Welcome to BEAR’s BLOG!!!

24-10-2010: …

Posted by BEAR on Tháng Mười 25, 2010

LŨ LỤT

Cho đến 22/10, số người chết vì lũ lụt tuần qua ở miền Trung VN lên tới 75 sau đợt mưa to, 140 cm kéo dài nhiều ngày, gây thiệt hại nặng cả về nhà cửa, hoa màu.

Cũng trên truyền thông Việt Nam đang có các tiếng nói nêu ra ý kiến cho rằng ngập lụt một phần do thiên tai, một phần do việc xây cất đập thủy điện và công trình giao thông làm biến đổi dòng chảy tự nhiên của nước sông suối.

“Ngoài thủy điện còn giao thông nữa. Chắn các tuyến đường dọc, đường Quốc lộ 1A lại được nâng cao lên, có các đường ngang nên có úng cục bộ, ngập vào nhà dân.”

Lũ càng trầm trọng do phá rừng, xây thuỷ điện

Nên có quỹ bảo hiểm thiên tai

Y TẾ

NDĐT- Tiến sĩ Nguyễn Hải Hữu, Cục trưởng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho biết, một trong nhiều mục tiêu của chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2011 – 2020 là giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em Việt Nam xuống còn 20%.

Hiện nay, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi ở nước ta còn ở mức cao, khoảng 31,9%, nằm trong nhóm 20 quốc gia cao nhất thế giới.

Khó quản vì… khuyến mãi?

Ông Quang cho biết các bệnh viện (BV) đã có biện pháp nhằm tránh tình trạng bác sĩ được ăn hoa hồng, tự ý kê bệnh án “lạ” nhưng ngoài BV, việc kiểm soát còn hạn chế.

DN chỉ được khuyến mãi trong vòng 90 ngày, làm ở nơi nào phải xin phép Sở Công Thương nơi đó. Tuy nhiên, có một nghịch lý trong khuyến mãi thuốc hiện nay là bệnh nhân, khách hàng quan trọng nhất của sản phẩm, lại không được hưởng khuyến mãi mà khâu trung gian phân phối sản phẩm là các nhà thuốc, thầy thuốc được hưởng.

Vẫn chưa có giá thuốc tối đa

KINH TẾ

SGTT.VN – Trong giờ giải lao tại Quốc hội, báo SGTT đã phỏng vấn ông Cao Sĩ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, về thực trạng doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Việt Nam trong mối tương quan với khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Ông Cao Sỹ Kiêm, chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Ảnh: TL

Trong khoảng một năm gần đây, có nhiều dấu hiệu xấu về hiệu quả sản xuất, kinh doanh của khối DNTN, theo ông là vì sao?

Thực tế số lượng doanh nghiệp đăng ký vẫn tăng nhiều, phạm vi đăng ký kinh doanh cũng mở rộng. Nhưng rõ ràng chất lượng chính sách, điều kiện để DNTN hoạt động thuận tiện, dễ dàng thì nó không cải thiện tương xứng. Sức cạnh tranh của khối này cũng bị yếu đi nhiều. Qua hàng loạt khó khăn như lạm phát cao hồi năm 2007 rồi lại đến tác động của khủng hoảng tài chính 2008-2009, những khó khăn kinh tế trong nước gần đây nữa thì hiệu quả kinh doanh của khối DNTN càng kém đi mà nó thể hiện rõ nhất là lợi nhuận của khu vực này giảm mạnh, thấp nhất trong các khu vực kinh tế, theo như kết quả khảo sát mới nhất của một số cơ quan, tổ chức nghiên cứu kinh tế như UNDP, viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

Gần đây không thấy có chính sách nào mới mẻ hơn để hỗ trợ khu vực này cho dù đóng góp về ngân sách của DNTN không thua kém các khu vực khác?

Cũng có một số văn bản mới ban hành như nghị định 56/NĐ-CP của Chính phủ, hay dự thảo kế hoạch 5 năm cũng có nói đến vai trò của DNTN. Nhưng tất cả là mới dừng lại ở chủ trương chưa có những việc giải quyết cụ thể để doanh nghiệp được hưởng lợi. Những gì họ cần như về mặt bằng sản xuất, hỗ trợ công nghệ, đào tạo nhân lực…chưa có. Khoảng cách từ chủ trương đến kết quả thực hiện cụ thể chưa thấy cải thiện được bao nhiêu.

Trái lại, các doanh nghiệp nhà nước vẫn được hỗ trợ rất cụ thể như khoản vay ADB 630 triệu USD mới đây hay Chính phủ dành khoảng 5000 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước năm 2011 đầu tư cho một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Ông có nghĩ rằng, nếu như kinh tế nhà nước còn giữ vai trò chủ đạo thì những hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước vẫn rất cụ thể mà chính sách cho DNTN càng mơ hồ hơn?

Trước đây người ta nói vai trò chủ đạo của doanh nghiệp quốc doanh, gần đây người ta chuyển sang khái niệm kinh tế nhà nước. Thì ở đây nó bao gồm cả các cơ quan kinh tế của nhà nước, thí dụ như khối tài chính, ngân hàng, chỉ 2 khối này thôi đã rất lớn. Còn doanh nghiệp nhà nước là một thành phần của khu vực kinh tế nhà nước thì thực sự nó có vấn đề, đặc biệt là các tập đoàn. Riêng khối tập đoàn, thí điểm nhiều mà đến nay còn chưa tổng kết, nên có những yếu kém chưa uốn nắn được. Nên vấn đề đặt ra là chất lượng, hiệu quả ở nhiều doanh nghiệp nhà nước yếu kém như vậy mà mình lại tập trung quá vào đây thì nó lại hút hết nguồn lực của các anh khác. Nên tôi cũng cho là, DNTN vì thế lại càng khó khăn.

Vinashin đại diện cho sự thiếu hiệu quả trong làm ăn của các tập đoàn nhà nước. Ảnh: TL

Theo ông, trong giai đoạn mới, khối doanh nghiệp nhà nước chỉ nên làm gì?

Theo tôi cái gì là thiết yếu nhất có thể là về ngân hàng, điện lực, thuốc trừ sâu, vật liệu nổ…thì nhà nước giữ lại. Hoặc những cái khó nhất, ảnh hưởng đến quốc kế, dân sinh, đến an sinh xã hội mà không ai làm tốt hơn DNNN thì DNNN làm. Còn các lĩnh vực khác nên xã hội hóa, mở ra nhanh hơn, tạo bình đẳng cho các thành phần kinh tế khác phát triển.

Nhưng thực tế nguồn lực hiện nay: đất đai, vốn, khoáng sản… tập trung riêng trong khối tập đoàn, tổng công ty đã rất lớn? Làm sao có thể sớm giải phóng, chia sẻ nguồn lực từ khối này ra xã hội để các thành phần kinh tế khác cũng được sử dụng?

Lối thoát dễ thấy nhất, có thể thực hiện nhanh nhất chính là cổ phần hóa, cho tư nhân vào làm cho vai trò chủ đạo, vai trò khống chế của “anh” (nhà nước) nó tụt xuống. Như tổng công ty Hàng không Việt Nam, sao không thể cổ phần hóa nhanh được? Và thực tế chúng ta đã thấy, một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa xong như tập đoàn Bảo Việt, Vinaconex…đều hoạt động hiệu quả hơn so với trước đây. Anh nào có nhiều vốn, quản trị tốt góp vào thì vai trò của anh bật lên. Đó là con đường nhanh nhất, hiệu quả nhất, làm chuyển biến cơ cấu kinh tế đã được chứng minh ở nhiều quốc gia thì ta không nên trì hoãn thực hiện.

Song song quá trình đó thì ta nên xóa triệt để bao cấp, xóa triệt để ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước. Vì nếu còn bao cấp, còn ưu tiên ở đâu thì không thể nào khiến khu vực kinh tế tư nhân bứt lên được, làm cho kinh tế hiệu quả lên được. Nếu như chính sách như nhau, bằng nhau, tôi tin chắc doanh nghiệp tư nhân sẽ vượt lên.

Chưa tính đúng, tính đủ

Về phương diện sử dụng nguồn lực, theo số liệu thống kê chính thức, tỷ trọng vốn đầu tư và tín dụng của khu vực DNNN đã giảm một cách đáng kể lần lượt từ 57% và 37% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 45% và 31% trong giai đoạn 2006-2009. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do chương trình cổ phần hóa DNNN, nhưng quan trọng hơn là do khu vực dân doanh đã lớn mạnh không ngừng kể từ khi ra đời Luật Doanh nghiệp 1999 và do dòng vốn FDI ồ ạt chảy vào Việt Nam cùng với tiến trình Việt Nam gia nhập WTO.

Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư và tín dụng theo số liệu chính thức chưa thực sự phản ánh đầy đủ thực trạng chiếm dụng nguồn lực của khu vực DNNN.

Về phương diện đầu tư, nhiều khoản đầu tư của Nhà nước cho các DNNN không nằm trong ngân sách, đồng thời nhiều khoản đầu tư của các DNNN, đặc biệt là của các tập đoàn và tổng công ty, được thực hiện qua các công ty con, và do vậy không được phản ánh một cách đầy đủ vào tổng đầu tư của khu vực này.

Bên cạnh đó, nhiều DNNN, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải, hàng không, viễn thông, được sử dụng cơ sở hạ tầng từ nguồn đầu tư trực tiếp của Nhà nước.

Tương tự như vậy, về phương diện tín dụng, DNNN nhận được rất nhiều tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển trước đây và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay nhưng không nằm trong cơ sở dữ liệu của hệ thống ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tín dụng dành cho các công ty con, công ty sân sau (kể cả doanh nghiệp cổ phần hóa) của nhiều tập đoàn và tổng công ty cũng không được thống kê đầy đủ.

Đấy là chưa kể đến một thực tế hiển nhiên là khu vực DNNN được hưởng rất nhiều đặc quyền, đặc lợi so với các khu vực còn lại. Cụ thể là DNNN được Nhà nước cấp đất kinh doanh, hoặc nếu phải thuê thì với mức giá không đáng kể so với giá trị thị trường, sau đó được sử dụng đất thuê để thế chấp vay vốn ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp tư nhân không có lựa chọn này. Các DNNN, với sự hậu thuẫn của Nhà nước, cũng được ưu tiên tiếp cận tín dụng (trong nhiều trường hợp thông qua tín dụng chỉ định) và ngoại tệ khan hiếm với giá thấp hơn giá thị trường.

Mức đóng góp ngày càng giảm

Bức tranh đã rõ

Nói tóm lại, khu vực nhà nước ở Việt Nam hiện chiếm hữu rất nhiều nguồn lực nhưng sử dụng chúng một cách kém hiệu quả, đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sách, tăng trưởng GDP, tạo việc làm mới, phát triển công nghiệp, và xuất khẩu.

Trong khi đó, khu vực dân doanh hiệu quả hơn, đang ngày một trưởng thành và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế lại bị chèn lấn, thiếu nguồn lực, và phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh không bình đẳng.

Ở một nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, luôn luôn khát vốn và có áp lực tạo việc làm mới lớn như Việt Nam thì năng lực sử dụng vốn một cách hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu là những tiền đề thiết yếu để giúp đất nước phát triển.

Để đạt được những điều này, trước hết cần từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này. Thay vào đó, Nhà nước cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, giúp cho khu vực dân doanh ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế quốc dân.

TT – Chính phủ vừa có báo cáo Quốc hội về tình hình cho các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng. Theo đó, các dự án thuê đất trồng rừng, chế biến gỗ chủ yếu hợp tác với Trung Quốc, vốn đầu tư không nhiều, giải ngân ít nhưng chiếm diện tích không nhỏ…

Đến ngày 10-8-2010, cả nước có tám dự án 100% vốn nước ngoài khác, trong đó một dự án chỉ trồng rừng, số còn lại là trồng kết hợp chế biến gỗ. Tổng vốn đầu tư của tám dự án, theo Chính phủ, chỉ khoảng 280 triệu USD. Đáng lưu ý, báo cáo nêu rõ trong tổng vốn đăng ký trên, vốn thực giải ngân chỉ đạt khoảng 22 triệu USD – chưa đến 10% vốn đăng ký.

Trong khi đó, tổng diện tích được cấp theo giấy chứng nhận đầu tư của các dự án trực tiếp trồng rừng khoảng 342.000ha.

Theo báo cáo của Chính phủ, sau 11 năm kể từ năm 1995, cả nước chỉ có một dự án trồng rừng có vốn nước ngoài tại Bình Định. Sau đó, theo Luật đầu tư, việc cấp phép được phân cấp cho UBND các tỉnh, ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp… Vì vậy từ năm 2006-2010, có bảy dự án mới được cấp phép còn hoạt động. Ngày 9-3-2010, Chính phủ đã yêu cầu tạm dừng cấp phép mới.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: