Welcome to BEAR’s BLOG!!!

15-03-2011

Posted by BEAR on Tháng Ba 15, 2011

Giới kinh doanh lữ hành đang “kêu trời” trước tình hình gần như tất cả dịch vụ quan trọng nhất đều đã và chắc chắn chuẩn bị tăng giá khá mạnh. Dự báo, khách lại quay sang mua tour bình dân đi Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Trung Quốc như trước năm 2009.


Từ tháng Mười 2010, một số công nhân Việt do TTLC tức Công Ty Cổ Phần Xuất Khẩu Lao Động, Thương Mại và Du Lịch, đưa sang Thụy Điển làm nghề hái dâu theo mùa, phải trở về nước vì không có việc.

Họ không được TTLC hoàn trả số tiền đặt cọc, còn gọi là tiền “chống trốn”, dù đã kêu đòi khiếu nại nhiều lần.

Đây là những người đi từ tháng Bảy 2010, với hứa hẹn của Công Ty Cổ Phần Xuất Khẩu Lao Động, Thương Mại và Du Lịch TTLC là sang Thụy Điển một ngày hái được tám chục ký dâu thì mỗi người có thể kiếm được hai ngàn rưỡi đến ba ngàn đô la một tháng.

Sang quá sớm, dâu chưa chín

Khi sang đến nơi và được đưa về thành phố Sarna của Thụy Điển, mọi người mới rõ là chưa có dâu chín để hái. Sau ba tuần, các công nhân Việt đứng ra phản đối, nội vụ được báo chí địa phương đăng tải qua bài phóng sự của ký giả Nils Schmidt:

“Chuyện này xảy ra tại nơi tôi ở và gần như ai cũng biết cả. Các công nhân này tới Thụy Điển sớm một tháng, có nghĩa là đến tháng Tám thì dâu mới chín nhưng họ lại đến giữa tháng Bảy. Họ được hứa hẹn nhiều lắm nhưng khi tới nơi thì không có việc để làm.

Các công nhân này tới Thụy Điển sớm một tháng, có nghĩa là đến tháng Tám thì dâu mới chín nhưng họ lại đến giữa tháng Bảy. Họ được hứa hẹn nhiều lắm nhưng khi tới nơi thì không có việc để làm.

Ký giả Nils Schmidt

Và thế là mọi người qui trách nhiệm cho công ty TTLC đã đưa họ sang quá sớm, không có dâu để hái. Họ kể là phải tiêu nhiều tiền vào thức ăn cùng những tốn phí khác trong lúc chỗ ở thì rất tệ.”

Vì sự việc không được giải quyết rốt ráo, một số công nhân bỏ trốn sang các nước khác, một số trở về Việt Nam nhưng không được công ty TTLC hoàn trả lại tiền đã đóng gọi là tiền cọc hoặc tiền “chống trốn”. Anh Đoàn, quê ở Hưng Yên, kể lại:

Anh Đoàn: Nói chung chúng em xuất phát là nông dân và đa số đến 90% là cũng vay nợ như em. Chúng em sang đấy là hai trăm tám mươi tư người, đến Thụy Điển là hoàn toàn trái ngược với những gì công ty TTLC đã tư vấn cho bọn em.

Chúng em ở dưới hầm mà hầu như không có cửa sổ, năm sáu người chung nhau một cái toa lét, rất chật chội, điện nước không có, đến mùa rét là không có cả nước nóng, có khi còn cắt cả nước lạnh mấy hôm liền. Ăn mỗi một bữa thì được một nửa quả trứng gà, bữa thì được mấy cái chân gà.

Chưa trả một xu

sosvn4-250.jpg
Công nhân lao động VN biểu tình ở Sarna- Sweden (3)-Ảnh do Ô.Văn Vũ cung cấp.

Thanh Trúc: Anh trở về nước ngày nào?

Anh Đoàn: Chính thức là bắt đầu ngày 11 tháng Mười năm 2010, về nước thì công ty hẹn chúng em ra rất nhiều lần; bản thân chúng em được tổng giám đốc công ty là ông Hùng, thay ông Trần Lực, công nhận mở tài khoản cho chúng em mỗi đứa một trăm triệu tại Ngân Hàng Quân Đội ở Hà Nội. Nhưng bản thân chúng em về thì công ty không trả một xu nào cho đến tận bây giờ. Mới nhất là hôm mùng 9 vừa rồi, em ra nhưng công ty lại điện thoại nhắn tin là ông giám đốc bận mấy hôm, lại hẹn đến thứ Hai tuần sau.

Số tiền đặt cọc “chống trốn”, chúng em không trốn mà về nước là họ phải trả cả gốc cả lãi, nhưng đến giờ họ chưa trả cho một xu nào.

Thanh Trúc: Tổng cộng chi phí từ lúc làm giấy tờ cho tới lúc đi là bao nhiêu?

Số tiền đặt cọc “chống trốn”, chúng em không trốn mà về nước là họ phải trả cả gốc cả lãi, nhưng đến giờ họ chưa trả cho một xu nào.

Anh Đoàn

Anh Đoàn: Em cầm sổ đỏ cho Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, vay một trăm hai mươi triệu. Tổng chi phí chúng em đóng cho TTLC là một trăm linh bảy triệu, còn ăn học ở đây hơn một tháng là mất hơn chục triệu nữa, ăn ở đi lại chi phí là mất hơn chục triệu nữa, thế là vào tầm một trăm hai mươi triệu.

Thanh Trúc: Anh tính toán như thế nào khi đi Thụy Điển hái dâu ba tháng, trở về thì có đủ sở hụi trả lại tiền vay của ngân hàng?

Anh Đoàn: Chúng em là nông dân, ở Việt Nam thì khó khăn, thế nhưng công ty tư vấn cho chúng em là sang đấy làm trung bình tối thiểu một tháng hai nghìn bốn trăm đô, ba tháng là bảy nghìn hai trăm đô, nhân với giá trị ở Việt Nam thời đó là nhân hai mươi thì coi như là được một trăm bốn mươi tư triệu tiền Việt Nam, cộng với tiền thu lại sáu mươi triệu đặt cọc “chống trốn” mà công ty giữ để làm tin là chúng em đã có già hai trăm triệu.

Thì chúng em tính ba tháng trừ chi phí đi một trăm hai mươi triệu thì còn lời ra tám mươi triệu. Tám mươi triệu so với Việt Nam là lợi nhuận quá cao nên tất cả chúng em, những người nông dân, toàn là cắm nhà cắm đất với lại đi vay lãi cao ở ngoài để nộp cho công ty để đi.

Không tiền trả nợ mất nhà

sos-VN-250.jpg
Công nhân lao động VN biểu tình ở Sarna- Sweden (4). Ảnh do Ô.Văn Vũ cung cấp.

Thanh Trúc: Anh đã không được TTLC trả lại số tiền “chống trốn”, cũng không được trả số tiền hỗ trợ hai chục triệu hay bốn chục triệu gì đó. Không có tiền trả nợ ngân hàng thì chuyện gì xảy ra?

Anh Đoàn: Hôm mùng 3 vừa rồi thì ngân hàng đã đến nhắc nhở gia đình em chuẩn bị tiền để cuối tháng này phải trả. Nếu không trả được, vì em đã làm cam kết giao sổ đỏ nhà đất cho ngân hàng, thì ngân hàng sẽ phát mại, coi như họ thu họ bán, họ trừ tất cả số mình vay nợ đi, còn dư đâu họ trả cho mình.

Gia đình nhà em đang không biết là ở đâu, đến giờ phút này em chưa nhận được một xu nào từ TTLC. Em ra tiếp xúc mấy lần với ông giám đốc Trương Bá Thu thì ý ông là chúng em coi như đấu tranh quyền lợi cho mọi công nhân thì họ không bằng lòng, họ thù chúng em.

Cũng từ Thụy Điển trở về một lượt với anh Đoàn, anh Cường ở Bắc Giang cho biết anh đã đôi ba lần đến công ty TTLC để xin thanh lý tiền “chống trốn” và tiền hỗ trợ không có việc phải về giữa chừng, thế nhưng:

“Ngày 25 tháng Mười em ra nhưng người ta ghi giấy hẹn, đến ngày 4 tháng Mười Một em ra lần thứ hai mà cũng cãi nhau, người ta đòi trừ vé máy bay, trừ của anh Đoàn với Ba là bảy mươi triệu, trừ em ba mươi triệu nhưng không đưa được ra một chứng cớ gì. Suốt từ ngày đấy em ra là toàn cứ trốn chứ không găp mặt.

Họ chưa trả một đồng nào tiền “chống trốn” mà em đặt cọc là năm mươi bảy triệu. Người ta hứa đền bù cho tất cả trong hợp đồng là một trăm triệu mà chưa nhận được đồng nào, kể cả tiền em lái xe ở bên đấy. Tiền đấy là do bố mẹ đẻ em đứng ra vay ngân hàng, tất cả một trăm hai mươi triệu, chi phí hết một trăm mười bốn triệu, còn mấy triệu em cầm đi tiêu đường là mang sang bên Thụy Điển.”

Hiện giờ thì chúng em đã mất nhà, em phải đi ở nhờ bên nhà ông bà già vợ.

Anh Ba, Bắc Giang

Người công nhân tên Ba, ở Bắc Giang, mà anh Cường vừa nhắc tới, thì thê thảm hơn vì đã mất nhà bởi không có tiền trả nợ:

“Lúc đi thì ở nhà vợ chồng em vay một số của ngân hàng, vay một số của lãi ngoài, có một cái xe Honda thì bán đi mà chung tiền vào cho nó đủ. Đi cái đợt vừa rồi đó tổng chi phí gần một trăm ba mươi triệu. Sáu mươi triệu tiền cọc của mình họ vẫn chưa trả cho mình. Khi chúng em về họ có đánh một thư xác nhận là vừa tiền hỗ trợ nhưng cầm thư đó về mà họ không giải quyết cho và vẫn giằng co đến bây giờ.

Hiện giờ thì chúng em đã mất nhà, em phải đi ở nhờ bên nhà ông bà già vợ. Tiền nợ ngân hàng thì có thể gia hạn được, thế nhưng chỗ mình vay ngoài, người ta có tiền cho vay lãi cao, quá thời hạn thì bây giờ họ cầm giữ nhà, bảo là khi nào mày có tiền trả tao thì tao trả nhà cho mày, nếu không thì tao tịch thu nhà.

Bây giờ chưa thanh lý hợp đồng chưa có tiền trả nợ thì đầu óc cũng chưa yên ổn để làm cái gì.”

Đó là hoàn cảnh eo hẹp mà ba công nhân ở Bắc Giang, Hưng Yên và Vĩnh Phúc phải chịu đựng sau khi trở về từ Thụy Điển và không được công ty môi giới TTLC trả lại tiền cọc như đã hứa cùng với tiền đền bù hỗ trợ như cam kết khi về nước giữa chừng.

Chỉ giữ hộ

sos-VN3-250.jpg
Công nhân lao động VN biểu tình ở Sarna- Sweden (2)-Ảnh do Ô.Văn Vũ cung cấp.

Tuy nhiên lúc gọi về Công Ty Cổ Phần Xuất Khẩu Lao Động, Thương Mại và Du lịch TTLC ở Hà Nội, thì cô Hương, phụ trách phòng Châu Âu trong TTLC, trả lời:

“Thứ nhất là công ty chúng tôi, nếu có thu tiền một khoản nào đó, thì đều phải có chứng từ hết. Vì vậy khi người ta phản ánh như vậy thì chúng tôi cũng phải chắt lọc xem cái người ta phản ánh là đúng hay sai.

Tại vì công ty chúng tôi là công ty nhà nước, chúng tôi không thể thu tiền mà không có chứng từ được. Cái việc có trả lại, thứ nhất, cái chi phí tôi nói chỉ hai ngàn hai trăm đô là toàn bộ chi phí mà người lao động đóng cho TTLC. Ngoài ra người ta có thể thế chấp để đảm bảo là hết thời vụ thì người ta quay về Việt Nam chứ không trốn ở lại Thụy Điển, không vi phạm hợp đồng với chúng tôi. Người lao động còn phải đặt cọc giấy tờ nhà đất hoặc một khoản tiền nào đó gọi là tiền thế chấp chứ không phải tiền bảo hiểm.

Những lao động đã về thì toàn bộ tiền thế chấp gởi công ty đương nhiên chúng tôi trả. Tôi không nói đấy là chi phí, đấy cũng không phải tiền của chúng tôi, chúng tôi chỉ giữ hộ thôi.

Tôi không nói đấy là chi phí, đấy cũng không phải tiền của chúng tôi, chúng tôi chỉ giữ hộ thôi.

Cô Hương, TTLC

Còn những người đã vi phạm hợp đồng mà bây giờ mới quay trở về thì trước mắt chúng tôi tổ chức đưa về và tùy theo hợp đồng giữa người lao động với công ty chúng tôi sẽ tiến hành thanh lý.”

Phóng viên Nils Schmidt của báo Mora Tidning bên Thụy Điển thì quả quyết là hãy còn hai mươi tám công nhân trở về chưa được TTLC thanh toán chi trả đồng bạc nào.

Điều gây chú ý trước giờ là tranh cãi luôn xảy ra giữa công ty môi giới với người công nhân đi xuất khẩu lao động. Đa số trường hợp thì phần nhiều sự thiệt thòi luôn nghiêng về phía lao động nghèo chứ không phải phía nắm đàng chuôi tức các công ty môi giới.

Theo dòng thời sự:

Có 12 chỉ tiêu (Indicator) đánh giá, gồm 4 chỉ tiêu xã hội, 2 chỉ tiêu kinh tế, 6 chỉ tiêu chính trị. Mỗi chỉ tiêu được đánh giá theo thang điểm 10; điểm càng cao tức càng thất bại, điểm càng thấp thì càng thành công. Cộng điểm của 12 chỉ tiêu này lại được tổng số điểm đánh giá mức độ thất bại, tức FSI của quốc gia đó.

Ảnh minh họa: saga

Chỉ tiêu xã hội gồm: (I-1) Áp lực gia tăng số dân; (I-2) Sự di chuyển lớn dân tị nạn hoặc thu xếp nội bộ nơi ở của dân, tạo ra nguy hiểm nhân đạo; (I-3) Hậu quả của sự tồn tại các nhóm thù địch nhau hoặc các nhóm cuồng tưởng (paranoia); (I-4) Dân bỏ trốn để thoát cảnh khổ sống trong nước mình.

Chỉ tiêu kinh tế gồm: (I-5) Trình độ phát triển kinh tế không đồng đều theo các nhóm dân; (I-6) Suy thoái kinh tế nặng.

Chỉ tiêu chính trị gồm: (I-7) Mức độ tham nhũng của chính quyền; (I-8) Tình trạng suy thoái của các dịch vụ công cộng; (I-9) Sự trì hoãn hoặc độc đoán trong quá trình chấp hành luật pháp và vi phạm nhân quyền một cách phổ biến; (I-10) Sự vận hành các cơ quan an ninh “nhà nước bên trong nhà nước”; (I-11) Tình trạng bỏ ra nước ngoài của những người tài; (I-12) Sự can thiệp của các nước ngoài hoặc thế lực chính trị bên ngoài.

Theo thói quen, 60 quốc gia có tổng số điểm FSI cao nhất bị coi là nhóm quốc gia thất bại; các quốc gia còn lại không bị coi là thất bại.

Xếp hạng của các nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc như sau: tốt nhất là Anh – thứ 161, Pháp – 159, Mỹ – 158, Nga – 80, Trung Quốc – 62.

Có một trường hợp đặc biệt: Trung Quốc năm 2009 bị xếp thứ 57, thuộc vào loại quốc gia thất bại, tức trong nhóm 60 nước có FSI lớn nhất (nhưng năm 2010 tăng 5 bậc về phía tốt hơn, ra khỏi nhóm quốc gia thất bại).

Vì sao một nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới lại bị xếp vào nhóm quốc gia thất bại? Đó là vì Trung Quốc có chỉ số FSI lớn về các chỉ tiêu: – sức ép dân số (chỉ số Demographic Presures bằng 9, do có nhiều người Trung Quốc di cư ra nước ngoài), – phân hóa giàu nghèo quá chênh lệch (chỉ số phát triển không đồng đều Uneven Development bằng 9,2), – tồn tại vấn đề nhân quyền (chỉ số Human Rights bằng 8,9),

Năm 2010 Việt Nam xếp thứ 95 (tức tăng 1 bậc về phía tốt hơn so với năm 2009), như vậy là tốt hơn Ấn Độ (thứ 87), Thái Lan (81), Indonesia (61), Phillippines (51), Cam-pu-chia (40), Lào (40), Myanmar (16); chỉ kém Malaysia (110), Brunei (117), Singapore (160), nói cách khác, Việt Nam là quốc gia thành công thứ 4 trong khối ASEAN.

Các chỉ tiêu từ I-1 đến I-12 của Việt Nam có số điểm như sau: 6,9; 5,2; 5,3; 5,9; 5,9; 6,6; 7,3; 6,4; 7,3; 6,0; 7,0; 6,2; Tổng cộng được 76,6 điểm, vẫn thuộc vào loại quốc gia cần được cảnh giác. Có 3 chỉ tiêu cao từ 7,0 trở lên, đó là chỉ tiêu tham nhũng có số điểm là 7,3; chỉ tiêu nhân quyền – 7,3; chỉ tiêu thất thoát nhân tài – 7,0.

Trước hiện tượng mất cân bằng giới tính khi phụ nữ Việt Nam sinh con ở nước ta hiện nay, các chuyên gia dân số dự báo khoảng 20 – 30 năm nữa, sẽ có từ 2 đến 4 triệu nam giới khó lấy vợ vì thiếu phụ nữ. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, vào năm 2009 tại một vùng quê ở miền Bắc, đã có hàng trăm thanh niên Việt rất khó lấy vợ. Vì sao?

Hiện tượng vọng chồng… ngoại

Trên địa bàn xã Đ. (Kiến Thụy- Hải Phòng), hiện tượng hôn nhân có yếu tố nước ngoài khá đa dạng. Phụ nữ xã này lấy chồng ở nhiều nước khác nhau, như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Na Uy, Canada, Trung Quốc… nhưng nhiều nhất là phụ nữ lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc.

Theo số liệu thống kê của UBND xã, tính đến cuối tháng 8 năm 2009 đã có 721 cô gái lấy chồng nước ngoài. Số phụ nữ lấy chồng Đài Loan nhiều nhất với 487 người (chiếm 67,54%), tiếp theo là phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, với 188 người (26,07%), còn lại các nước khác chỉ có 46 người (6,38%). Nếu tính từ năm 2003- đến 8 tháng đầu năm 2009, thì số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc ở xã Đ. chiếm 30,2% tổng số phụ nữ của xã lấy chồng nước ngoài.

Nhưng từ năm 2007, số phụ nữ lấy chồng Đài Loan có xu hướng giảm và gia tăng số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc. So sánh 2 năm gần đây, số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc nhiều hơn phụ nữ lấy chồng Đài Loan là 2,85 lần (năm 2008) và 2,36 lần (8 tháng đầu năm 2009).

Cho đến nay, cả xã Đ. đã có gần 800 cô gái lấy chồng nước ngoài.

Nhiều gia đình trong xã có 2 con gái lấy chồng nước ngoài trở lên. Như lời Chủ tịch UBND xã cho biết: “Số gia đình có 2 con lấy chồng nước ngoài chiếm khoảng 30% tổng số gia đình có con lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan. Gia đình có 4 con lấy chồng nước ngoài ở thôn Quần Mục 3, là gia đình chị D, có 4 cô gái lấy chồng nước ngoài, chỉ còn thằng út đang học ở nhà. Tôi có 3 đứa cháu gái gọi bằng chú lấy chồng Đài Loan, con chị lấy rồi mối cho em, con út sinh năm 1989 học xong 12 chị dắt về cho và lấy chồng Đài Loan….

…Cán bộ xã cũng khối ông có con lấy chồng nước ngoài, như Chủ tịch Hội Nông dân; Trưởng, phó công an xã; cán bộ thôn…) tất cả 12 người, đều là đảng viên“.

Còn số liệu từ khảo sát của chúng tôi cho thấy: Có 15,3% số gia đình có 2 con gái lấy chồng nước ngoài, 1,4% gia đình có 3 con lấy chồng nước ngoài, và 1,4% gia đình có 4 con gái lấy chồng nước ngoài.

Chồng ngoại: Buồn hay vui?

Phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài do bị nhiều tác động về kinh tế, xã hội, văn hoá, lối sống… Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến 2 khía cạnh: Kinh tế và thay đổi quan niệm về giá trị con gái.

Thay đổi về mức sống: 1 trong những động lực thúc đẩy phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Hàn Quốc nói riêng là yếu tố kinh tế. Nhiều cô gái muốn có cuộc sống tốt hơn không chỉ cho chính họ mà còn muốn giúp đỡ cha mẹ, gia đình ở Việt Nam.

Khảo sát của chúng tôi cho thấy, 53% cha, mẹ có con gái lấy chồng Hàn Quốc nói rằng con họ có gửi tiền về cho gia đình. Mức độ gửi tiền như sau: 8% thường xuyên; 75.3% thỉnh thoảng gửi tiền, và 17% hiếm khi gửi tiền về cho gia đình. Nhờ vậy, nhiều gia đình ở xã Đ. đã có sự thay đổi về cuộc sống (sửa sang nhà cửa, mua đồ dùng trong gia đình), có những ngôi nhà được xây dựng khang trang, đẹp nhờ tiền của con gái gửi về. Những ngôi nhà to đẹp này, được người dân địa phương gọi là “phố Tây”, “làng Kiều”.

Ngày càng nhiều phụ nữ Việt muốn lấy chồng ngoại. Ảnh minh họa (Socola.vn)

Cũng có sự phân biệt đáng kể về mức sống của những hộ gia đình có con lấy chồng nước ngoài với những hộ khác. Trong một thôn có thể chia thành 3 loại: Giàu, trung bình và nghèo. Giàu chi tiêu hàng tháng hết 5 triệu, hộ trung bình thì 2,5 triệu, nghèo thì 1 triệu. Trong những hộ giàu thì đa phần là hộ có con lấy chồng nước ngoài (chiếm 80 %), những hộ này giàu chủ yếu là có tiền do con cái gửi về.

Thay đổi quan niệm về giá trị con trai, con gái: Chính sự thay đổi về kinh tế này, đã tác động đến không ít cha mẹ có con gái. Và dường như có sự ngầm định rằng, con gái họ học xong cũng sẽ theo bước các “con chị” đi tiếp con đường lấy chồng Hàn Quốc. Như lời một cán bộ lãnh đạo xã Đ: “Giờ nhiều gia đình có ý đồ cho con lấy chồng nước ngoài để không phải làm gì, Họ cho con đi học tiếng, học cách giao tiếp với người Hàn Quốc, nên nhiều cháu mắc thói ăn chơi, không chịu làm gì, chỉ quyết tâm lấy chồng nước ngoài“.

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, tỷ số giới tính khi sinh trên phạm vi cả nước là 110 bé trai/100 bé gái (Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, 2010). Ở một vài địa phương, sự mất cân bằng giới tính khi sinh còn cao hơn nhiều.

Trong bối cảnh hôn nhân quốc tế, ở xã Đ. người dân lại có một nhận thức khác: Tư tưởng trọng nam không còn ảnh hưởng mạnh như trước, nếu không nói là đang có một sự “chuyển đổi” về giá trị. Người ta ngày càng coi trọng giá trị con gái. Bởi lẽ, con gái lấy chồng nước ngoài đem lại sự thay đổi cuộc sống cho gia đình, còn đẻ nhiều con trai thì lại lo không lấy được vợ cùng xã.

Việt Nam là quốc gia vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Quan niệm con trai mới là người thờ cúng tổ tiên đã góp phần đề cao giá trị con trai hơn con gái. Quan niệm lệch lạc này dẫn đến hiện tượng mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi ngày nay người ta có nhiều phương pháp sinh con theo ý muốn.

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, tỷ số giới tính khi sinh trên phạm vi cả nước là 110 bé trai/100 bé gái (Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, 2010). Ở một vài địa phương, sự mất cân bằng giới tính khi sinh còn cao hơn nhiều.

Trong bối cảnh hôn nhân quốc tế, ở xã Đ. người dân lại có một nhận thức khác: Tư tưởng trọng nam không còn ảnh hưởng mạnh như trước, nếu không nói là đang có một sự “chuyển đổi” về giá trị. Người ta ngày càng coi trọng giá trị con gái. Bởi lẽ, con gái lấy chồng nước ngoài đem lại sự thay đổi cuộc sống cho gia đình, còn đẻ nhiều con trai thì lại lo không lấy được vợ cùng xã.

“Nói không” với việc lấy chồng người địa phương

Lấy vợ thiên hạ:. Như phần trên đã phân tích, từ năm 1997 đến 8 tháng đầu năm 2009, số lượng phụ nữ lấy chồng nước ngoài ở xã Đ. lên đến 721 người, điều này cũng đồng nghĩa trong khoảng thời gian đó có 721 chàng trai đến độ tuổi kết hôn khó tìm được bạn đời ở cùng xã. Vì thế, đến tuổi kết hôn, chàng trai nào không tìm được bạn đời cùng xã thì phải tìm kiếm ở nơi khác, nói theo ngôn ngữ của dân gian là lấy vợ thiên hạ (xem bảng 1)

Bảng 1: Số nam giới xã Đ. lấy vợ theo khu vực địa lý, giai đoạn 2007-2009

Lấy vợ cùng xã Lấy vợ khác xã Lấy vợ khác huyện Lấy vợ khác tỉnh Tổng
Năm 2008 43 23 23 28 117
Năm 2009 (đến 20 tháng 8/2009) 12 14 21 13 60
Tổng 87 67 68 55 277

(Nguồn: Tác giả tập hợp và xử lý từ số liệu thống kê của xã Đ)

Bảng 1 cho thấy, thực trạng lấy vợ khác xã của nam giới ở xã Đ, theo đó số nam giới đến tuổi xây dựng gia đình lấy được vợ ở cùng xã dao động trong khoảng từ 32% (năm 2007) đến 50% (năm 2008) và 20% (8 tháng đầu năm 2009). Từ năm 2007 đến tháng 8 năm 2009, trong số 277 nam giới đăng ký kết hôn, chỉ có 31,4% lấy vợ cùng xã, còn lại 27,7% lấy vợ khác xã; 24,5% lấy vợ khác quận/huyện và 19,8% lấy vợ khác tỉnh. Như vậy, từ năm 2007 đến nay có gần 70% số nam giới ở xã Đ. vì những lý do khác nhau, lấy vợ ngoài xã.

Một khi hôn nhân tại địa phương trở nên khó khăn do sự khan hiếm nữ giới trong độ tuổi kết hôn, thì nam giới phải tìm kiếm bạn đời ở nơi khác. Đây là quy luật tất yếu trong hôn nhân và gia đình, nhất là với văn hoá Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn người dân còn chưa quen với cách lựa chọn lối sống độc thân.

Xem xét bối cảnh thực trạng hôn nhân ở xã Đ, ta không thể loại trừ các yếu tố di cư, hội nhập trong phát triển kinh tế cũng góp phần thúc đẩy sự kết hôn ngoài cộng đồng. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý, mặc dù là một xã kinh tế phát triển mạnh nhất huyện Kiến Thuỵ, nhưng trên địa bàn của xã không có một xí nghiệp, doanh nghiệp nào, và xã cũng không có nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng. Vì thế, không có lao động di cư từ nơi khác đến xã Đ, khiến cho nam giới đến độ tuổi kết hôn phải tìm kiếm đối tác ở các địa phương lân cận, cùng huyện khác xã, khác quận, huyện và cả phụ nữ thuộc các tỉnh khác nhau.

Hôn nhân trong nước và hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Để đi đến khẳng định về mối liên hệ mạnh hay yếu giữa xu hướng lấy chồng nước ngoài của phụ nữ và lấy vợ thiên hạ của nam giới xã Đ, cần có những nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên, từ những phát hiện ban đầu, dựa trên số liệu thống kê và phỏng vấn sâu mà chúng tôi có được, cũng có thể chỉ ra mối liên hệ này.

Bảng 2 : So sánh lấy chồng nước ngoài và lấy vợ ” thiên hạ” ở xã Đ, 2007-2009

2007 2008 2009 (8 tháng đầu năm) Tổng
Phụ nữ lấy chồng nước ngoài 48 112 87 247
Nam giới lấy vợ thiên hạ 68 74 48 190
Phụ nữ, nam giới kết hôn cùng xã 32 43 12 87

(Nguồn: Tác giả tập hợp và xử lý từ số liệu thống kê của xã Đ).

Bảng 2 cho thấy, số nam giới lấy vợ là người cùng xã chỉ bằng 45,7% số nam giới lấy vợ thiên hạ, nói cách khác cứ 1 nam giới lấy vợ cùng xã thì có 2 nam giới lấy vợ ngoài xã. Trong khi đó, số phụ nữ lấy chồng cùng xã chỉ bằng 35,2% số phụ nữ lấy chồng nước ngoài. Nghĩa là số phụ nữ lấy chồng nước ngoài nhiều gấp gần 3 lần số phụ nữ lấy chồng trong xã.

Như một quy luật tất yếu, khi mà số đối tượng kết hôn ở địa bàn giảm mạnh, thì nam giới phải tìm kiếm bạn đời ở nơi khác. Giả định rằng, nếu không có “làn sóng” lấy chồng nước ngoài, thì nam giới xã Đ. đến độ tuổi xây dựng gia đình chắc sẽ không có xu hướng lấy vợ thiên hạ nhiều như vậy.

Rõ ràng, hôn nhân ở đây trở nên khan hiếm đối với nam giới, trong khi với phần lớn phụ nữ ở xã Đ, họ lại hướng đến một thị trường hôn nhân xa hơn: Nước ngoài, cụ thể là Đài Loan và Hàn Quốc.

Nhận định về hiện tượng lấy chồng nước ngoài tác động đến cơ hội kết hôn của nam giới, ông Bí thư Đảng uỷ xã Đ. cho rằng “Hậu quả là hiện nay có tình trạng khan hiếm phụ nữ ở độ tuổi kết hôn. Nam giới xã Đ đến tuổi kết hôn phải đi lấy vợ xa khác địa phương và khó lấy vợ. Cùng với việc sinh đẻ chênh lệch về giới tính, chắc chắn số nam giới không lấy được vợ trong những năm tới sẽ tăng lên“. Tại địa phương này, giờ đây những gia đình có con trai đến độ tuổi lấy vợ cũng canh cánh nỗi lo.

Chính vì hôn nhân đang trở nên khó khăn, nên không ít chàng trai xã Đ. ở vùng ven biển phải ngược lên một số tỉnh miền núi phía Bắc để tìm bạn đời. Đã có những cô gái người dân tộc thiểu số ở miền sơn cước về làm dâu vùng biển, ngôn ngữ chưa thông, công việc ruộng đồng chưa thạo, khiến cho các ông bố bà mẹ chồng đành than thở trước cảnh các cô dâu Tày (chứ không phải dâu Tây) khó thích nghi với cuộc sống ở vùng đồng bằng ven biển.

Nỗi lo của người mẹ về con trai khó lấy vợ cùng xã là có cơ sở. Bởi lẽ theo như lời của Bí thư đảng uỷ xã “Con gái xã Đ. nói không với lấy chồng địa phương” đã thành câu nói nổi tiếng ở huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng về xu hướng lấy chồng ngoại ở vùng quê này.

Vĩ thanh

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội, có những tác động tích cực và tiêu cực đến đời sống người Việt.

Hôn nhân là quyền tự do quyết định của cá nhân. Nhưng cần có những Trung tâm hỗ trợ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, để trang bị cho các cô gái Việt Nam có nhu cầu lấy chồng nước ngoài những kiến thức về văn hoá, luật pháp, phong tục, ngôn ngữ của nước mà cô gái muốn lấy chồng. Đồng thời cung cấp những thông tin xác thực về điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, sức khoẻ của chú rể ngoại quốc. Có như vậy, mới giảm thiểu được những rủi ro đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Bên cạnh đó, rất cần ngăn chặn những kẻ môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Xử phạt nghiêm những kẻ lợi dụng hôn nhân quốc tế để tìm kiếm lợi nhuận, lừa dối các cô gái Việt Nam trong hôn nhân. Cần nghiêm trị những kẻ lợi dụng kết hôn với người nước ngoài để buôn bán phụ nữ, lừa đảo các cô gái Việt Nam vào con đường mại dâm quốc tế.

Đàn bà Việt “đẻ thuê” và tương lai những đứa trẻ?

Trên một phương diện lớn hơn, quan niệm cho rằng công nghệ hiện đại chỉ xóa bỏ lao động giản đơn, và rằng những người lao động được đào tạo tốt sẽ là những kẻ thắng cuộc vinh quang nhất, trên thực tế đã trở nên lỗi thời hàng mấy thập niên trở lại đây.

LTS: Ngày 6-3-2011, trên tờ New York Times có đăng bài viết “Degrees and Dollars” của Paul Krugman, GS Kinh tế và Quan hệ Quốc tế Đại học Princeton (Mỹ). Bài viết đi vào phân tích lý do vì sao bằng cấp cao không đồng nghĩa với việc dễ kiếm một công việc ổn định với mức lương cao, lý giải lý do giáo dục không hẳn là cứu cánh duy nhất cho thịnh vượng và công bằng xã hội.

Mặc dù có sự khác biệt lớn ở góc độ xã hội giữa xã hội Việt Nam và xã hội Mỹ, nhưng thiết nghĩ đây cũng là vấn đề thú vị. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin đăng lại bài viết này, với mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi, xem xét và bàn luận của quý bạn đọc gần xa.

Một niềm tin sai lầm?

Có một triết lí mà nhiều người công nhận: Giáo dục- chìa khóa cho thành công về kinh tế. Ai cũng biết rằng trong tương lai, với sự phát triển của khoa học, kinh tế- xã hội, công việc sẽ đòi hỏi người lao động có trình độ và kĩ năng cao hơn. Đó cũng chính là lí do vì sao mà trong lần xuất hiện thứ sáu vừa qua cùng với cựu Thống đốc bang Florida Jeb Bush, Tổng thống Obama đã đưa ra tuyên bố rằng: “Nếu chúng ta muốn lạc quan về thị trường lao động và việc làm thì chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo dục”.

Trước kia, chỉ có công nhân sản xuất mới cần lo lắng đến áp lực cạnh tranh từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Nhưng ngày nay, sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc cung cấp nhiều dịch vụ từ xa. Một nghiên cứu do những đồng nghiệp của tôi tại Trường ĐH Princeton đã chỉ ra rằng những công việc thu nhập cao do những người lao động trình độ cao thực hiện dễ “đi xa” hơn những công việc tay chân thu nhập thấp. Nếu như lập luận của họ đúng, thì điều đó có nghĩa là giao dịch quốc tế ngày càng phát triển trong lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng khoét rộng hơn “lỗ hổng” trong thị trường lao động Mỹ.

Nhưng trên thực tế, điều mà ai cũng biết ấy lại là một niềm tin sai lầm.

Một ngày sau tuyên bố của Tổng thống Obama, Tạp chí Thời đại (Times) cho đăng một bài viết nói về xu hướng sử dụng các phần mềm chuyên dụng để tiến hành nghiên cứu các văn bản pháp luật. Cũng theo bài báo trên, máy tính có khả năng phân tích nhanh hàng triệu văn bản, và thực hiện công việc đó với chi phí thấp vốn đòi hỏi hàng tá luật sư và nhân viên hỗ trợ pháp luật. Trong trường hợp này, trên thực tế, tiến bộ về kĩ thuật lại làm giảm nhu cầu đối với người lao động trình độ cao.

Nghiên cứu pháp luật không phải là một ví dụ đơn lẻ. Theo bài báo này thì máy tính cũng đang dần thay thế kỹ sư trong những công việc như thiết kế chip điện tử. Trên một phương diện lớn hơn, quan niệm cho rằng công nghệ hiện đại chỉ xóa bỏ lao động giản đơn, và rằng những người lao động được đào tạo tốt sẽ là những kẻ thắng cuộc vinh quang nhất, trên thực tế đã trở nên lỗi thời hàng mấy thập niên trở lại đây.

Kể từ năm 1990, đặc thù của thị trường lao động Mỹ không phải là xu hướng nâng cao yêu cầu về kỹ năng mà là “sự mở rộng của lỗ hổng trong thị trường việc làm”. Nghĩa là công việc thu nhập cao và thu nhập thấp đều gia tăng nhanh chóng, trong khi những công việc thu nhập trung bình, loại công việc nuôi sống tầng lớp trung lưu đông đảo trong xã hội, thì đang suy giảm. Và lỗ hổng ở giữa ấy đang ngày một lớn hơn. Nhiều công việc thu nhập cao gia tăng nhanh chóng trong thập niên 1990 gần đây cũng đã tăng chậm lại, ngay cả khi các công việc thu nhập thấp vẫn tăng nhanh.

Vậy vì sao lại xảy ra thực trạng này? Niềm tin rằng giáo dục ngày càng trở nên quan trọng dựa trên một ý tưởng có vẻ hợp lí rằng: Công nghệ giúp mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho những người làm việc liên quan đến thông tin. Nói một cách đơn giản, điều đó có nghĩa là máy tính giúp những người làm việc đầu óc, trong khi ảnh hưởng xấu đến những người làm việc chân tay.

Tuy nhiên, một vài năm trước đây, các nhà kinh tế như David Autor, Frank Levy, và Richard Murnane đã cho rằng quan niệm này là sai lầm. Họ chỉ ra rằng máy tính chỉ thực sự thể hiện ưu thế trong những công việc lặp đi lặp lại (những công việc chân tay và đầu óc được thực hiện theo những quy tắc nghiêm ngặt). Do đó, bất cứ công việc lặp đi lặp lại nào, bao gồm cả những công việc bàn giấy, đang gặp phải nguy cơ lớn. Trái lại, những công việc không thể thực hiện một cách máy móc, ví dụ như lái xe tải hay bảo vệ, lại có xu hướng gia tăng ngay cả khi phải đối mặt với tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Và vấn đề là ở đây: Hầu hết những công việc chân tay trong nền kinh tế của chúng ta lại là những việc khó tự động hóa. Đặc biệt là số lao động trong lĩnh vực sản xuất giảm xuống chỉ còn chiếm 6% lực lượng lao động Mỹ, và sẽ khó có thể giảm hơn được nữa. Trong khi đó, rất nhiều công việc bàn giấy đang được thực hiện bởi những người được đào tạo cẩn thận và trả lương cao sẽ được tự động hóa trong tương lai gần. Máy hút bụi rất tuyệt vời, nhưng còn lâu mới có rô-bốt bảo vệ, còn nghiên cứu tài liệu luật và chẩn đoán bệnh bằng máy tính thì đã xuất hiện rồi.

Bằng cấp liệu có đi đôi với thu nhập? Ảnh minh họa

Giáo dục không hẳn là câu trả lời

Paul Krugman là giáo sư kinh tế và quan hệ quốc tế tại Trường Chính sách công và Quan hệ quốc tế Woodow Wilson thuộc ĐH Princeton- Mỹ. Ông là nhà bình luận chuyên mục op-ed của Thời báo New York (The New York Times). Năm 2008, Paul Krugman được nhận giải Nobel Kinh tế cho những đóng góp của ông về thuyết thương mại mới và thuyết địa lý kinh tế

Bây giờ xét đến toàn cầu hóa. Trước kia, chỉ có công nhân sản xuất mới cần lo lắng đến áp lực cạnh tranh từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Nhưng ngày nay, sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc cung cấp nhiều dịch vụ từ xa. Một nghiên cứu do những đồng nghiệp của tôi tại Trường ĐH Princeton đã chỉ ra rằng những công việc thu nhập cao do những người lao động trình độ cao thực hiện dễ “đi xa” hơn những công việc tay chân thu nhập thấp. Nếu như lập luận của họ đúng, thì điều đó có nghĩa là giao dịch quốc tế ngày càng phát triển trong lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng khoét rộng hơn “lỗ hổng” trong thị trường lao động Mỹ.

Vậy điều này có liên quan thế nào đến chính sách?

Câu trả lời là: Chúng ta cần cải cách giáo dục Mỹ. Những đứa trẻ thông minh xuất thân trong những gia đình nghèo ít có khả năng hoàn thành các chương trình ĐH hơn những đứa trẻ kém thông minh hơn nhưng được sinh ra trong các gia đình giàu có. Đấy mới chỉ là khởi đầu cho những bất công xã hội mà người Mỹ hiện nay đang phải đối mặt. Và đó còn là sự lãng phí tiềm năng con người của quốc gia.

Và có những điều ngay cả giáo dục cũng không thể giải quyết được. Quan niệm của chúng ta trong một thời gian dài cho rằng đưa càng nhiều con trẻ của chúng ta vào các trường ĐH có thể giúp khôi phục lại xã hội trung lưu, xét cho cùng, chỉ là một mong ước tốt đẹp mà thôi. Niềm tin có một tấm bằng ĐH sẽ đảm bảo cho bạn một công việc tốt giờ không còn đúng nữa.

Vậy nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, thì giáo dục hẳn không phải là câu trả lời. Chúng ta cần khôi phục lại quyền thương lượng mà người lao động đã mất hơn 30 năm trở lại đây. Theo đó những người công nhân bình thường hay các siêu sao màn bạc đều có quyền thương lượng để có được mức lương tốt. Chúng ta cũng cần đảm bảo những nhu cầu thiết yếu nhất (trước hết là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe) cho mọi công dân.

Chúng ta không thể đạt được điều chúng ta muốn bằng cách chỉ đơn giản vứt cho người lao động tấm bằng ĐH, thứ có lẽ không hơn gì tấm vé cho họ 1 công việc không hề tồn tại hoặc 1 công việc không mang lại cho họ mức thu nhập trung bình.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: