Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Cô dâu và công nhân Việt tại Ðài Loan

Posted by BEAR on Tháng Mười 15, 2010

Bảo về quyền lợi lao động Việt ở nước ngoài ra sao?
Xuất khẩu lao động VN trong cơn khủng hoảng toàn cầu
Câu chuyện các “tù nhân” Nam Phi: Giấc mơ đổi đời, Ác mộng, Giọt nước tràn ly, Tự do, Tù tội, Chiến thắng và Ác mộng mới!

Năm nay, 10.000 lao động có thể phải về nước trước hạn
Sự Thật Về “Xuất Khẩu Lao Động” ?
Lao động Việt Nam bị xử tệ ở Jordan?
Lao Động: Quyền Công Nhân và luật Lao Động Việt Nam
Tu nghiệp sinh là gì?
Những trở ngại mà nữ lao động Việt Nam tại Malaysia gặp phải
Công nhân xuất khẩu sang Malaysia bị lừa gạt, ức hiếp

 



Cô dâu và lao động Việt tại Ðài Loan (Kỳ 1)

Hành trình trở thành ‘di dân đào tẩu’

Công nhân và cô dâu Việt xứ Ðài (Kỳ 3): Khi chính phủ biến công dân thành ‘con nợ’

Công nhân và cô dâu Việt xứ Ðài (Kỳ 4)

Công việc ‘3 Ds’ trên xứ Ðài

Hà Giang/Người Việt

ÐÀI LOAN Sau năm ngày được Bộ Du Lịch Ðài Loan hướng dẫn đi thăm những thắng cảnh và điểm hẹn nổi tiếng của hòn đảo nằm ở phía Ðông Nam Trung Quốc, có cái tên thơ mộng là Formosa – “hòn đảo xinh đẹp” – chiều 12 tháng 9, chúng tôi háo hức đáp xe taxi từ Ðài Bắc đến Ðào Viên, thăm “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,” một tổ chức phi chính phủ, do Linh Mục Nguyễn Văn Hùng tổ chức.

Một số “Lao Ðộng Di Dân” Việt Nam tụ tập cùng công nhân các sắc dân khác trong cuộc biểu tình phản đối sự đàn áp và mạnh tay của cảnh sát Ðài Loan khi lùng bắt những “Runaway Migrant Workers” (Lao Ðộng Di Dân bỏ chạy). (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Tại nơi đây, chúng tôi sẽ có cơ hội gặp gỡ, chuyện trò, tâm sự và tìm hiểu về đời sống của công nhân Việt Nam qua Ðài Loan theo diện “xuất khẩu lao động,” hoặc các cô dâu Việt Nam lấy chồng Ðài Loan, hiện đang sinh sống tại đây.

Chính phủ Ðài Loan có chương trình “nhập cảng người lao động” rất mạnh mẽ. Theo tài liệu của Bộ Lao Ðộng Ðài Loan, hiện xứ sở này có khoảng 360 ngàn lao động di dân, đa số đến từ những nước đang phát triển, như Indonesia, Philippines, và Việt Nam, trong đó theo tài liệu của Bộ Lao Ðộng Ðài Loan, người lao động di dân đến từ Việt Nam đông hàng thứ nhì, chỉ sau Indonesia.

Những “lao động di dân” này, đến Ðài Loan với ước mơ tìm cách giải quyết cuộc sống cực kỳ khó khăn nghèo túng của họ tại quê nhà, và để đổi lại nguyện vọng “kiếm một ít tiền mang về quê hương sau một thời gian lưu đầy,” họ phải đảm nhận những công việc mà người Ðài Loan mệnh danh là công việc “3 Ds,” những công việc mà người dân bản xứ “chê,” không ai thèm làm.

“3 Ds” là gì?

Ðó là 3 chữ D, bắt đầu của những chữ: “Difficult” (khó khăn), “Dirty” (bẩn thỉu), và “Dangerous” (nguy hiểm).

Tại sao lại Difficult?

Cứ hỏi cô Thu thì biết!

Chúng tôi tình cờ gặp Thu, 24 tuổi, và Hạnh, 26 tuổi, hai cô gái lao động di dân khi đi thăm “chợ đêm” ở một ngoại ô của Ðài Bắc. Giữa những tiếng bản xứ líu lo lạ tai, chúng tôi mừng rỡ khi thoáng nghe được tiếng Việt Nam, và quyết định tiến đến chào hỏi.

Một cô dâu người Việt Nam lấy chồng Ðài Loan tại Ðài Bắc trả lời: “Hạnh phúc à?” khi được hỏi cuộc sống của cô có… hạnh phúc không. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Thu cho biết quê ở Thanh Hóa, đến Ðài Loan theo diện “xuất khẩu lao động” được hơn một năm nay. Thu làm việc tại một viện dưỡng lão, được gọi là nơi ẩn náu của người già tại Ðài Loan. Trách nhiệm của Thu là săn sóc 12 cụ già tuổi từ 68 đến 75. Thu làm việc mỗi ngày từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối, và hầu như không có giờ nghỉ ở giữa.

“Công việc khó khăn và căng thẳng lắm chị ạ. Các cụ vì yếu nên tính tình bẳn gắt, em chưa kịp lo xong cho cụ này thì đã bị cụ khác réo gọi!”

“Nhiều khi em bưng bát cơm lên chưa kịp ăn thì đã phải bỏ xuống, lo cho cụ khác.” Thu tâm sự.

Còn tại sao lại Dirty?

“Thì chị bảo, các cụ không tự đi vệ sinh được, mình phải lo hết thì không bẩn làm sao được?” Hạnh, đến Ðài Loan đã gần hai năm, giải thích.

Ngoài Hạnh và Thu, trong lúc đi mua sắm tại một khu tập trung nhiều tiệm tạp hóa tại Ðài Bắc, chúng tôi cũng đã gặp được một số cô dâu Ðài Loan, đa số lấy chồng già hơn mình từ 15 đến 20 tuổi, hiện đang làm việc tại đây.

Cuộc gặp gỡ tình cờ, cũng là nhờ nghe được người nói tiếng mẹ đẻ ở xứ người thật cảm động. Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò tíu tít, nhưng phải vội vàng vì phải đi theo thời khóa biểu của đoàn.

Trước khi từ giã, anh Tùng, người quay phim đi cùng đoàn với chúng tôi hỏi một cô là cuộc sống của cô có hạnh phúc không?

Thay vì trả lời, cô chỉ thẫn thờ nhắc lại câu hỏi: “Có hạnh phúc không à?” Và ánh mắt trông theo của cô đã không chỉ làm anh Tùng, mà chúng tôi cứ mãi vương vấn.

Trên đường từ Ðài Bắc đến Ðào Viên, tôi than là sao các cô gái Việt Nam, cô nào trông cũng xinh xắn, nhưng lại hao gầy và xa vắng thế.

“Không xinh xắn sao được! Cô nào cũng được tuyển chọn bao nhiêu vòng mới đến được đây!” Anh Tùng chua chát.

Khuôn mặt của những người chúng tôi gặp trong tình cờ khiến chúng tôi càng nóng lòng đi sâu vào hành trình tìm hiểu hoàn cảnh của những người Việt Nam đang sống trên đất Ðài.

Chỉ hơn nửa giờ đồng hồ nữa thôi!

Chúng tôi sẽ gặp họ.

Nếu cảm giác đầu tiên của chúng tôi từ những ngày đầu bước chân đến Ðài Loan là đất nước này sao giống Việt Nam thế, giống từ cái nóng, từ độ ẩm khiến mồ hôi dính nhơm nhớp vào áo, đến những cơn mưa phùn đến bất chợt, và những tòa nhà hẹp mà cao chen chúc nhau, và đường phố đông người tấp nập, thì Ðào Viên, là một tỉnh lỵ nhỏ, còn giống Việt Nam hơn nữa, với dòng xe cộ như mắc cửi, những con hẻm ngoằn ngoèo, và đặc biệt là đâu đâu cũng thấy những quán ăn chỉ vỏn vẹn gồm một chiếc xe hủ tíu, và vài bộ bàn ghế thô sơ.

Chúng tôi không có nhiều thì giờ để rong chơi. Người tài xế lái Taxi từ Ðài Bắc, bỡ ngỡ với đường phố ở Ðào Viên, sau khi loay hoay kiếm mãi mới ra địa chỉ, vì, cũng giống như Việt Nam, đường phố ở Ðài Loan không dễ tìm, cuối cùng rồi cũng đưa chúng tôi đến cửa “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam.” Kim đồng hồ chỉ đúng 4 giờ 30 phút chiều.

Một vài nữ nhân viên của văn phòng, những cô gái Việt Nam trước đây cũng qua Ðài Loan theo diện cô dâu, đón chúng tôi vào khuôn viên khiêm nhường, nhưng lại là nơi nương tựa quan trọng của những người di dân lao động, và cô dâu Việt Nam trên đất khách quê người.

Ða số những người chúng tôi gặp hôm đó là thanh niên thiếu nữ, vừa cô dâu vừa lao động di dân, khoảng từ 24 đến 32 tuổi. Chưa cần chuyện trò nhiều, chỉ cần nhìn những ánh mắt chịu đựng trên những khuôn mặt non trẻ, chúng tôi đã cảm nhận được nỗi khó khăn của họ.

Tôi liên tưởng đến chữ “Dangerous” khi gặp Hương, một cô gái xinh đẹp, mới 24 tuổi, cụt mất một bàn tay khi sử dụng một máy tại xưởng nơi Hương làm việc.

“Em đang ở đây để nhờ văn phòng cha Hùng giúp thủ tục pháp lý đòi chủ nhân bồi thường “ Hương tâm sự.

Hùng, khoảng 28 tuổi, cụt một chân, chống nạng, đứng gần đó, gật đầu, và nhìn Hương bằng cái nhìn đầy thương cảm. Thương người và thương mình?

Nhận diện “xuất khẩu lao động”

Sau khi mang hành lý đến khách sạn ở gần đó lấy phòng, chúng tôi được Taxi đón đến một Thánh đường gần đó để dự thánh lễ, do Linh Mục Cường, phó giám đốc “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam” cử hành. Linh Mục Hùng cho biết đa số những người đến dự lễ qua đây theo diện “xuất khẩu lao động.”

Vừa bước vào khuôn viên thánh đường nhỏ, nhưng chật ních, khoảng hơn 100 người, Tùng quay sang tôi thì thào: “Toàn là người trẻ thôi!”

Vâng, tuổi trẻ Việt Nam sống cảnh lưu đầy đang đứng trước mặt chúng tôi. Mặt họ thông minh quá, nhưng những ánh mắt pha nét buồn, chịu đựng, hầu như đã thành dấu ấn của những người chúng tôi gặp ở đất nước này.

Cha Hùng cho biết sáng ngày mai, nếu muốn, chúng tôi có thể tháp tùng một nhóm công nhân đón chuyến xe lửa từ Ðào Viên đến Ðài Bắc để tham dự hai cuộc biểu tình được tổ chức liền nhau của công nhân ở đây.

Cuộc biểu tình thứ nhất, sẽ diễn ra trước ty cảnh sát Ðài Bắc, để phản đối sự nặng tay của cảnh sát Ðài Loan khi lùng bắt những người lao động di dân bỏ chạy, mà chính phủ Ðài Loan gọi là “Runaway Migrant Workers.”

Cuộc biểu tình thứ nhì sẽ ở trước Bộ Lao Ðộng Ðài Loan, cũng ở Ðài Bắc để yêu cầu tăng lương căn bản, và được đối xử công bình.

“Tại sao những người lao động di dân phải bỏ chạy?” Tôi hỏi.

“Chị đi tham dự cuộc biểu tình thì sẽ hiểu!” Linh Mục Nguyễn Văn Hùng mỉm cười.

Cuộc hành trình của chúng tôi sáng mai mới thực sự bắt đầu!

Cô dâu và công nhân Việt tại Ðài Loan (Kỳ II)

Phía sau ‘giấc mơ đổi đời’

Hà Giang/Người Việt

ÐÀI LOAN Bước chân đưa bất cứ người Việt Nam nào rời bỏ quê hương đến Ðài Loan theo diện “xuất khẩu lao động” cũng đều bắt đầu bằng giấc mơ giản dị: Có một cơ hội cật lực làm việc, dẫu biết rất nhọc nhằn, để giúp bản thân và gia đình thoát khỏi kiếp nghèo khổ không lối thoát ở quê nhà.

Một “Lao Ðộng Di Dân” người Việt Nam đóng vai người bị bóc lột trong một cuộc biểu tình trước cửa Bộ Lao Ðộng tại Ðài Bắc đòi tăng lương tối thiểu và phản đối tiền môi giới, cũng như tiền nhà và tiền ăn khấu trừ một cách quá cao. Các khẩu hiệu viết: “Tiền Môi Giới là bóc lột,” “Khấu trừ tiền nhà và tiền ăn là bóc lột.” (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Giấc mơ này, đối với nhiều người, sau mỗi buổi gặp mặt thảo luận với người môi giới, lại càng có “triển vọng trở thành sự thật hơn.”

Chuyện trò với phóng viên nhật báo Người Việt, em Hưng, 30 tuổi, quê ở Thanh Hóa, cho biết theo lời của công ty môi giới, mỗi tháng em có thể kiểm được “ít nhất gần 23 ngàn Ðài Tệ,” (lương tối thiểu tại Ðài Loan lúc đó là 22,780 Ðài Tệ một tháng), một số tiền tương đương với khoảng $710, chưa kể tiền kiếm được từ “làm thêm giờ phụ trội.”

Trong khi đó, số tiền phải trả cho công ty môi giới “chỉ khoảng $6,000.”

Cũng theo lời em Hưng, công ty môi giới còn cho biết, sau khi trừ tiền nhà tiền ăn, và một ít tiền tiêu, em có thể để dành được gần $500 một tháng, như vậy, chỉ đi làm hơn một năm là “lấy lại được vốn,” thời gian còn lại, gom góp một số vốn mang về Việt Nam, “mang theo cả cơ hội đổi đời.”

Và giấc mơ màu hồng cùng sự tính toán qua giúp đỡ của người môi giới, đã khiến gia đình em mạnh dạn chạy chọt vay cho bằng được khoản tiền trả cho môi giới.

“Bố em đã phải mang giấy nhà đi cầm mới xoay xở được số tiền to lớn đó.” Hưng tâm sự.

“Ngày em đi, mẹ lo lắm, chỉ sợ con khổ, nhưng em sẵn sàng chấp nhận hết để kiếm một ít tiền giúp gia đình.”

Nhưng đó là chuyện của giấc mơ, cách đây hơn bốn năm.

Bảng lương một “Lao Ðộng Di Dân” người Việt Nam cho thấy, dù tổng số tiền kiếm được hơn 18 ngàn Ðài Tệ một tháng, người lao động chỉ có thể gửi về nhà hơn 2,500 Ðài Tệ, tương đương $80, sau khi đã khấu trừ những khoản như tiền môi giới, tiền nhà và tiền ăn ở. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Trên thực tế, Hưng, giờ đây là một “Runaway Migrant Worker,” (lao động di dân bỏ trốn), đang sống và làm việc bất hợp pháp ở Ðài Loan, từ hơn hai năm nay, vì theo Hưng, “em không còn sự lựa chọn nào khác.”

“Nếu em không bỏ trốn, thì có lẽ sẽ không bao giờ kiếm đủ tiền để trả nợ cho gia đình, đừng nói có vốn mang về.”

Thực tế và giấc mơ khác nhau ở chỗ nào?

Hưng đưa ra một bản sao của “bảng lương” rồi giải thích: “Ðây là bảng lương của em vào tháng 3, 2008.”

“Tiền lương em kiếm được tháng đó là 18,264 Ðài Tệ, trừ đi 2,952, tức 20% thuế thu nhập, trừ đi 428 cho bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế, trừ đi 1,800 cho môi giới tại Ðài Loan, trừ đi 4,000 cho tiền ăn ở, công ty muốn em giữ lại 3,000 một tháng ở Ðài Loan phòng khi hữu sự, và tiền tiêu vặt 3,500, và số tiền còn lại em có thể gửi về Việt Nam là 2,548 Ðài Tệ, tương đương với $80.”

“Chị xem, với $80 một tháng, thì phải làm việc bao nhiêu năm em mới có thể trả nợ?” Hưng phân bua.

Cứ làm một con tính nhẩm thì thấy, nếu cứ đà ấy, Hưng phải làm việc khoảng 75 tháng mới có đủ tiền gửi về cho gia đình trả nợ? Và còn phải làm bao nhiêu tháng nữa mới gom góp được tiền để mang về làm vốn?

Vấn đề là những hợp đồng xuất khẩu lao động chỉ kéo dài 2 năm, và nếu làm việc tốt, những “Lao Ðộng Di Dân” có thể được chủ gia hạn hợp đồng thêm cho một năm nữa.

Vấn đề là dù có làm việc tốt nhất để được ở thêm một năm nữa, Hưng vẫn chưa có đủ tiền trả nợ.

Nhưng tại sao lương tối thiểu là 22,780 Ðài Tệ một tháng mà lương của Hưng chỉ có 18,264 Ðài Tệ, kể cả làm thêm giờ phụ trội?

Lý do là vì nhiều người chủ hiểu được hoàn cảnh túng quẫn của “Lao Ðộng Di Dân” nên đã lợi dụng, bóc lột họ, trả họ lương dưới mức tối thiểu do Bộ Lao Ðộng Ðài Loan ấn định.

Trường hợp của Hưng là hoàn cảnh tiêu biểu của một người “Lao Ðộng Di Dân” bị dồn đến đường cùng, và phải trở thành một “kẻ đào tẩu” để tìm ra lối thoát.

“Em không thể trở về nhà tay không nhìn cảnh gia đình lâm nợ, mất nhà.” Hưng nói.

Bỏ trốn như thế thì những người như Hưng được gì và mất gì?

Cái lợi là trước tiên là họ có thể đi tìm việc làm lậu, và làm được bao nhiêu thì hầu như được giữ lại gần hết.

Cái hại là họ sẽ trở thành những người sống bất hợp pháp ở Ðài Loan và có thể bị bắt bỏ tù, rồi trục xuất về Việt Nam bất cứ lúc nào.

Số người bỏ trốn ngày càng nhiều đã khiến chính quyền Ðài Loan quyết tâm ra tay càn quét, truy lùng họ, cũng như tìm cách tìm kiếm và bắt phạt những chủ nhân mướn những người di dân bất hợp pháp.

Bộ Di Trú Ðài Loan ước lượng là con số người bỏ trốn hiện giờ đã lên đến khoảng hơn 30 ngàn người, một nửa trong số đó, tức khoảng 15 ngàn người là “Lao Ðông Di Dân” đến từ Việt Nam.

Bô Lao Ðộng Ðài Loan cho rằng nguyên nhân chính khiến “Lao Ðộng Di Dân” bỏ trốn là vì điều kiện làm việc cực khổ, lại ít lương, nhưng quan trọng hơn cả, là vì tiền môi giới phải trả để được cơ hội xuất khẩu lao động quá cao.

Dữ kiện con số những người Việt Nam bỏ trốn cao bằng một nửa tổng số của “Runaway Migrant Workers” cho thấy những công ty môi giới tại Việt Nam tính tiền người xuất khẩu lao động rất cao số với các quốc gia khác.

Bà Regina Fuchs, một thiện nguyện viên của tổ chức phi chính phủ “Hope Workers’ Center” cho biết, theo bà biết, qua giao tiếp với “Lao Ðộng Di Dân“từ nhiều quốc gia, thì “Lao Ðộng Di Dân” đến từ Indonesia hay Phillipines chỉ phải trả một số tiền môi giới khoảng $3,000, so với $6,000 của môi giới Việt Nam.

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt, ông Yu-ling Ku, chủ tịch của tổ chức Taiwan International Workers’ Association, cho biết vào tháng 11 năm 2001, dưới áp lực của các tổ chức lao động phi chính phủ, Bộ Lao Ðộng Ðài Loan cuối cùng đã công bố một quy định, cấm các nhà môi giới được nhận tiền “hoa hồng;” từ các lao công họ mang vào Ðài Loan, thay vào đó, họ chỉ có thể bắt các nhân công trả “phí dịch vụ,” không quá 1,800 Ðài Tệ/tháng trong năm đầu tiên, 1,700 Ðài Tệ/tháng trong năm thứ hai, và 1,500 Ðài Tệ trong thứ ba.

Tuy nhiên, để đối phó với bộ luật này, người môi giới Ðài Loan đã hợp tác với các công ty môi giới tại các nước nhà của người lao động, lừa đảo và bắt người lao động nhập cư ký kết hợp đồng vay vốn rất lớn, vì vậy các công ty môi giới trên cả hai bên có thể chia sẻ với nhau các hoa hồng béo bở này trong bóng tối.

Cũng theo ông Yu-ling Ku, mặc dù Bộ Lao Ðộng Ðài Loan biết rõ tình trạng này, nhưng họ không có biện pháp nào để đối phó một cách hữu hiệu vì: thứ nhất, hệ thống môi giới tạo điều kiện cho những viên chức nhà nước và chủ nhân có thể bóc lột và kiểm soát công nhân một cách dễ dàng.

Sau khi đã đặt chân vào Ðài Loan, thì nhiều người xuất khẩu lao động Việt Nam mới vỡ lẽ ra là giấc mơ kiếm tiền bằng cách làm lao nô ở nước ngoài thật ra không dễ thực hiện, và hậu quả là họ không chỉ phải đối diện với những giấc mơ tan vỡ, mà chính họ đã trở thành những mảnh đời tan vỡ.

Công nhân và cô dâu Việt xứ Ðài (Kỳ 3):

Khi chính phủ biến công dân thành ‘con nợ’

ÐÀI LOAN –Trong một căn phòng trang trí đơn giản, vừa được dùng làm phòng ăn, vừa là phòng học, ở Ðào Viên, Ðài Loan, gần 40 thanh niên thiếu nữ Việt Nam, tuổi từ 24 đến 30, ngồi quay quần trên những chiếc bàn dài, dùng bữa trưa thanh đạm.

Bà Riếp, 52 tuổi, quê Bến Tre, có con gái làm cô dâu Ðài Loan, chết ngày 28 tháng 6, được cảnh sát Ðài Loan viết thư về Việt Nam gọi qua nhận xác con: “Tôi vừa qua đến đây thì bị cảnh sát ép ký giấy thiêu xác con…” (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Mặt hằn những nét suy tư, mỗi người chìm đắm trong một nỗi niềm riêng, nhưng họ có chung một hoàn cảnh: Họ cùng đang nương náu ở đây, “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,” do Linh Mục Nguyễn Văn Hùng điều hành, ủy thác hết những khó khăn của họ vào văn phòng, để nhờ giúp đỡ.

Cách đây không lâu, có thể là một, hai, hay ba năm trước, họ là những người trẻ Việt Nam rời quê hương, hân hoan với giấc mơ đi tìm cho bản thân và gia đình một tương lai bớt nghèo túng.

Nhưng giờ đây, không những giấc mơ kia đã tan vỡ, cuộc đời họ cũng đang gặp những bế tắc, chờ tìm lối thoát.

Ước mơ mang dáng dấp tật nguyền

Như hoàn cảnh của em Lê Thân, 30 tuổi, quê ở Hưng Yên. Em qua đây hợp tác lao động được bảy năm.

Lần xuất khẩu lao động đầu tiên, em may mắn để dành được một ít tiền mang về nước, nhưng khi quay lại lần thứ hai, em lâm nạn!

Lê Thân cho phóng viên nhật báo Người Việt biết, nhờ có chút kinh nghiệm trước, em được làm phụ tá quản lý cho một công ty thiết bị dụng cụ y tế cho người già, nhưng trong đợt đi làm công nhân đợt hai này, gặp phải lúc công nhân bỏ trốn nhiều quá vì điều kiện làm việc khó khăn, quản lý ngặt nghèo, lương trả không đúng, nên họ bỏ trốn.

“Công ty em bỏ trốn hơn 20 người. Em làm quản lý, nên em cứ bị chủ gọi lên ‘chửi,’ vì họ bắt em chịu trách nhiệm.” Thân tâm sự.

“Chủ bắt em phải đi lùng bắt những người bỏ trốn, tình trạng rất căng thẳng, em thấy không thể tiếp tục làm việc được.”

Thân cho biết, sau nhiều ngày suy nghĩ, em định hủy hợp đồng bỏ về nước sớm, nhưng nghĩ đến món nợ ở nhà, lại không dám về.

Cuối cùng Thân quyết định bỏ trốn vào ngày 12 tháng 12, 2008, vì sáng hôm đó “bà chủ bảo bà ấy sẽ chở em ra bến xe, rồi em phải đi rình tìm những người bỏ trốn, tìm nếu thấy họ thì gọi phôn cho cảnh sát để đi bắt về.”

Bữa ăn trưa của các thanh thiếu niên xuất khẩu lao động gặp cảnh khốn cùng tại “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,” do Linh Mục Nguyễn Văn Hùng điều hành. Họ đến để ủy thác hết những khó khăn của họ vào văn phòng, nhờ giúp đỡ. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Bỏ đi được vài ngày thì Thân xin được việc làm ở trại chăn heo, và đến ngày 17 tháng 12, em bị tai nạn, cụt mất một chân.

“Văn phòng cha Hùng đang giúp đỡ em thưa kiện đòi chủ bồi thường. Chủ đưa ra con số là 300,000 Ðài Tệ, khoảng $9,000, em không chịu, vì viện phí em phải chi trả là hơn 400 ngàn tiền đài, chân giả hết gần $100 ngàn.” Thân cho biết.

Rất may là nhờ văn phòng cha Hùng bảo lãnh, Thân được ở đây hợp pháp trong khi chờ đợi kết quả vụ án.

“Dù em mong được đền một số tiền khá một chút, để có tiền trang trải nợ nần, nhưng dù có bao nhiêu tiền, em cũng thành kẻ tật nguyền mất rồi.”

“Dù em mong được đền một số tiền khá một chút, để có tiền trang trải nợ nần, nhưng dù có bao nhiêu tiền, em cũng thành kẻ tật nguyền mất rồi.”

Em Hạnh, 28 tuổi, quê ở Bắc Giang, phản đối việc bị bóc lột, nên bị chủ hủy hợp đồng sớm và môi giới đòi đuổi về nước.

“Em ở đây mới được bảy tháng, chủ gọi môi giới đến bảo là em không ngoan, nếu không thay đổi thì phải đi về nước.”

Hạnh cho biết em làm trong một viện dưỡng lão. Sau khi bị chủ đe dọa, em cố gắng nhịn nhục, “làm việc quần quật ngày từ 12 đến 18 tiếng, nhưng chỉ được trả lương ngày 9 tiếng rưỡi, thêm được 4 tháng nữa” nhưng “cũng không yên.”

Lý do?

“Họ lấy của em hai ống máu, nhưng khi nộp máu của em lại để tên người khác, sau em khám phá ra là họ dùng máu của em để nộp hồ sơ nhân viên ma, và lại thắc mắc, nên kỳ này chủ nhất định hủy hợp đồng sớm.”

Hạnh đang nương náu ở “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,” để nhờ giúp đỡ kiện chủ đòi số lương trả thiếu và bắt buộc phải cho làm việc hết hợp đồng.

“Em muốn về Việt Nam với gia đình lắm, nhưng không thể bỏ cuộc, vì về bây giờ là tiền đóng cho môi giới bị mất hết” Hạnh chia sẻ.

Những nỗi niềm người mẹ

Bà Riếp, 52 tuổi, quê ở Bến Tre, có con gái làm cô dâu Ðài Loan, chết ngày 28 tháng 6, được cảnh sát Ðài Loan viết thư về Việt Nam gọi qua nhận xác con. Bà đến Ðài Loan vào ngày 1 tháng 9.

Bà Riếp khóc và cho phóng viên nhật báo Người Việt biết, là cảnh sát nói con bà tự tử, nhưng bà đã vào thăm xác con và không tin.

“Tôi vừa qua đến đây thì bị cảnh sát Ðài Loan ép phải ký giấy thiêu xác con, nhưng con chết mà không rõ nguyên do, tôi không đành lòng thiêu nó.”

Bà đang nương náu ở đây để nhờ văn phòng trợ giúp đòi nhà chức trách mang xác đi giảo nghiệm để tìm ra nguyên nhân cái chết của con.

Ôm hình đứa con gái, bà Riếp nói chuyện với bất cứ ai có thì giờ để nghe bà kể lể.

Em Thương, năm nay 26 tuổi, quê ở Nam Ðịnh qua đây gặp phải một công ty sắp bị phá sản.

Em làm công việc dập hàng điện tử.

Cũng như Lê Thân, Thương đang chờ chủ bồi thường. Em kể: “Chủ đề nghị đền bù 30 ngàn Ðài Tệ, tính ra chưa được $1,000, em không chịu.”

“Em còn trẻ thế này mà đã tàn tật rồi chị ạ.”

Ðang nhờ văn phòng cha Hùng trợ giúp pháp lý, Thương cho biết em “thất vọng về đất nước mình nhiều lắm,” vì “ở nhà thì thông tin sai lạc không đầy đủ,” còn ở đây thì văn phòng liên lạc của Việt Nam “hoàn toàn không giúp đỡ gì.”

Linh Mục Nguyễn Văn Hùng than với phóng viên nhật báo Người Việt là văn phòng cha làm mãi không hết việc.

“Hiện giờ văn phòng có khoảng 40 em đang tạm trú, nhưng tôi chắc chắn còn rất nhiều trường hợp khác mà chúng tôi chưa biết đến.”

Cũng theo Linh Mục Hùng thì tình trạng không thấy có gì sáng sủa lên vì Bộ Lao Ðộng Ðài Loan chỉ có một khả năng rất hạn chế trong việc cai quản người lao động và bảo vệ quyền lợi của họ.

Ví dụ, luật Lao Ðộng Căn Bản cho phép những công nhân nước ngoài được quyền thưa kiện nếu chủ nhân vi phạm những quyền căn bản của họ, nhưng trên thực tế, sự bảo vệ này không có hiệu quả, vì người lao động không có khả năng tài chánh để khởi sự một vụ kiện. Vì thế, thay vì truy tố những chủ nhân bóc lột hay ngược đãi mình, đa số phải lựa chọn hoặc lặng lẽ tìm cách về nước, tự động chấm dứt hợp đồng của mình, hay bỏ trốn và ra ngoài tìm cuộc sống bất hợp pháp.

Trong một bài viết phân tích về tình trạng “Lao Ðộng Di Dân” tại Ðài Loan, ông Wu Jing-Ru, tổng thư ký TIWA (Taiwan International Workers Association) vạch ra năm vấn nạn lớn trong chính sách lao động nước ngoài của Ðài Loan, gồm có: Giới hạn đối với thời gian làm việc (hợp đồng ký chỉ 2 năm), hệ thống môi giới, Luật Lao Ðông Căn Bản không thích ứng với thực tế của công nhân nước ngoài, như không cho họ quyền được thành lập công đoàn lao động và lựa chọn chủ nhân.

Ông Wu cho rằng chính sách phân biệt đối xử của Ðài Loan đã tạo ra tình trạng những công nhân nước ngoài bị bạc đãi, hành hạ, và bóc lột, và những tổ chức phi chính phủ phải kết hợp với nhau trong việc đấu tranh để đòi chính quyền thay đổi chính sách.

Linh Mục Nguyễn Văn Hùng thì cho rằng nguyên nhân chính nằm ở Việt Nam, vì vấn đề là đời sống của người công nhân ở Việt Nam quá khó khăn, khiến họ phải mạo hiểm tìm lối thoát.

“Chỉ có ở Việt Nam là nơi chính phủ biến người công nhân thành ra con nợ trước khi người ta có cơ hội làm ra tiền.”

Công nhân và cô dâu Việt xứ Ðài (Kỳ 4)

Hà Giang/Người Việt

ÐÀI BẮC (NV) Nằm trên một ngọn đồi ngoằn ngoèo, Taipei Detention Center, là nhà tù hiện đang giam giữ trên dưới một trăm “Lao Ðộng Di Dân” người Việt Nam bỏ trốn, sinh sống và làm việc tại Ðài Loan bất hợp pháp và chẳng may bị bắt.

Công nhân người Việt Nam bỏ trốn, ra ngoài sinh sống và làm việc tại Ðài Loan bất hợp pháp, bị bắt giam tại Taipei Detention Center. Họ vui mừng tiếp xúc với phái đoàn của “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,” để nhờ giúp đỡ. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Khi phái đoàn của “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam,”đến nơi thì đã hơn mười giờ sáng. Bên phía tù nam, trong một phòng giam tập thể, 52 thanh niên Việt Nam, tất cả đều dưới tuổi 30, trong y phục tù màu đỏ, ngồi bệt xuống đất. Họ đang ngồi đó để chờ người quản tù vào điểm danh.

Phía bên tù nữ, trong một phòng giam tập thể tương tự, 46 thiếu nữ Việt Nam, tuổi cũng còn rất trẻ, cũng trong y phục tù màu đỏ, cũng đang ngồi dưới đất chờ điểm danh.

Ðiểm danh xong, giờ thăm tù bắt đầu.

Phái đoàn của cha Hùng từ “Văn Phòng Trợ Giúp Lao Ðộng Di Dân và Cô Dâu Việt Nam” vào thăm các tù nam trước.

Vừa thấy bóng cha, các “tù nhân” trẻ ùa nhau đến đứng bám sát vào chấn song chia cách họ. Có em đưa cả cánh tay ra ngoài song sắt để vẫy chào và bắt tay phái đoàn.

“Cha khỏe không cha?”

”Cha có mang sách báo cho tụi con không cha?” Các em nhao nhao lên.

“Có bao nhiêu sách báo cha mang đến tuần trước hết rồi, các con xem nhanh thế?”

”Trời, chỉ có mấy cuốn báo, chúng con chia nhau đọc nghiến một cái thì hết. Có cuốn đọc đi đọc lại mãi.”

”Thôi để cha tìm cách xin thêm sách báo rồi gửi vào cho các con.” Cha Hùng cười hiền lành.

Rồi cha cao giọng: “Hôm nay cha mang vài người đến thăm các con.”

“Ðâu, đâu, họ người Việt Nam hở? Người Việt Nam hở?” Các em lại nhao nhao lên.

“Họ là các ký giả bên Mỹ qua, các con có chuyện gì cứ nói cho họ nghe.”

“Hôm nay có nhiều người mới đến không?”

“Dạ có cha, hôm qua họ mới mang thêm 5 người mới đến.”

“Những người mới cần văn phòng giúp đỡ thì điền vào tờ giấy này nhé.” Cha Hùng nói, và người phụ tá đưa ra một xấp đơn đưa qua các song sắt cho các em.

“Tuần này họ cho ăn uống ra sao các con?”

“Bình thường thôi cha.”

“Có ngon hơn bên ngoài không?” Cha Hùng hỏi đùa.

Các em cười ồ lên.

“Tuần này họ có cho các con ra ngoài sinh hoạt không?”

“Thì đó, đang sinh hoạt đó!” Một em pha trò.

Lại có những tiếng cười ồ lên. Tuổi trẻ có những lúc thật hồn nhiên, bất kể hoàn cảnh.

Một em khác, nghiêm túc hơn, lên tiếng giải thích: “Tụi em sinh hoạt ăn uống ở trong phòng nay hết, chị nhìn mấy cái giường chồng kìa.”

“Tụi em ở tù có khổ lắm không? Có bị hành hạ không?”

“Thật ra cũng không khổ lắm, không bị hành hạ, chỉ bị tù túng, ăn, sinh hoạt, ngủ, ở đều ở đây. Họ không làm cho mình khổ quá, chỉ làm làm cho mình tù túng, chán để bỏ về thôi.”

Hỏi han trò chuyện xong, giờ “làm việc bắt đầu.” Họ cứ như thế, cha Hùng và người phụ tá đứng ngoài, các “tù nhân” đứng bên trong song sắt.

Một số các thanh niên Việt Nam xuất khẩu lao động qua Ðài Loan bỏ trốn đang sống lẩn lút ở những chung cư hẻo lánh tại Ðào Viên. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Các em cần giúp đỡ đều tìm cách đứng gần phái đoàn của cha, vừa điền đơn vừa hỏi cách điền, vừa bỏ chỗ đứng chạy lại chỗ giường mình nằm lúi húi tìm giấy tờ, rồi lại đến gần cha để tiếp tục.

Qua câu chuyện, người ta được biết tất cả các em bị giam ở đây đều là những người “LaoÐộng Di Dân” bỏ trốn.

Mỗi em bỏ trốn vì một lý do, một hoàn cảnh, nhưng tựu trung là hoặc vì điều kiện làm việc khó khăn, lương trả thiếu. Cũng có em bị chủ, vì kinh tế khó khăn, tự động hủy hợp đồng, bắt các em về nước sớm.

Ða số các em không thể về, vì về thì không đủ tiền trả nợ.

Em Lý Văn Tuấn, 30 tuổi, Hưng Yên, cho phóng viên nhật báo Người Việt biết, em mới làm việc được mười bẩy tháng, chưa hết hợp đồng, nhưng hãng hết việc, nên công ty mội giới bảo em đi về.

“Em bảo về cũng được, em cũng nhớ nhà rồi, nhưng mà lúc đi em đóng hết 6,000 đô, mà chưa hết hợp đồng phải về thì lấy tiền đâu trả nợ?” Em Tuấn tâm sự.

Cũng theo lời kể của Tuấn, em trốn ở ngoài hơn một năm thì bị bắt và bị cảnh sát nhốt ở đây.

”Em ở đây hơn một năm rồi mà chưa có án gì hết, em đang hy vọng là văn phòng cha Hùng có thể giúp được.”

Cha Hùng có thể giúp em được gì ?

“Trước khi em bỏ trốn thì môi giới bảo là nếu mày không chịu về nước, mày bỏ trốn mà bị bắt thì tao không trả hộ chiếu, tao sẽ giam hộ chiếu 3, 4 tháng mới cho mày về.”

”Em đang nhờ cha Hùng giúp đòi tiền lương chủ còn thiếu, và lấy hộ em tiền tiết kiệm.”

“Có ai ở đây hơn 3 tháng rồi mà chưa có án không?” Cha Hùng hỏi.

“Có con, cha! Con ở trong này 5 tháng rồi mà chưa có án, cha!”

Chưa có án có nghĩa là hồ sơ chưa ai giải quyết cả, và “tù nhân” cứ việc “bình thản” tiếp tục ở tù.

Còn đã có án, như kiện thưa chủ đã xong, ngã ngũ có đòi hay không đòi được tiền, mà chưa ở tù hết án thì phải ở tiếp, còn nếu đã ở tù đủ hạn, thì phải về Việt Nam.

“Có ai còn vấn đề gì khác nữa xong?”

“Con xong án rồi, nhưng không có tiền mua vé máy bay về Việt Nam, cha!”

“Rồi, lát nữa nói chuyện riêng với cha sau.”

Em Trinh, 28 tuổi, quê ở Thái Bình cho phóng viên nhật báo Người Việt biết em đang làm việc thì bị máy đè lên chân, và trong thời gian điều trị, chủ dùng tiền lương của em để trả tiền nhà thương, sau đó, lại cho nghỉ việc sớm, nên em đành bỏ trốn.

Em cho biết em lẩn trốn và làm việc bất hợp pháp đã được hai năm, và cũng đã để dành được một ít tiền gửi về nhà.

“Bây giờ em xui bị bắt thì đành phải về thôi, nhưng về bây giờ cũng còn có thêm được một số tiền, còn nếu em không trốn thì chắc chắn không đủ tiền trả nợ.”

Giã từ các em tù nam, chúng tôi ghé qua thăm bên tù nữ.

Cũng nhưng khuôn mặt trẻ nhưng ưu tư, cũng những câu chuyện tương tự, nhưng với bên nữ thì lý do đào tẩu còn có thêm việc bị chủ sách nhiễu tình dục.

Tình trạng ngày càng có nhiều “Lao Ðộng Di Dân” đào tẩu là một vấn đề nan giải mà Bộ Di Trú và Bộ Lao Ðộng Ðài Loan chưa tìm ra được biện pháp đối phó một cách hữu hiệu, và không biết bao giờ mới có thể đối phó hữu hiệu nếu những lý do cốt lõi như tiền môi giới quá cao, luật lao động căn bản không bảo vệ được người lao động di dân.

Hết giờ thăm, phái đoàn cha Hùng rời Taipei Detention Center, mang theo một xấp hồ sơ mới của những trường hợp cần giúp đỡ.

Phái đoàn chưa bước ra hẳn khỏi cửa, thì bốn ông cảnh sát Ðài Loan bước vào nhà tù, áp tải thêm 9 người “Lao Ðộng Di Dân” Việt Nam mới sắp sửa bước vào vòng lao lý.

Lẩn trốn đâu đó ở Ðào Viên, còn có nhiều thanh niên lao động bỏ trốn chưa bị phát giác, như những người chúng tôi đã đến thăm khuya hôm qua.

“Thông tin giả dối, ao ước muốn thoát đói nghèo, và sự sơ hãi của người công nhân, tất cả quyện vào nhau tạo thành những trường hợp bi thảm.”

Có cách nào giúp cho người xuất khẩu lao động Việt Nam tránh được những hoàn cảnh này?

Em Lê Thân chia sẻ một nguyện vọng: “Sau khi về nước, có lẽ em sẽ dùng kinh nghiệm bản thân để phổ biến những kiến thức mà người đi xuất khẩu lao động cần phải biết.”

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: