Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Bao tủi nhục ê chề khi bán hàng rong!

Posted by BEAR on Tháng Một 28, 2011

Bao tủi nhục ê chề khi bán hàng rong!

SGTT.VN – Câu chuyện chiếc bình sứ vỡ trên SGTT ngày 24.1.2011 chỉ là một trong hàng loạt những câu chuyện tương tự xảy ra hàng ngày trên các tuyến đường tại TP.HCM hiện nay.

Hình ảnh những người buôn bán hàng rong miệng thì đang mời chào, tay thì đang thoăn thoắt bán hàng trong khi mắt thì luôn dáo dát xem có xe cảnh sát hay dân phòng đã không còn là lạ đối với người dân từng sống tại đây.

Để tồn tại và sống được với đời, biết bao nhiêu người đã ráng đè nén những nhọc nhằn.

Xe bún riêu đã nuôi hai đứa con học đại học

Người phụ nữ trong bài viết này cũng có câu chuyện gần giống với chị Nguyễn Thị Sinh (trong ảnh), với gánh hàng rong nuôi con vào đại học. Ảnh: Lâm Gia

Cái ngày thằng em tôi bắt đầu bước chân vào giảng đường đại học cũng là lúc hai vợ chồng dì tôi đã phải bỏ lại nhà cửa mới vừa cất xong, ở chưa đầy hai tháng, bỏ lại ruộng vườn, bỏ lại bàn thờ tổ tiên, bỏ lại quê hương miền trung thân thương để cùng với con “đi học”.

Không phải đi học chữ, hai vợ chồng dì tôi bắt đầu học cách sống tại nơi thị thành, học cách chen chúc trong căn phòng trọ tồi tàn, chật chội và quan trọng nhất là học nấu bún riêu để ngày ngày đẩy xe đi bán dạo kiếm tiền nuôi con ăn học. Cuộc sống buôn gánh bán bưng của dì tôi cũng bắt đầu từ đây.

Để kiếm được tiền đủ để trang trải cho cuộc sống, trả tiền nhà trọ, lo tiền cho một đứa con đi học đại học, một đứa đang học lớp 10 ở quê và biết bao chi phí khác, … hai vợ chồng dì tôi đã làm việc quần quật suốt ngày với xe bún riêu đi bán dạo trên phố (có lúc cũng dừng lại trên vĩa hè để bán).

Trong thời gian đẩy xe hàng rong đi bán, đã không biết bao nhiêu lần bị công an phường nhắc vì tội lấn chiếm lòng lề đường và cũng đã hai lần bị tịch thu xe và “đồ nghề” đưa về phường, bị phạt. Tuy nhiên, dì tôi vẫn phải tiếp tục công việc ấy vì không có sự chọn lựa nào khác khi không có nghề nghiệp, vốn liếng.

Thời gian cũng qua mau, sự khổ nhọc cũng mang lại kết quả mĩ mãn. Đứa con đầu, rồi đứa thứ hai cũng đã xong đại học. Chúng được học hành tử tế, có cái nghề để tự bương chải mà sống. Dì tôi đã mãn nguyện. Bà chỉ nghĩ đơn giản rằng, có lẽ cuộc đời của con sẽ khá hơn, chúng sẽ dề dàng kiếm được một công việc đoàng hoàng, sẽ không vừa làm vừa thấp thỏm lo như mẹ nó.

Nhiều người đã nhìn dì tôi với ánh mắt cảm phục. Với chiếc xe bún riêu, bà đã nuôi hai thằng con học xong đại học. Nếu ngày trước bà không nhất quyết ra đi, không tham gia vào “đội quân” bán hàng rong thì có lẽ việc lo cho hai thằng con ăn học có nhiều khả năng gãy gánh giữa chừng. Quả là một kỳ tích.

Có mấy hãnh diện khi làm người bán hàng rong?

Có thể nói rằng, “đội quân hàng rong” đa phần là những người từ khắp các vùng quê nghèo vào TP.HCM làm ăn, sinh sống. Ảnh: L.H.T

Câu chuyện có thực về dì tôi kể trên cũng chỉ là một trong vô số những câu chuyện về mỗi con người đang ngày đêm chấp nhận cảnh buôn gánh bán bưng. Họ đang bấu víu tại các đô thị tìm kế sinh nhai với cái nghề bán hàng rong.

Dẫu biết rằng phải đối diện với những cơ cực trăm bề, bao nỗi buồn khi phải xa nhà, xa quê hương, bao tủi nhục ê chề khi thường xuyên phải chạy trốn, bị xua đuổi nhưng với họ hầu như không có sự chọn lựa nào khác.

Có thể nói rằng, “đội quân hàng rong” đa phần là những người từ khắp các vùng quê nghèo vào TP.HCM làm ăn, sinh sống. Nhiều người đã gặt hái được những thành công “vĩ đại” như dì tôi. Thậm chí một số người đã đổi đời cũng từ gánh hàng rong. Vậy đó, nhưng nếu như họ cứ mãi một nắng hai sương với ruộng đồng, trong khi những thiên tai, mất mùa liên tiếp xảy ra, nhất là ở các tỉnh miền trung như trong những năm qua thì đến cái ăn, cái mặc còn thiếu thốn chứ đừng nói chi đến của dư của để và lo cho con ăn học.

Dẫu biết rằng việc buôn bán hàng rong đã làm cho bộ mặt TP.HCM thêm phần nhếch nhác hơn. Ngoài ra một số mặt hàng thực phẩm hàng rong cũng chứa đựng nhiều rủi ro về an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Tuy nhiên, những biện pháp cấm đoán người bán hàng rong của TP.HCM trong những năm vừa qua đã không phát huy được tác dụng nếu không nói là tình trạng hàng rong vẫn cứ gia tăng.

Có cung thì ắt có cầu. Đó là quy luật. Nếu cấm đoán thì hàng rong vẫn sẽ tồn tại và chắc chắn sẽ biến tướng thành nhiều dạng khác.

Có thể quan sát và khẳng định rằng số lượng người dân đang sống bằng công cụ bán hàng rong là rất lớn. Trong thời điểm hiện nay và có thể là trong tương lai, hàng rong tại TP.HCM vẫn sẽ phát triển và có đất sống. Như vậy tốt nhất là chấp nhận sống chung với hàng rong và cứ xem hàng rong như một nét văn hóa đặc sắc của thành phố.

Để giải quyết được những tồn tại, những mặt trái của tình trạng bán hàng rong, trước tiên cần phải có những quy định, những công cụ quản lý phù hợp. Quan trọng nhất, những người thực thi những quy định ấy phải đối xử thực sự công bằng giữa những người bán hàng rong với nhau, giữa những người buôn bán cố định với những người bán hàng rong, …

Về lâu dài, cần có chính sách hỗ trợ công ăn việc làm, cải thiện thu nhập của người dân ở các vùng nông thôn, giảm thiểu tình trạng di cư ồ ạt. Nếu không có nghề nghiệp, không có việc làm ổn định thì tình trạng di cư vẫn cứ tiếp diễn, khi đó hàng rong vẫn sẽ cứ tồn tại và những mặt trái do nó gây ra cho xã hội vẫn sẽ gia tăng. Đây là điều không thể nào tránh khỏi.

Có lẽ không ai cảm thấy sung sướng và hãnh diện khi phải làm người bán hàng rong ngày ngày rong ruổi đến từng hang cùng ngõ hẻm. Chỉ vì cuộc sống mưu sinh mà phải chấp nhận. Nếu cuộc sống người người được đảm bảo, những lo toan thường nhật giảm dần, khi ấy tình trạng buôn bán hàng rong tự khắc sẽ giảm. Chắc chắn là như thế.

Hàng rong chèo kéo khách thành “ấn tượng du lịch”?

TO – Hiện nay Khánh Hòa đã ra tay chấn chỉnh việc bán hàng rong chèo kéo khách du lịch dù có hơi muộn. Tuy nhiên, muộn còn hơn không, xin hoan nghênh chủ trương nầy.

Có lẽ không ít người từng là nạn nhân của tình trạng chèo kéo, bán hàng rong tại các chợ, khu du lịch, tham quan… Và cũng có thể nói không ít người mua bán đó nhẹ thì chặt chém giá cao, bán hàng dỏm, hàng giả; nặng hơn thì lường gạt, móc túi, trộm cắp tiền bạc, tư trang của du khách.

Và rõ ràng họ rất làm phiền du khách, cản trở cuộc vui, tham quan, tìm hiểu, gây tâm  lý bất an, mất cảm hứng cho một chuyến du lịch.

Những vị khách nước ngoài liên tục khoát tay từ chối vẫn bị một người bán hàng rong đeo bám quyết liệt trên đường phố  Hà nội – Ảnh: internet

Tôi không hiểu sao tình trạng trên cứ tồn tại mãi ở một số địa phương lớn vốn rất đông khách du lịch như: Hà Nội, TP.HCM, Vũng Tàu…  trong khi thành phố Đà Nẵng đã khá kiên quyết với tệ nạn này. Tôi nghĩ có lẽ chỉ vì không quyết tâm làm tới nơi, tới chốn mà thôi.

Tết Nguyên đán đã gần đến. Hà Nội, TPHCM cũng như nhiều tỉnh thành sẽ có nhiều khách nước ngoài tìm đến đến. Đừng để hàng rong chèo kéo khách trở thành “ấn tượng du lịch” của đất nước chúng ta.

Nặng gánh hàng rong trong lòng thành phố

Quỳnh Chi, phóng viên RFA
2011-01-06

Các gánh hàng rong từ lâu là một hình ảnh quen thuộc và cũng là một kế mưu sinh của bao người dân Việt; đến nỗi người ta quên quan tâm đến nó.

RFA photo 

Một gánh hàng rong trên vỉa hè đường Đồng Khởi, một con đường sang trọng ở SG. Ảnh chụp tháng 7/2010.

Nhân có luật mới về an toàn thực phẩm với những quy định vệ sinh cho hàng rong vào năm tới, Quỳnh Chi có bài tường trình về tình hình liên quan.

Một cách mưu sinh

Ở Sài Gòn, tìm một người có hoàn cảnh khó khăn không hề khó và nếu tìm một người bán hàng rong lại càng dễ dàng. Họ có thể là dân địa phương, cũng có thể từ mọi nơi trên đất nước nhưng đều có một điểm chung: mưu sinh bằng một gánh hàng rong.

Chị Phương, người gốc Tiền Giang trôi dạt đến xóm nhỏ thuộc An Sương – Hóc Môn lập nghiệp. Chị Phương kể về hoàn cảnh của mình:

“Ở dưới quê, công ăn việc làm rất là hạn hẹp. Cắt lúa thì không phải lúc nào cũng có cho mình cắt vì nó có mùa. Gia đình gặp chồng hay nhậu nhẹt, nhà lại neo đơn. Có con đi học mà không có tiền lo cho nó nên mình phải tìm cách làm ăn ở chỗ khác khá hơn”.

Thường những người không có nỗi một chỗ buôn bán cố định, phải đạp xe lộc cộc hay quảy gánh trên vai đều có chung những hoàn cảnh tương tự như thế. Nó như một điểm chung để bàn tay số phận đưa họ đến với nhau.

Những người này hay tập trung ở những thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn hay Hà Nội vì ở đây đất chật người đông lại có nhiều xí nghiệp nhà máy, kiểu gì cũng có thể kiếm ra tiền.

Chị Giang, sống tại quận 2 TPHCM, nơi có nhiều dân nhập cư kiếm sống bằng hàng rong nhận xét:

Quán ăn lề đường thì tụi em ăn rất nhiều, tuổi học trò mà. Nếu mà so với tuổi teen của tụi em, nó rẻ và phù hợp.

Chị Hồng, TPHCM

“Miền Trung hay dưới quê, nhiều khi những người già cũng nghèo khổ, người ta phải lên đây kiếm sống thôi. Cuộc sống ở quê khó khăn nhưng cũng không kiếm ra đồng tiền. Còn ở thành phố mặc dù có cực khổ nhưng có thể kiếm sống. Ở thành phố mà, dù khó khăn cách mấy thì cũng đỡ hơn dưới quê”.

Sinh nhai bằng gánh hàng rong không phải xa lạ với người dân Việt. Những năm gần đây, khi các khu đô thị ngày càng mộc lên, các gánh ấy tìm đến tận những nơi sầm uất, tự nhiên trở thành cái nghề kiếm sống dễ dàng.

Hầu hết những những người tha phương cầu thực bằng hàng rong đều có chung một đặc điểm – sống cho một người khác. Họ tìm đến những thành phố lớn, gặp nhau ở 2 đầu quang gánh vẫn không quên rằng họ đến đây bằng lý do gì thì duy trì bằng lý do ấy. Một trong những lý do ấy là tiết kiệm. Chị Phương cho biết thêm:

“Giỏi tiết kiệm tích góp thì gởi về quê đủ sống, còn sống ở thành phố này thì không đủ đâu. Sống cho những người ở dưới quê, cho thân nhân chứ còn ở đây là tiết kiệm tích góp lắm”.

Dễ dàng để nhận thấy rằng, những người bán hàng rong thường phải sống tằn tiện, thuê những ngôi nhà nhỏ và ăn những bữa ăn xuềnh xoàng, số tiền họ làm được thường phải để dành cho những lý do như thế.

Đáp ứng nhu cầu xã hội

Hàng rong như một hiện tượng tự nhiên từ nhu cầu xã hội, vì nó đáp ứng được các yếu tố nhanh, gọn, lẹ và rẻ .Vậy là đôi quang gánh nhỏ bé từ vùng quê xa xôi, đã len lỏi đến những con phố nhộn nhịp.

hangrong-250-2.jpg
Hàng thủ công mây tre lá được người nước ngoài đặc biệt ưa chuộng, cũng bán rong trên đường phố SG. RFA photo

Chính vì đặc điểm ấy mà ngoài khách du lịch hay vãng lai, học sinh chọn hành rong như một phần trong văn hoá học trò. Hồng, một học sinh vừa tốt nghiệp THPT ở một trường ở quận 10 cho biết hàng rong như một văn hóa học trò. Hồng nói:

“Quán ăn lề đường thì tụi em ăn rất nhiều, tuổi học trò mà. Nếu mà so với tuổi teen của tụi em, nó rẻ và phù hợp. Tụi em có thể tụ tập thành một nhóm mà không sợ ai nhìn ngó”.

Chính vì giải quyết được công ăn việc làm và nhu cầu ăn uống mà hàng rong ngày càng xuất hiện khắp mọi ngõ ngách, bất kể mưa nắng.

Thế nhưng, đôi khi vì sự phát triển đô thị, người ta đổ lỗi cho những quanh gánh quê mùa và muốn dứt bỏ nó ra ngoài xã hội. Những năm gần đây, hàng rong bị cấm tại một số địa hạt trung tâm thành phố.

Mới đây nhất, báo SGGP đã đăng tin luật mới về an toàn vệ sinh thực phẩm nằm trong 10 luật mới sẽ có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2011. Trong đó, chương IV qui định những điều kiện vệ sinh cho thức ăn đường phố, bao gồm hàng rong. Việc này nhằm nâng cao phẩm chất vệ sinh cho thức ăn đường phố vì theo các nhà làm luật, “thức ăn này không được quản lý, nguy cơ ngộ độc thực phẩm sẽ rất cao”.

Về việc này, Hồng cho biết:

“Mình biết nó không vệ sinh nhưng mà lúc thưởng thức thì lại thấy rất ngon. Với lại lúc người ta bưng ra thì mình không nhìn thấy được người ta làm nên mình không hình dung được nó như thế nào nên cũng bỏ qua quan ngại đó”.

Ở dưới quê, công ăn việc làm rất là hạn hẹp. Có con đi học mà không có tiền lo cho nó nên mình phải tìm cách làm ăn ở chỗ khác khá hơn”.

Chị Phương, Tiền Giang

Vấn đề này từ lâu đã thách thức các nhà làm luật vì khó lòng quản lý hết các gánh hàng rong khi nó đã len lỏi mọi ngã đường và trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa xã hội. Hàng rong vốn tự phát và không theo một kiểu mẫu hay tiêu chuẩn vệ sinh nào. Nhìn họ, không ai biết họ sẽ xoay sở như thế nào để khỏi vi phạm khi luật mới thực sự được áp dụng triệt để?

Những người nghèo này không biết thế nào là mức tăng trưởng kinh tế đạt 6,78%, không biết thế nào là thu hút đầu tư nước ngoài ở mức 17 tỷ đô la một năm; không biết thế nào là lạm phát 11,75%, và thế nào là phá giá đồng tiền. Họ chỉ biết rằng, một khi cuộc sống của họ còn quá khó khăn hay còn những công nhân lương vài triệu đồng 1 tháng; thì xã hội vẫn còn những gánh hàng rong.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: