trung Quốc”

Offshoring, hoạt động đã diễn ra hàng thập kỷ, khác với outsourcing thuê làm bên ngoài.

Outsourcing: thay vì thực hiện một chức năng nhất định nhưng hạn chế mà công ty bạn đang làm trong nội bộ công ty, bạn để một công ty khác thực hiện chức năng này và sau đó gắn phần công việc ấy vào hoạt động chung của bạn.

Offshoring là việc một công ty chọn một trong các nhà máy của họ và chuyển toàn bộ nhà máy này ra nước ngoài, như Trung Quốc chẳng hạn. Ở đó, nhà máy này sản xuất sản phẩm giống hệt với cách thức tương tự, chỉ khác ở chỗ nhân công rẻ hơn, thuế thấp hơn, năng lượng được trợ cấp, và chi phí y tế cũng thấp hơn.

Giống như sự cố Y2K đã đưa Ấn Độ và thế giới tới một trình độ hoàn toàn mới về outsourcing, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã đưa Bắc Kinh và thế giới tới một trình độ hoàn toàn mới về offshoring – với việc ngày cảng có nhiều công ty chuyển sản xuất ra nước ngoài và gắn hoạt động này vào các chuỗi cung toàn cầu của họ.

Một ngày nọ ở Tokyo, Ohmae nói với tôi rằng: “Trung Quốc là một đe doạ, Trung Quốc là một khách hàng, và Trung Quốc là một cơ hội. Bạn phải quốc tế hoá Trung Quốc để thành công. Bạn không thể bỏ qua Trung Quốc.” Ohmae lập luận như sau: Thay vì cạnh tranh với Trung Quốc như những kẻ thù, bạn phải chia nhỏ hoạt động kinh doanh và nghĩ xem phần nào bạn muốn làm ở Trung Quốc, phần nào muốn bán cho Trung Quốc, và phần nào bạn muốn mua từ Trung Quốc.”

Như vậy, chúng ta nhận thấy khía cạnh làm phẳng thật sự của việc Trung Quốc mở cửa ra thị trường thế giới. Trong khi Trung Quốc càng trở nên hấp dẫn với tư cách là một trung tâm offshoring thì các nước phát triển và đang phát triển khác đang cạnh tranh với Trung Quốc, như Malaysia, Thái Lan, Ireland, Mexico, Brazil và Việt Nam càng phải làm cho bản thân mình hấp dẫn hơn. Tất cả các nước này đều quan sát chuyện gì đang xảy ra ở Trung Quốc và các công việc chuyển đến Trung Quốc và tự nhủ: “Quỷ thần ơi, chúng ta nên bắt đầu đưa ra những khuyến khích tương tự.” Điều này đã tạo ra một quá trình làm phẳng về cạnh tranh, theo đó các nước tranh giành việc cung cấp cho các công ty các ưu đãi thuế, các khuyến khích về giáo dục và các trợ cấp ngoài lao động giá rẻ, để khuyến khích các công ty nước ngoài chuyển sản xuất tới nước mình.

Các nhà phê bình thực tiễn kinh doanh của Trung Quốc nói rằng sức mạnh kinh tế và quy mô của Trung Quốc sẽ dẫn tới việc nước này nhanh chóng lập ra mức sàn trên toàn cầu, không chỉ về lương thấp mà cả về luật lao động lỏng lẻo, và các tiêu chuẩn làm việc. Trong kinh doanh, điều này được gọi là “giá Trung Quốc”.

“Mơ ước tại Trung  Quốc”
Cùng với hiện tượng bùng nổ hàng hoá nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc, nhiều nước phát triển đã báo động về những lỗi chết người của không ít mặt hàng Trung Quốc! Trong ảnh: Gia tăng việc kiểm tra chất lượng sản phẩm ngay tại Trung Quốc.

Tay chơi chủ chốt

Chiến lược dài hạn của Trung Quốc là vượt qua Mỹ và các nước Liên minh châu Âu (EU), và họ đã bắt đầu cuộc đua rất tốt.

So với lãnh đạo các nước phương Tây, giới lãnh đạo Trung Quốc chú trọng hơn tới việc đào tạo thế hệ trẻ trong các lĩnh vực toán học, khoa học, và kỹ năng máy tính cần thiết cho sự thành công trong thế giới phẳng. Họ cũng tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng vật lý và viễn thông nhằm tạo điều kiện cho người dân Trung Quốc tiếp cận các dịch vụ nói trên nhanh và dễ dàng hơn người dân ở các nước khác. Trung Quốc cũng chủ trương khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư trên khắp thế giới. Mục tiêu của giới lãnh đạo Trung Quốc là tiến tới đảm nhận việc thiết kế từ đồ lót đến cánh máy bay. Đó là mục tiêu của một thập niên nữa.

Như vậy, trong 30 năm tới, thế giới sẽ phải thay đổi cách nhìn về Trung Quốc, từ khái niệm “Bán tại Trung Quốc” đến “Sản xuất tại Trung Quốc”, “Thiết kế tại Trung Quốc”“Mơ ước tại Trung Quốc”.

Nói cách khác, thế giới sẽ phải đánh giá lại về Trung Quốc, từ một nước không đóng vai trò gì trong nền côpng nghiệp chế tạo trở thành một tay chơi chủ chốt, có chi phí thấp, chất lượng cao và siêu hiệu quả trong ngành công nghiệp này. Nếu không xảy ra khủng hoảng chính trị, Trung Quốc sẽ vươn lên trở thành một nhân tố làm phẳng chủ chốt.

Sau một giai đoạn suy thoái kéo dài, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu tăng trưởng trở lại từ năm 2003 nhờ xuất khẩu được hàng ngàn tấn máy móc, robot lắp ráp, và các linh kiện sang Trung Quốc. Năm 2003, Trung Quốc đã vượt Mỹ, trở thành nước nhập khẩu lớn nhất các sản phẩm của Nhật. Tuy nhiên, chính phủ Nhật Bản vẫn khuyến cáo các công ty Nhật không nên đầu tư quá nhiều vào Trung Quốc. Chính phủ khuyến khích các công ty thực hiện chiến lược mà Watanabe gọi là “Trung Quốc cộng một”, tức là vừa đầu tư vào Trung Quốc, vừa đầu tư vào một nước châu Á khác để hạn chế rủi ro trong trường hợp xảy ra bất ổn chính trị tại Trung Quốc.

“Trung Quốc cộng một” gặp khó

Canon đã không còn xây dựng hoặc mở rộng nhà máy ở Trung Quốc song họ đang tăng tốc gấp đôi số nhân công trong một nhà máy sản xuất in ở ngoại ô Hà Nội lên 8.000 người…

Trung Quốc không còn rẻ

Trung Quốc vẫn là điểm đến quen thuộc nhất thế giới đối với các nhà công nghiệp nước ngoài. Năm ngoái, nước này thu hút được 83 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư. Nhưng ngày càng có nhiều tập đoàn công ty đa quốc gia theo đuổi một chiến lược mà các doanh nghiệp và các nhà phân tích gọi là “Trung Quốc cộng một”: thành lập hoặc mở rộng các cơ sở châu Á ngoài Trung Quốc, đặc biệt là ở Việt Nam.

Xu thế này được thúc đẩy bởi hàng loạt các mối quan ngại tại Trung Quốc:

  • lạm phát,
  • khan hiếm lao động và năng lượng,
  • đồng tiền mạnh lên,
  • chính sách của chính phủ thay đổi, thậm chí khả năng bất ổn xã hội lan rộng một ngày nào đó.
  • Nhưng điều quan trọng nhất là lương bổng trong nhiều ngành công nghiệp ở Trung Quốc, tính theo đô la Mỹ, đang tăng gần mức 25% mỗi năm, và Trung Quốc không còn là nơi giá rẻ nữa.

Ở Trung Quốc, khi các làng xã nông thôn đã cạn kiệt lao động trẻ cung ứng cho các nhà máy, lương bổng của công nhân các dây chuyền lắp ráp đã tăng hơn 10% mỗi năm. Lương của các công nhân lành nghề, chẳng hạn thợ sửa chữa cơ khí, còn tăng nhanh hơn nữa. Ở các tỉnh duyên hải Trung Quốc, thuận lợi trong việc tiếp cận các cảng biển, ngay cả công nhân không có tay nghề cũng đang được trả tối thiểu 120 đô la/tháng, làm việc 40 giờ mỗi tuần; lương ở các tỉnh nội địa, nơi giao thông vận tải đắt đỏ hơn, thì thấp hơn một chút nhưng đang tăng nhanh.

Texhong dự kiến chi phí lao động bình quân trong ngành dệt Trung Quốc sẽ tăng khoảng 16% trong năm nay, kể cả chi phí cho phúc lợi xã hội – cao hơn mức tăng 12% năm ngoái. Những quy định mới về lao động làm cho các công ty thêm khó khăn trong việc né tránh các khoản lợi ích của công nhân, như lương hưu chẳng hạn, do đó càng làm gia tăng chi phí lao động.

Khi những sự gia tăng này kết hợp với sự tăng giá đồng bản tệ so với đô la Mỹ, lên tới 10%/năm, giờ đây chi phí lao động ở Trung Quốc đang tăng ở mức 25%/năm hoặc nhiều hơn nữa. Trung Quốc cũng đã loại bỏ việc ưu đãi mức thuế thấp cho các công ty nước ngoài. Trái lại, Việt Nam vẫn dành cho nhà đầu tư nước ngoài mức thuế thu nhập doanh nghiệp bằng 0% trong 4 năm đầu và giảm 50% mức thuế suất 10% trong 4 năm tiếp theo.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc đã tăng 1/3 trong 3 năm qua nhưng cùng thời gian này, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Philippines đã tăng gấp đôi, tăng bốn lần ở Ấn Độ, và hơn tám lần ở Việt Nam. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chẳng hạn, trong năm ngoái đã lên đến gần 18 tỉ đô la.

Chiến lược “cộng một”

Không chỉ tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp tại Trung Quốc suy giảm. Khi chi phí sản xuất hàng hóa ở châu Á tăng lên, thì hiển nhiên người tiêu dùng Mỹ cảm thấy đau đớn. Bộ Lao động Mỹ cho biết, giá hàng nhập khẩu trong tháng 5 đã tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và tăng 6,4% đối với hàng hóa nhập từ Đông Nam Á.

Trong tình hình đó, các công ty đang sử dụng chiến lược Trung-Quốc-cộng-một để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc quá nhiều vào các nhà máy ở một nước. Edward Kang – Tổng giám đốc công ty Ever-Glory International, một nhà sản xuất đồ dùng thể thao tại Nam Kinh, Trung Quốc để cung cấp cho các chuỗi siêu thị bán lẻ Wal-Mart và Kohl’s bên Mỹ, cho rằng các tập đoàn đa quốc gia đang “suy nghĩ về toàn thế giới và giữ một sự cân bằng”, giữa Trung Quốc và các nước khác. Ever-Glory cũng đang xây một nhà máy tại Việt Nam.

Các công ty còn hoạt động ở Trung Quốc thì đang tìm kiếm một cách tuyệt vọng cách kiểm soát chi phí. Lawrence Shu – giám đốc tài chính của công ty Texhong, một trong các nhà sản xuất hàng bông vải lớn nhất thế giới, có trụ sở tại Thượng Hải, cho biết: “Chúng tôi vẫn duy trì công suất sản xuất ở Trung Quốc nhưng chúng tôi sẽ tăng tự động hóa và giảm bớt nhân công”. Công ty cũng đã xây một nhà máy ở Việt Nam, mua lại một nhà máy và hai nhà máy khác ở Thái Lan.

Gerald Evans, phụ trách chuỗi cung ứng toàn cầu của Hansbrands, nói rằng so với Trung Quốc, “chúng tôi nhận thấy ở cả Việt Nam và Thái Lan đất đai và lao động đều có sẵn”. Hanesbrands cũng sẽ chuyển một số hoạt động sản xuất từ Mexico và Trung Mỹ sang châu Á.

Trở ngại còn đó

Tuy nhiên ngay cả khi các công ty tìm kiếm những địa điểm khác để sản xuất hàng hóa họ vẫn bị đeo đẳng bởi các nền kinh tế quá nóng: Việt Nam chẳng hạn, tỷ lệ lạm phát đã tăng đến 25,2% vào tháng trước.

Một khảo sát gần đây của Grant Thornton, một công ty kế toán và tư vấn toàn cầu, cho thấy rằng các doanh nghiệp đang lo lắng về việc thu hút và giữ chân các nhân viên thiết yếu ở Việt Nam nhiều hơn ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. (Trung Quốc xếp thứ hai.) Akira Akashi, chủ tịch hãng Nissan Techno, chuyên thiết kế xe hơi cho Nissan, cho biết: “Chúng tôi huấn luyện họ, chúng tôi đào tạo họ rồi sau đó họ bỏ việc”. Công ty dự định mở rộng tới 1.400 kỹ sư ở Việt Nam vào năm 2010. Các kỹ sư bắt đầu làm việc ở đây chỉ được trả lương tháng 200 đô la Mỹ, ít hơn một nửa so với ở Trung Quốc và chưa bằng 1/10 so với mức lương ở Mỹ hay ở Nhật.

Ngay cả người lao động trực tiếp cũng trở nên khó tìm. Bên cạnh vấn đề quy mô của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cũng là một trở ngại khiến cho chiến lược “Trung Quốc cộng một” không thể triển khai nhanh được. Đa số các quốc gia châu Á, kể cả Việt Nam, đã không thể cải thiện mạng lưới giao thông vận tải nhanh chóng như Trung Quốc. Những vụ kẹt đường kéo dài lê thê làm chậm việc vận chuyển hàng hóa và đẩy chi phí lên.

Điểm tốt nhất mà Việt Nam cung ứng được cho nhiều công ty là sự ổn định chính trị. Ông Shu – giám đốc tài chính của công ty Texhong nói: “Chủ nghĩa cộng sản có nghĩa là ổn định hơn”. Ý kiến của ông cũng phản ánh một quan điểm phổ biến trong giới quản trị châu Á, những người đưa ra quyết định đầu tư hay không. Ít nhất cũng đã có một vài nhà quản trị người Mỹ đồng ý như vậy dù họ không bao giờ phát biểu trên giấy trắng mực đen.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: