Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Cựu Chủ tịch QH: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp

Posted by BEAR on Tháng Hai 12, 2011

Cựu Chủ tịch QH: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp

Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An hi vọng lần sửa đổi Hiến pháp này sẽ bàn kĩ 3 vấn đề cốt lõi: Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp để đúng nghĩa là người chủ đất nước; Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn; Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước cần được cân bằng hơn để phòng ngừa lạm quyền và thoái hóa quyền lực.

LTS: Văn kiện Đại hội Đảng XI vừa qua đã nêu rõ chủ trương sửa Hiến pháp theo hướng đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp một cách rành mạch và kiểm soát lẫn nhau, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia…

Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường mới đây khẳng định: đã đến thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp và tư tưởng pháp quyền buộc phải có cách thức viết Hiến pháp khác, không thể “ôm đồm”, “dài dòng” như hiện nay. Ông cho rằng, đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền chính là cơ sở chính trị để các học giả, nhà nghiên cứu hiến kế cho việc xây dựng một bản hiến pháp theo đúng nghĩa hiến pháp của một nhà nước pháp quyền.

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược ghi lại cuộc trò chuyện với nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.

>> Thời điểm chín muồi sửa Hiến pháp

Dân phải được phúc quyết Hiến pháp

Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?

Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.

Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.

Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa.

Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.

Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.

Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam – Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,…

Tuy vậy, chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.

Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước…

Ai là chủ đất nước?

Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:

Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.

Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo…).

Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:

  • Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70”.

  • Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý”.

  • Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây… Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.

Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:

Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập Pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.

Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp”…

Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.

Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.

Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.

Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.

Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.

Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.

Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy,

chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.

Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân – của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.

Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:

a/ – Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,

b/ – Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,… song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.

Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả.

Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước như hiện nay.

Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.

Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.

Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.

Quyền lực của nguyên thủ quốc gia bị phân tán 3 nơi

Vấn đề thứ hai là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?

Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.

Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.

Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,… Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.

Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:

a, Thay mặt cho Nước…

b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc…

c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng….

d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ …

……………….

h, Ký hiệp ước với các nước….

Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: “Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”.

Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.

Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:

a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,

b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,

c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,

Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:

Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại”.

Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng”, song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.

Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ”. Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.

Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.

  • Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.

  • Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.

  • Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.

Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.

Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.

Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước

Cuối cùng là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.

Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.

Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa… Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.

Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.

Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội – Chính phủ – Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.

Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.

  • Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.

Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.

  • Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.
  • Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.

Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.

Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

Tóm lại, ở đây nhấn mạnh có ba vấn đề cốt lõi cần được bàn kỹ trong đợt sửa Hiến pháp tới đây:

1/- Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.

2/- Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.

3/- Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.

Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.

  • Thu Hà(lược ghi)

Những ngộ nhận về Hiến pháp

Quốc gia nào chẳng muốn Hiến pháp nước mình như huân chương đeo trước ngực lấp lánh thế giới, mang đẳng cấp tín nhiệm như thương hiệu của những hãng nổi tiếng toàn cầu, mãi mãi là nơi công dân đặt niềm tin công lý; nhưng chỉ có thể kỳ vọng, một khi nguyên tắc bất di bất dịch “nhà nước thượng tôn hiến pháp” luôn được thoả mãn!

>> Cựu Chủ tịch Quốc hội bàn việc sửa Hiến pháp

Hiến pháp được định nghĩa là luật cơ bản, nền móng xây dựng nên toà nhà nhà nước cùng hệ thống pháp luật của nó, chỉ có thể và buộc phải thay hoặc sửa, một khi sự phát triển của toà nhà đó đòi hỏi.

Lý thuyết dễ thống nhất vậy, nhưng một khi vấn đề thay hoặc sửa hiến pháp được đặt ra trong thực tế, thì giải quyết lại không dễ nếu không căn cứ vào các tiêu chí khoa học Hiến pháp, không lượng hoá được khái niệm “đòi hỏi” bằng trải nghiệm thực tế phong phú quốc gia và thế giới.

Có thể phân tích từ thí điểm mô hình bỏ HĐND huyện, quận, phường, tiến hành từ năm 2009 ở 10 tỉnh, thành, đặt ra đòi hỏi sửa điều khoản Hiến pháp xưa nay quy định cơ cấu chính quyền 4 cấp, trung ương, tỉnh, huyện quận, phường xã; ý kiến phản đối không phải vì nên bỏ hay không, mà đơn giản chỉ do ngộ nhận Hiến pháp là đạo luật rất thiêng liêng, không thể sửa lắt nhắt, làm tầm thường hóa Hiến pháp.

Khái niệm lắt nhắt tầm thường được ý kiến ở ngay cấp lập pháp lượng hoá sai cả thực tế, để bảo vệ ngộ nhận của mình: “sửa vặt, vài ba năm sửa vài điều ít nước làm lắm. 30-40 năm người ta mới sửa một lần” (Pháp luật TPHCM Online 18/04/2009). Thực tế cho đáp số ngược lại.

Giống ta nhất là Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, Quốc hội khoá VII sửa đổi 2 điều vào ngày 12.4.1988, Quốc hội khoá VIII sửa đổi 9 điều ngày 29.3.2993, Quốc hội khoá IX sửa đổi 6 điều ngày 15.3.1999 và 13 điều được sửa đổi vào ngày 14.3.2004. Trong 22 năm sửa đổi 4 lần, bình quân 5-6 năm sửa 1 lần, có điều khoản chỉ sửa 1 câu, thậm chí chỉ mỗi tiêu đề.

Khác ta nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992, sửa tổng cộng 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần. Nước Đức có thể coi là điển hình của sửa Hiến pháp „lắt nhắt”. Trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 sửa tới 38 lần, bình quân mỗi năm gần 1 lần, gồm 14 lần sửa 1 điều, 8 lần sửa 1 điểm, 4 lần sửa 1 câu, số lần còn lại sửa cả đoạn. Tính khoảng cách thời gian, có tới 9 năm, mỗi năm sửa 2 lần. Nhặt nhất, có 1 năm sửa tới 3 lần. Thực tế trên cho thấy, thời gian sửa nhặt hay thưa, mức độ nhiều hay ít không phải là dấu hiệu đánh giá chất lượng hiến pháp thiêng liêng hay không, vĩ đại hay tầm thường, nó chỉ phản ảnh những nhu cầu thay đổi chính trị đã được hiến pháp thoả mãn. Bởi Hiến pháp là công cụ chứ không phải mục đích !

“Thiêng liêng” thuộc phạm trù tư tưởng, tinh thần, lý tưởng, thể hiện mong muốn bất di bất dịch không được đụng đến bất chấp cả những thực tế ngược lại phũ phàng phải chịu đựng, được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực tâm linh, tôn giáo, trong khi luật pháp chỉ điều chỉnh các mối quan hệ bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự, đong đo đếm được, không dùng để áp dụng cho tinh thần, tín ngưỡng nằm trong đầu, hay trong tâm.

Nếu coi “tư tưởng một khi đã thấm sâu vào quần chúng cũng tạo nên sức mạnh như lực lượng vật chất (Các Mác)”, thì ngộ nhận tư tưởng trên là cản trở lớn nhất đối với đòi hỏi hoàn thiện nền tảng hiến pháp luôn mâu thuẫn với xã hội phát triển không ngừng, không riêng ở ta mà với bất cứ quốc gia nào.

Hệ lụy vô cùng nặng nề, nếu có sửa hiến pháp, thì với ngộ nhận đó cũng sẽ sử dụng những quy định chung chung mang tính tư tưởng tinh thần như kinh thánh, chứ không phải những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sử, vốn là đặc trưng bắt buộc của 1 văn bản pháp luật, với động cơ tránh cho ngôn từ hiến pháp không còn mâu thuẫn với thực tế luôn vận động muôn mầu muôn vẻ; hoặc coi hiến pháp chỉ như tuyên ngôn không còn được sử dụng làm căn cứ thước đo để đánh giá các văn bản lập pháp đúng hay sai – vốn là nền tảng của nhà nước pháp quyền phân biệt với nhà nước quân chủ; thậm chí thí nghiệm cả với hiến pháp như trường hợp bỏ hội đồng huyện quận phường, trong khi nó vẫn còn hiệu lực hiến định đúng nguyên lý nhà nước pháp quyền: bất cứ cấp chính quyền nào cũng gồm lập pháp hành pháp và tư pháp – điều không quốc gia hiện đại nào dám thử nghiệm vi phạm – chỉ có thể chọn lựa chính quyền mấy cấp, chứ không thể bỏ một nhánh trong cấp đó. Trong cả 3 trường hợp, hiến pháp sẽ ngày càng tụt hậu so với vận động của thực tế, mất uy lực, nhà nước cùng hệ thống pháp luật xây dựng trên nó khó tránh khỏi nguy cơ nội tại bị chông chênh.

Hệ lụy khác trực tiếp tác động đến cơ quan lập pháp, thay vì tạo ra một quy trình sửa đổi hiến pháp kịp thời, đơn giản, hiệu qủa, thì kéo dài nó khó biết hồi kết, với lý do cẩn trọng thiêng thiêng, mà chủ trương chuyển đổi ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, hay tổ chức lại hệ thống toà án theo mô hình các nước hiện đại ở ta đã được nhất trí ở cấp cao nhất, tới nay cũng chỉ dừng lại ở công đoạn bàn thảo, là một dẫn chứng.

Hiến pháp quốc gia nào cũng có ít nhất 2 phần, phần quyền công dân và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Tuy nhiên cách trình bày cả cấu trúc lẫn nội dung, hiến pháp nước ta tương tự hiến pháp Liên Xô 174 điều, ban hành năm 1977, khác với hầu hết các nước hiện nay.

Nếu coi hiến pháp phản ảnh thể chế chính trị, thì sự khác và giống nhau đó là tất yếu trong giai đoạn lịch sử thế giới phân chia 2 phe đã qua. Nhưng hiện nay, loài người đang trong thời đại hội nhập nghĩa là phải cùng thừa nhận những giá trị phổ quát, dù thể chế chính trị khác nhau như thế nào, bằng không sẽ bị gạt ra ngoài. Một trong những giá trị đó là quyền công dân.

Hiến pháp ta trong hầu hết các điều khoản đề cập đều mở đầu: “Công dân có quyền…”, và tại điều 51 còn quy định: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Cách trình bày đó dễ dẫn tới ngộ nhận quyền công dân do nhà nước cho mà có, mâu thuẫn với nguyên lý dân chủ: “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá (chứ không phải nhà nước) cho họ những quyền không ai có thể chối cãi” (Tuyên ngôn độc lập). Ngộ nhận trên đồng nghĩa ngộ nhận coi hiến pháp là công cụ của nhà nước sinh ra để cai trị dân, tức nhà nước giữ quyền lập hiến – vốn đặc trưng của nhà nước quân chủ, chứ không phải như trong nhà nước dân chủ, hiến pháp là công cụ của dân, đưa ra những thước đo, chuẩn mực, quy tắc ứng xử, giới hạn pháp lý nhà nước được phép làm, hoặc phải làm, theo đúng những đòi hỏi của chủ nhân nó là người dân, tức nhân dân lập hiến hay người dân có quyền phúc quyết hiến pháp; điển hình như Hiến pháp EU, từng nước thành viên buộc phải tổ chức dân phúc quyết. Chính vì sinh ra để bảo đảm quyền, lợi ích của dân, nên hầu hết hiến pháp các nước hiện đại đều bắt đầu bằng chương mục: quyền cơ bản công dân. Sau đó mới đến các chương mục về bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền đó.

Có thể dẫn liệu Hiến pháp Đức, điều khoản đầu tiên được bắt đầu bằng câu: „Nhân phẩm là quyền bất khả xâm phạm (khác với câu: công dân có quyền về nhân phẩm). Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm của mọi quyền lực nhà nước”. Tinh thần đó có thể tìm thấy cả ở Trung Quốc, khi ngày 14.3.2004, lần đầu tiên trong lịch sử, hiến pháp họ bổ sung: “Tài sản tư hữu hợp pháp là quyền bất khả xâm phạm. Nhà nước phải chú ý và bảo vệ quyền con người”. Trong điều 1 Hiến pháp Đức còn đưa ra ràng buộc đối với nhà nước: “Các quyền cơ bản khác nêu tại các điều tiếp theo là quyền trực tiếp buộc cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chấp hành”, nhằm nhấn mạnh quyền một khi được hiến định, thì đương nhiên được thực hiện trực tiếp, nhà nước buộc phải phục tùng, khác hẳn với ngộ nhận rằng: hiến pháp chỉ đưa ra điều khoản chung chung, không có giá trị áp dụng nếu thiếu văn bản lập pháp cụ thể hoá nó.

Ảnh: TTXVN

Quyền công dân trực tiếp buộc nhà nước phải chấp hành, liên quan tới nguyên lý cơ bản của nhà nước pháp quyền: người dân được quyền làm tất cả trừ những gì luật pháp cấm, ngược lại nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép.

Chẳng hạn, hiến pháp hầu hết các nước đều khẳng định: biểu tình là quyền cơ bản của người dân. Nghĩa là người dân hoàn toàn có quyền xuống đường tập hợp nhau ủng hộ hay chống một chủ trương chính sách nào đó của nhà nước, bất cứ đâu, lúc nào, không cần báo trước. Nhưng trên thực tế quyền đó bị giới hạn, chỉ bởi Luật biểu tình dựa trên điều khoản an ninh của Hiến pháp đưa ra điều cấm: không được biểu tình khi thiết quân luật, biểu tình phải đăng ký trước để nhà nước bảo vệ, phải có người tổ chức kẻo gây bạo động… Không có luật này, người dân có quyền biểu tình vô giới hạn, bất chấp tất cả. Như vậy, quyền hiến định về biểu tình hoàn toàn được công dân tự động thực hiện; nó chỉ bị giới hạn khi và chỉ khi có văn bản lập pháp đưa ra quy định (tất nhiên không mâu thuẫn với hiến pháp), chứ hoàn toàn không như ngộ nhận phổ biến ở ta cho rằng chỉ được phép biểu tình khi có luật biểu tình, mà không đặt ra câu hỏi, vậy chẳng nhẽ quyền hiến định tự do đi lại, chỉ được phép thực hiện khi có luật đi lại tự do, còn không thì cứ phải ngồi nhà chờ văn bản?

Không chỉ điều khoản Hiến pháp ta về quyền biểu tình bị ngộ nhận như vậy, mà nhiều quyền khác như quyền được thông tin, quyền lập hội… cũng ngộ nhận tương tự, trông chờ vào các văn bản lập pháp hướng dẫn ?!, thậm chí đến lượt văn bản lập pháp muốn thực hiện cũng phải trông chờ văn bản lập quy, rốt cuộc lẽ ra luật pháp quyết định quan chức hành xử thì ngộ nhận trên dẫn tới nghịch lý: quan chức hành xử quyết định luật pháp; chí có thể khắc phục bằng cách nhấn mạnh trong hiến pháp: quyền cơ bản của công dân là quyền trực tiếp, và chỉ khi đó mới thúc đẩy và buộc được cơ quan lập pháp phải ban hành luật tương ứng kịp thời, để khắc phục những hệ quả không mong muốn xảy ra kèm theo, nếu không họ phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.

Nói đến luật pháp là nói đến chế tài bởi quyền lực công, vì vậy nội hàm khái niệm luật pháp luôn chứa đựng toà án trong đó, được toà án bảo vệ, thiếu nó khái niệm pháp luật không còn đúng nghĩa, trên thực tế sẽ vô giá trị. Vì vậy, sự hiện hữu và tính độc lập của toà án là cốt tử bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp và pháp luật. Trên nghĩa đó, thành lập toà án hiến pháp độc lập ở ta là một đòi hỏi bức bách, và cũng chỉ khi đó, mọi tranh cãi và sửa đổi hiến pháp mới thực sự có ý nghĩa.

Hiện ở ta, mối quan hệ giữa 3 cơ quan lập pháp hành pháp và tư pháp được bàn cãi nhiều về học thuật, theo lý thuyết tam quyền phân lập hay coi đó là một thể thống nhất có phân công phân nhiệm. Dù theo quan điểm nào thì câu hỏi thực tế vẫn phải trả lời là toà án khi thụ lý và ra phán quyết có phải xin ý kiến chỉ đạo của ai hay cấp nào không? Nếu có, thì pháp luật không còn là tối thượng mà người và cấp chỉ đạo mới là tối thượng ! không thể biện hộ bằng bất cứ quan điểm gì.

Quốc gia nào chẳng muốn Hiến pháp nước mình như huân chương đeo trước ngực lấp lánh thế giới, mang đẳng cấp tín nhiệm như thương hiệu của những hãng nổi tiếng toàn cầu, mãi mãi là nơi công dân đặt niềm tin công lý; nhưng chỉ có thể kỳ vọng, một khi nguyên tắc bất di bất dịch “nhà nước thượng tôn hiến pháp” luôn được thoả mãn!

“Sớm muộn sẽ có sai lầm khi quyền lực trong tay rất ít người”

GS Stephen Walt: Dân chủ là một cơ chế tốt, tuy nhiên, nó không phải là cơ chế hoàn hảo và có thể sẽ không giúp chúng ta tìm ra những nhà lãnh đạo như mong muốn. Điều có được là có một lãnh đạo tồi thì nền dân chủ cũng sẽ buộc họ phải nghe và nghi nhận ý kiến quần chúng. Khi họ phạm sai lầm, họ có thể nhanh chóng sữa chữa và nếu họ sai phạm nhiều lần không sửa, người dân có thể bỏ phiếu phế truất họ.

Về câu chuyện của Trung Quốc, theo tôi, trong vòng 20 vừa qua, Trung Quốc đã đưa ra các quyết sách rất khôn ngoan và đúng đắn, tuy nhiên, nhiều quyết sách sẽ khiến họ phải trả giá trong tương lai. Ví dụ như chính sách phát triển kinh tế bằng mọi giá đã ảnh hưởng đến môi trường và thiên nhiên.

Chắc chắn không có ai là toàn diện cả và chắc chắn trong điều kiện quyền lực nằm trong tay rất ít người thì sớm hay muộn họ cũng gây ra những sai lầm. Trung Quốc bây giờ đang vấp phải một số sai lầm. Với lý do đó, các nước cũng không nên nghĩ rằng Trung Quốc sẽ phát triển mãi mãi.

……………

Việt Nam:

chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.

Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân – của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.

–> Ai là chủ đất nước?

–> Đã sai lầm chưa?

Dân Chủ Như Một Giá Trị Toàn Cầu – Amartya Sen

Tôi cũng đã có lần trình bày một sự kiện đặc biệt, đó là trong lịch sử của những nạn đói khủng khiếp trên thế giới, chưa có một nạn đói đáng kể nào xảy ra trong một nước độc lập, dân chủ, và có một hệ thống báo chí tương đối tự do.[6] Đây là một quy luật không có ngoại lệ, dù ta có tìm bất cứ chỗ nào trên thế giới: các nạn đói xảy ra gần đây tại Ethiopia, Somalia, hay tại các chế độ độc tài khác; những nạn đói xảy ra tại Liên Xô trong thập niên 1930; tại Trung Hoa năm 1958-1961 xảy ra sau Kế hoạch Đại Nhảy Vọt; hoặc xa hơn nữa là các nạn đói xảy ra ở Ái nhĩ lan hoặc Ấn độ dưới chế độ thực dân. Trung Hoa, dù trên nhiều phương diện, phát triển kinh tế khá hơn Ấn độ, nhưng (khác với Ấn độ) là vẫn có nạn đói, mà phải nói đó là nạn đói lớn nhất được ghi lại trong lịch sử thế giới: gần 30 triệu người chết trong nạn đói 1958-61, nhưng các chính sách sai lầm của chính quyền vẫn không được sửa đổi trong suốt thời gian 3 năm đó. Những chính sách sai lầm đó không bị chỉ trích gì cả bởi vì không có một đảng đối lập nào trong quốc hội, không có tự do báo chí, và các cuộc bầu cử đa đảng. Chính ra, chỉ vì không có sự phê bình và thách thức này mà chính quyền mới có thể tiếp tục thi hành những chính sách cực kỳ sai lầm đã đưa đến cái chết của hàng triệu người mỗi năm. Đó cũng là tình trạng tương tự đang xảy ra tại Bắc Hàn và Sudan nơi diễn ra hai nạn đói trong lịch sử đương đại của thế giới.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: