Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Tầm vóc người Việt

Posted by BEAR on Tháng Năm 8, 2011

Nâng tầm vóc người Việt

Năm 2003, Bộ Y tế Việt Nam cho biết chiều cao trung bình ở nam trưởng thành là 163,7 cm và nữ là 1,54 cm. So với số liệu năm 1975 thì nam đã tăng 3,7cm và nữ tăng 4 cm. Tuy nhiên, so với người trưởng thành ở Nhật Bản cùng nhóm tuổi thì người nước ta vẫn thấp hơn 10 cm. So với thế giới, tầm vóc, thể lực của người trưởng thành Việt Nam hiện thuộc loại trung bình thấp.

Thực trạng thể chất người Việt Nam tác động của dinh dưỡng đến tăng, trưởng của con người, làm thế nào để nâng cao tầm vóc của người Việt cũng chính là những nội dung chủ yếu được bàn luận tại hội thảo Cải thiện dinh dưỡng và gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam do Dutch Lady Việt Nam phối hợp với Hội dinh dưỡng Việt Nam tổ chức ngày 26/2 tại Hà Nội.

Suy dinh dưỡng đồng hành với đói nghèo

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những nhân tố chính ảnh hưởng đến tầm vóc thân thể, thể lực con người bao gồm

  • dinh dưỡng (31%),
  • di truyền (23%),
  • thể dục thể thao (20%),
  • môi trường (16%),
  • tâm lý xã hội khoảng (10%).

Như vậy, yếu tố dinh dưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em có quan hệ cùng chiều với điều kiện sống của hộ gia đình. Trẻ sống ở hộ nông nghiệp, hộ nghèo và hộ có nhiều con có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD), thấp còi cao.

Đầu những năm 90, các chuyên gia Ngân hàng thế giới dự báo vào năm 2000, tỷ lệ thấp còi ở trẻ em nước ta sẽ là 45%, đến năm 2013 sẽ dưới 35% với điều kiện đạt mức tăng trưởng kinh tế liên tục các năm là 9%. Tuy nhiên, theo đánh giá của UNICEF, tính trong cả thập kỷ 90 thì Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực ĐNA và TBD đạt được mức giảm SDD là 1,8%/năm.

Tỷ lệ SDD thấp còi ở Việt Nam đã giảm từ 59,7% năm 1985 xuống còn 46,9% năm 1995; 36,5% năm 2000 và 29,6% năm 2005. Song do tỷ lệ thấp còi ở thời điểm xuất phát ban đầu năm 1990 của khu vực ĐNA là cao nhất, nên dù đã đạt được mức giảm cao nhất thì tỷ lệ thấp còi của nước ta vẫn còn cao hơn so với các nước khu vực khác trên thế giới. Có thể nhận thấy hoạt động can thiệp dinh dưỡng ở Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong việc hạ thấp SDD.

Kể từ năm 2000 đến nay, với sự đầu tư của Chính phủ hàng năm ngày càng tăng, chương trình phòng chống SDD trẻ em đã bao phủ hết tất cả các xã trong toàn quốc. Vai trò của các chương trình dinh dưỡng ở Việt Nam không những nhằm vào việc chăm sóc bà mẹ và trẻ em mà còn nâng cao nhận thức và cam kết của các cơ quan có thẩm quyền ở tất cả các cấp.

Mục tiêu giảm SDD đã được đưa vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ. 5 năm qua, nhiều tổ chức xã hội đã tham gia tích cực vào chương trình phòng chống SDD trẻ em. Cùng với chương trình giảm nghèo, chương trình phòng chống SDD trẻ em đã đóng góp đáng kể vào việc tăng nhanh tốc độ giảm SDD trong giai đoạn 2000-2005. Các yếu tố nguy cơ của SDD trẻ em được phân tích từ số liệu điều tra quốc gia năm 2004 cho thấy tình trạng kinh tế và điều kiện sống của trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng dinh dưỡng. Hộ nghèo và hộ sống ở vùng kinh tế kém có nguy cơ SDD cao.

Tỷ lệ SDD thấp còi không có sự khác biệt giữa trẻ trai và trẻ gái nhưng có sự khác biệt giữa các vùng và tình trạng kính tế. Nguyên nhân chính của SDD là đói nghèo. Đói nghèo làm ảnh hưởng đến những hộ gia đình có các thành viên có trình độ văn hoá thấp, những người này thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các kỹ năng thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng như dinh dưỡng.

Nâng cao tầm vóc để phát triển đất nước

Thiếu vi chất dinh dưỡng, thiếu protein năng lượng tồn tại rất phổ biến ở Việt Nam , các đối tượng có nguy cơ là trẻ em và phụ nữ tuổi sinh đẻ. Theo điều tra của Viện dinh dưỡng về tình hình thiếu vi chất của trẻ 5-8 tháng tuổi tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin A tương ứng là 73,1%, 37,8% và 38,1%, thuộc mức rất cao về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng. Trong số 73,1% trẻ bị thiếu máu, chỉ có 24,1% trẻ thiếu máu đơn lẻ, 32,8% trẻ bịhiếu máu kèm theo thiếu một vi chất khác (vitamin A và kẽm) và 15,2% thiếu máu kèm theo thiếu hai vi chất khác.

Thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vi chất dinh dưỡng làm chậm sự phát triển thể lực và nhận thức, giảm khả năng học tập và làm việc có thể gây ra những khuyết tật bẩm sinh, đần độn, mù loà. Bên cạnh đó, thiếu vi chất dinh dưỡng thường đi cùng với SDD protein năng lượng. SDD ở buổi nhỏ, dù sau này có được cải thiện thì vẫn còn ảnh hưởng tới khả năng lao động và các thế hệ tương lai sau này. Trẻ em ở lứa tuổi học đường là giai đoạn mà cơ thể đang phát triển nhanh về trí tuệ và thể lực, đồng thời ở lứa tuổi này trẻ phải tiếp thu gánh nặng học tập ở trường cũng như ở nhà nhưng lại ít được chăm sóc hơn so với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, nhà trẻ. Học sinh nông thôn còn phải giúp đỡ cha mẹ trong công việc gia đình và sản xuất nông nghiệp. Với những gánh nặng như vậy và sự thiếu hụt về dinh dưỡng, trẻ học đường đặc biệt là trẻ nông thôn dễ có nguy cơ SDD và ảnh hưởng tới thành tích học tập. Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng dinh dưỡng của học sinh nông thôn thấp hơn hẳn so với học sinh ở thành phố.

Tiềm năng tăng trưởng trí tuệ và tầm vóc

Theo điều tra về tình trạng thể lực của học sinh tiểu học năm 2003 tại Yên Phong, Bắc Ninh thì tỷ lệ trẻ 7-8 tuổi bị thiếu cân là 31% và có chiều cao thấp là 35%. Trẻ em thấp còi thường sau này cũng trở thành những người lớn có chiều cao thấp. Hơn nữa, những người bị SDD thấp còi thường có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc bệnh hơn so với người bình thường, đồng thời khả năng lao động cũng kém hơn.

Theo kết quả điều tra dịch tễ học dinh dưỡng về diễn biến thể lực của trẻ em, thanh thiếu niên tại Tp.HCM từ 1999-2005: Chiều cao và cân nặng trẻ trai ở nhóm 1-3 tuổi tăng lần lượt là 1,6-2,2cm và 0,6-1,4kg. Chiều cao ở trẻ gái chỉ tăng ở nhóm 3 tuổi là 1,8cm và cân nặng ở độ tuổi này tăng 1,3kg. Chiều cao của nam, nữ học sinh cấp 3 (15-17 tuổi) từ năm 2000-2005 tăng 1,8-2,1cm và 1,5-1,6cm. Cân nặng của nam và nữ sinh cấp 3 tăng 2,5- 4,3kg và 0,6-1,9kg. Theo thời gian, đặc biệt trong thập kỷ 90, tầm vóc, thể lực của người Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt, đã có sự xuất hiện quy luật gia tăng về tầm vóc cơ thể (điển hình là về chiều cao) do những điều kiện thiên nhiên, môi trường và kinh tế xã hội của nước ta đổi mới theo chiều hướng tốt.

GS-TSKH Hà Huy Khôi Phó chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam nhận định: Hiện tượng gia tăng trong tăng trưởng trên là bằng chứng cụ thể về tiềm năng nòi giống Việt Nam và ảnh hưởng tích cực của các thành tựu kinh tế xã hội trong 2 thập kỷ qua.

Chúng ta hoàn toàn có căn cứ để hy vọng tầm vóc của người Việt Nam cả thể chất và trí tuệ ngày một tốt hơn. Tuy nhiên, cần có những công trình nghiên cứu hệ thống và hoàn chỉnh về tầm vóc thể lực người trưởng thành trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, đồng thời cần có những biện pháp về tác động toàn diện để sau 10-20 năm nữa tầm vóc thể lực người Việt Nam có thể ngang bằng với các dân tộc tiên tiến trên thế giới. Giải pháp chính nhằm gia tăng sự tăng trưởng của người Việt Nam mà các đại biểu đưa ra là áp dụng chế độ dinh dưỡng hợp lý kết hợp với các biện pháp luyện tập thể dục thể thao để nâng cao thể chất.

Huyền Ngân (TBKT)

Việt Báo (Theo_VnMedia)

Đề án phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới

(Chinhphu.vn) – Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030 với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam.

Mục tiêu cải thiện tầm vóc thân thể của thanh niên Việt Nam là: đối với nam 18 tuổi, năm 2020 có chiều cao trung bình 167cm và đến năm 2030 chỉ số này là 168,5cm; đối với nữ 18 tuổi, năm 2020 chiều cao trung bình là 156cm và đạt 157,5cm vào năm 2030.

Nhiệm vụ cải thiện thể lực được đặc biệt chú trọng là sức bền và sức mạnh của thanh niên, trong đó năm 2020 khả năng chạy tùy sức 5 phút của nam 18 tuổi được tính trong quãng đường trung bình đạt 1.050m, chỉ số này ở nữ 18 tuổi là trong quãng đường trung bình đạt 850m.

Bên cạnh đó, Đề án đặt mục tiêu tăng cường chăm sóc sức khỏe trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên nhằm giảm thiểu các bệnh về tim mạch, bệnh béo phì, bệnh gây bất bình thường về chiều cao thân thể, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống…

Đề án được thực hiện trong phạm vi toàn quốc và chỉ đạo trọng điểm ở 4 thành phố, 6 trỉnh đồng bằng miền núi.

Đề án được thực hiện trong 20 năm, chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 từ 2011-2020 thực hiện thí điểm giải pháp đồng bộ về dinh dưỡng và thể dục thể thao. Giai đoạn 2 từ 2021-2030 sẽ thực hiện mở rộng trong phạm vi toàn quốc.

4 chương trình của Đề án

Chương trình 1: Nghiên cứu triển khai, ứng dụng những yếu tố chủ yếu tác động đến thể lực, tầm vóc người Việt Nam.

Chương trình này do Bộ Y tế chủ trì thực hiện, với nhiệm vụ là xây dựng các chỉ số sinh học và các tiêu chí, tiêu chuẩn phát triển thể lực, tầm vóc; đồng thời đề xuất khả năng can thiệp cải thiện thể lực, tầm vóc người Việt Nam.

Chương trình 2: Chăm sóc dinh dưỡng kết hợp với các chương trình chăm sóc sức khỏe, chất lượng dân số có liên quan.

Trong chương trình này sẽ nghiên cứu đề xuất chuẩn thực đơn dinh dưỡng hàng ngày phù hợp với các đối tượng; thí điểm hướng dẫn và thực hiện chế độ chăm sóc dinh dưỡng đối với học sinh mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; xây dựng và triển khai chương trình sữa học đường đối với học sinh mẫu giáo, tiểu học…

Chương trình 3: Phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường giáo dục thể chất đối với học sinh từ 3-18 tuổi do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì thực hiện. Mục tiêu đặt ra đến năm 2020 có 55% tổng số trường phổ thông các cấp có câu lạc bộ thể dục thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động thể dục thể thao… và tỷ lệ này tăng lên 90% vào năm 2030.

Chương trình 4: Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi xã hội về phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì.

Tuấn Khang

http://viet-studies.info/kinhte/TamVocNguoiViet.pdf

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: