Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Văn hóa tranh luận (1): Thay vì nhận xét về những ý kiến, người ta phán xét về con người đưa ra ý kiến đó

Posted by BEAR on Tháng Sáu 18, 2010

Xây văn hóa tranh luận để Việt Nam thành cá kình

Tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi
Bài đã được xuất bản.: 17/06/2010 06:00 GMT+7

>> Làm sao để dân lên tiếng?

Những nhà tranh luận vĩ đại

“The Great Debaters”, tạm dịch là “Những nhà tranh luận vĩ đại”, là một bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Denzel Washington năm 2007. Bộ phim lấy bối cảnh những năm 30 của thế kỷ XX ở Mỹ, dựa trên một câu chuyện có thật, kể về một người thầy giáo huấn luyện năng lực tranh luận cho một nhóm sinh viên da đen để tham gia và chiến thắng trong một cuộc tranh tài về tư duy với đội sinh viên da trắng của trường Harvard ưu tú.

Trong quá trình rèn luyện năng lực tư duy ấy, những sinh viên da đen đã được thầy mình huấn luyện

  • các thao tác suy nghĩ,
  • con đường phát lộ ý tưởng,
  • khả năng làm chủ cảm xúc của bản thân,
  • cách thức xây dựng tư duy lý tính….

Đó là những điều cốt yếu nhất để thành công, không chỉ trong tranh luận.

Xem bộ phim này, chúng ta sẽ hiểu vì sao ngày nay, nước Mỹ có một tổng thống da đen có khả năng hùng biện lôi cuốn cả thế giới. Không gian tự do sẽ khai mở cho sự khai phóng tư duy, nhưng nếu chỉ có một không gian tự do mà không có một nền giáo dục xây dựng tư duy lý tính cho con người, không gian “tự do” ấy sẽ là sa mạc cho những bầy đàn hoang dã tung hoành. Những con người của tư duy lý tính là thành tố quan trọng nhất để kiến tạo và vận hành một xã hội mở, là tiền đề về mặt con người cho sự phát triển của lịch sử.

“Dân chủ” là “tranh luận”

Có mối liên hệ tất yếu giữa văn hóa dân chủ và phát triển, cũng như giữa sự phát triển của lực lượng tư duy chiến lược của một quốc gia với vận mệnh của nó.

Những hình ảnh thảo luận và tranh luận tại Nghị trường Việt Nam. Ảnh Lê Anh Dũng.

Vậy, những nước một đảng lãnh đạo như Việt Nam liệu có thể được vận hành bằng một nền văn hóa tranh luận dân chủ và duy lý?Dân chủ, đó là tranh luận giữa quảng trường của tư duy. Do đó, văn hóa dân chủ có thể được xây dựng trong mọi điều kiện chính trị, một đảng hay nhiều đảng. Vấn đề cốt tủy là cách tư duy và cách tổ chức.

GS. Cao Huy Thuần từng nói đến khả năng xây dựng nền văn hóa dân chủ trong hoàn cảnh nước ta. Ở Hi Lạp cổ đại, trong bối cảnh nhà nước vẫn chỉ có một lực lượng lãnh đạo duy nhất, “Ai muốn phát biểu?” đã là một câu xướng quen thuộc.

Tư duy của GS. Cao Huy Thuần không phải là một cuộc phiêu lưu, mà là một con đường đã có bản đồ. Nó không chỉ có trong nền văn hóa Phương Tây cổ đại mà có cả trong lịch sử Châu Á hiện đại. Cuộc Duy tân của Nhật Bản ở thế kỷ XIX là một ví dụ điển hình của chiến lược phát triển thông qua khai sáng tinh thần và tự do tư duy, ngay cả trong bối cảnh một nền chính trị phong kiến rồi đây sẽ biến thàn phát xít.

Ở Nhật Bản thời Minh Trị, Hội trí thức Meirokusha, một Nhóm tư duy chiến lược, gồm cả các quan chức chính phủ lẫn các chiến lược gia dân sự, tương tự như Nhóm “China Center for International Economic Exchanges” ở Trung Quốc mới đây, thông qua các cuộc tranh luận công khai và nóng bỏng của mình, đã lưu danh trong lịch sử Nhật Bản như là một trong những lực lượng vạch hướng đi cho dân tộc đến kỷ nguyên mới, trên hầu khắp các nẻo đường của cuộc sống, từ văn hóa, giáo dục, tư tưởng, đến luật pháp, tổ chức nhà nước pháp quyền, khoa học kỹ thuật.

Văn hóa dân chủ là huyết mạch, là hồng cầu giữ gìn sự sống nơi những neuron thần kinh của bộ não một dân tộc. Văn hóa này là hệ động lực để xã hội công dân ngày nay có thể vận hành.

Độ “lớn” hay “nhỏ” của một quốc gia không được tính bằng số dân hay lãnh thổ, mà được tính bằng độ lớn của không gian tự do mà nền văn hóa của quốc gia đó mở ra cho mỗi cá nhân.

Tranh luận là một năng lực văn hóa

Nhà văn Trung Quốc Vương Sóc, trong “Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê”, từng nói rằng, trên văn đàn Trung Quốc, các nhà văn, nhà lý luận mạt sát lẫn nhau rất khủng khiếp, nhưng tuyệt nhiên không hề thấy sự xung đột về tư tưởng và cách nhìn, ngược lại, trong vô số các bài tranh luận trên mặt báo, vẫn thấy chỉ có một cách nhìn thống nhất, còn các cuộc tranh luận máu lửa đơn giản chỉ là sự va chạm về mặt quan hệ giữa những cá nhân.

Điều đó có nghĩa là, khi tranh luận, thay vì nhận xét về những ý kiến, người ta phán xét về con người đưa ra ý kiến đó. Trong tranh luận, trí thông minh, thay vì được dùng để hoàn thiện những năng lực của lý tính, lại hướng đến việc sản xuất ra những cách diễn đạt cay độc nhất để xúc phạm người khác.

Việt Nam có vẻ như không khá  hơn Trung Quốc ở điểm trên, và muốn phát triển được, nhất thiết phải tiến hóa để văn minh hơn. Nếu Việt Nam muốn phát triển bằng cách “khác Trung Quốc”, thì trước tiên văn hóa Việt Nam phải khác Trung Quốc về điểm này.

Văn hóa tranh luận là sáng tạo cốt tử của văn minh Phương Tây từ hơn 2.000 năm qua. Người Phương Tây gần như không thể sống mà không có tranh luận. Họ là cá kình, mà văn hóa tranh luận là đại dương của họ. Còn ở hầu hết phần còn lại của thế giới thì văn hóa tranh luận là cái được du nhập. Chúng ta bước vào tranh luận cũng giống như một loài trên cạn bước xuống nước.

Tranh luận cũng giống như bơi lội. Khi bơi, con người đặt mình vào giao điểm giữa những luật vận động của cơ thể và những luật vận động của tự nhiên, để sáng tạo nên những luật vận động mới cho chính mình.

Voi, ngựa, ngan, ngỗng… mặc dù cùng ứng xử với cùng một luật vận động của môi trường nước, mỗi loài do có luật riêng trong cách vận động của cơ thể, nên phải có một luật bơi của riêng mình.

Việt Nam cũng phải sáng tạo ra một văn hóa tranh luận của riêng mình, bởi vì, con vịt muốn bơi theo cách của cá kình thì cần phải tiến hóa thành cá kình trước đã.

Bình luận:

Nhận xét của Nguyễn Lương Hải Khôi rất chuẩn xác. Bản thân tôi cũng thấy chính mình mắc cái lỗi này một cách tự nhiên. Khi tiếp nhận một thông tin, một  ý kiến, thật khó tránh khỏi cái phản ứng soi xem tác giả của nó là ai, đặc biệt khi thông tin đó, ý kiến “xa lạ” hoặc có xu hướng trái ngược với quan điểm của mình! Gần như một điều tự nhiên, tác giả của ý kiến sẽ bị soi xem, có tên tuổi không, tuổi đời ra sao, có quan điểm chung thế nào, thuộc phe ta hay phe địch…Từ những phán xét đó về tác giả, ta sẽ quy kết cho ý kiến đưa ra 1 cách tương ứng, chẳng hạn đó là 1 người trẻ tuổi, non yếu, mặc dù ý kiến đưa ra có sự thông minh và giá trị thì nó cũng bị đánh giá là kém giá trị; nếu đó là người thuộc “phe địch”, đôi khi chỉ là có sự khác biệt đối với ta, thì khỏi phải bàn ý kiến đó cho dù có tính xây dựng, và thậm chí là chính là điều ta mong muốn đi nữa, thì ta cũng phải cho đó là một sự giả dối, che đậy mục đích xấu xa…

Đấy là thái độ “phản động” – ý tôi là chống lại sự thay đổi suy nghĩ và chấp nhận cái đúng hoặc sự tích cực của “đối thủ”.

Tôi đọc một bài viết không phải để tìm sự mới mẻ, thú vị, hay ho mà đi tìm cái giống suy nghĩ của mình, mặc dù đọc xong có khi chả đem lại một sự tiến bộ nào cho chính bản thân cả. Tôi “tù đọng” và “ngưng trệ” trong chính suy nghĩ của mình!  Sau tranh luận tôi vẫn chỉ thấy chính cái tôi to chình ình như vốn dĩ…Và tất nhiên cuộc tranh luận kiếm đồng minh, kéo phe phái cho mình đó, sẽ dẫn đến sự xúc phạm, chọc ngoáy câu chữ, cá nhân “đối thủ” của tôi…Đó là một cuộc tranh luận không phải đi tìm ánh sáng của chân lý mà tìm kiếm sự chiến thắng và thể hiện cái Tôi của mình.

Người Việt xấu xí…(4): Người Việt thiếu sâu sắc?

hầu hết các cuộc tranh luận tại Việt Nam đều khá nhếch nhác và hời hợt.

Tại sao người Việt chúng ta lại thiếu sâu sắc trầm trọng và triền miên như vậy?

Trước hết, thế nào là “sâu sắc” trong tranh luận hay nhận định? Theo tôi, một ý kiến sâu sắc phải bao gồm ít nhất hai đặc điểm chính:

  • một, có tính phân tích cao

  • và hai, có độ khái quát hoá lớn.

Gần một thế kỷ trôi qua, những nỗ lực ấy có đâm hoa kết quả gì chưa? Võ Phiến bi quan: Hình như chưa! Độ trừu tượng của tiếng Việt vẫn chưa cao, khả năng biện luận của người Việt vẫn chưa giỏi; cái gọi là một nền quốc học Việt Nam với những tư tưởng riêng vẫn là một ước mơ thấp thoáng (tr. 348).

Võ Phiến dường như hơi hơi tuyệt vọng. Ông cho những khuyết điểm ấy gần như gắn liền với “bẩm chất” của người Việt. Nói một cách nôm na:

“Trời sinh ra dân ta vốn không thoải mái đối với những gì là tư tưởng, là lý luận, những gì trừu tượng” (tr. 347).

Thế kỷ 21: Muốn đứng đầu phải có tư duy phản biện -tuanvietnam.net

Nếu muốn kinh doanh phát tài trong thế kỷ 21, các lãnh đạo phải có tư duy phản biện. Roger Martin thuộc Trường quản lý Rotman ngộ ra điều này một thập kỷ trước. Với vai trò trưởng khoa, ông đã thay đổi chương trình giảng dạy môn kinh doanh, nhấn mạnh các kỹ năng tư duy phản biện.

  • Đặt câu hỏi giả định.
  • Áp dụng những quan điểm khác nhau. .
  • Nhìn thấy tiềm năng.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: