Welcome to BEAR’s BLOG!!!

Mình bị ngộ chữ rồi : Đổi mới hình thức bằng Đại học –> Bài phản ánh bệnh “hình thức” của đổi mới à?

Posted by BEAR on Tháng Năm 10, 2011

Đổi mới hình thức bằng Đại học

–> Bài phản ánh bệnh “hình thức” của đổi mới à?

Ổ , hóa ra chuẩn bị cho phổ cập đại học!?

Đại học Việt Nam- vừa đội nón, vừa che ô?

Phải chăng nguyên nhân chính xuất phát từ hệ thống quản lý có quá nhiều bất cập.

Tự chủ ĐH và tính xơ cứng của hệ thống

Cùng với tài chính, quản trị là một lĩnh vực rất quan trọng trong giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống quản trị ĐH Việt Nam, từ cấp nhà nước đến các cơ sở giáo dục ĐH đến nay vẫn còn chưa rõ ràng và thiếu minh bạch. Copy mô hình hệ thống từ thời Liên Xô cũ từ năm 1954 ở miền Bắc, và từ năm 1975 ở miền Nam, nhìn chung hệ thống quản trị ĐH Việt Nam đến nay vẫn không có nhiều thay đổi. Về mặt quản lý Nhà nước, Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm chung.

Trên cơ sở đó, 13 bộ ngành và các địa phương quản lý tập trung các cơ sở giáo dục ĐH, CĐ. Trong tổng số 376 trường đại học cao đẳng (số liệu năm 2009)[1], Bộ GD&ĐT quản lý 54 trường (14,4%). Các bộ, ngành khác quản lý 116 trường (30,8%). UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (33,2%). Có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%).

Trong khi Bộ GD&ĐT là cơ quan duy nhất theo luật pháp được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giáo dục cấp bộ thì việc kiểm tra chấp hành các văn bản đó ở các trường ĐH, CĐ thuộc các bộ, ngành khác và do UBND là cơ quan chủ quản còn rất hạn chế. Có bộ còn ra văn bản chồng chéo lên chức năng quản lý Nhà nước của Bộ GD&ĐT[2].

Thời gian qua, Bộ GD&ĐT đã có một số chủ trương như phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh dựa trên năng lực và cơ sở đề xuất của các trường, đồng thời qui định các trường thực hiện ba công khai[3]… Tuy nhiên, những chủ trương trên hoàn toàn chưa đủ vì tính xơ cứng của hệ thống tồn tại quá lâu. Thực tế cho thấy cơ chế xin-cho vốn không minh bạch vẫn còn tồn tại khá nặng nề và bản thân các trường chưa thoát ra khỏi thói quen trông chờ ỷ lại vào bầu sữa bao cấp.

Có ý kiến cho rằng nếu Nhà nước không quản lý và đưa ra qui định cụ thể ràng buộc các trường thì hệ thống giáo dục ĐH sẽ không kiểm soát được. Lập luận này, trong một chừng mực nào đó là hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, 1 câu hỏi đặt ra là tại sao trong 1 hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam như hiện nay lại tồn tại quá nhiều trường ĐH với chất lượng yếu kém?

Phải chăng nguyên nhân chính xuất phát từ hệ thống quản lý có quá nhiều bất cập. Sự cho phép mở quá nhiều trường ĐH cũng như nâng cấp ào ạt hàng loạt các trường CĐ lên ĐH, cùng với việc thành lập nhiều trường ngoài công lập đã làm chất lượng đào tạo không tương xứng với danh xưng vốn có của một trường ĐH?

Có người lý giải việc cấp phép nâng cấp và mở thêm nhiều trường ĐH mới là nhằm đáp ứng mục tiêu 200 sinh viên/ 1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 theo Nghị quyết 14/2005. Tuy nhiên, việc này đã dẫn đến hệ lụy chất lượng thấp kém đến nỗi Quốc hội, trong năm 2010 phải thành lập Ủy ban giám sát và ra Nghị quyết về việc thành lập các trường và chất lượng đào tạo ĐH[4].

Song song đó là một hệ thống giáo dục ĐH khá phức tạp với 2 ĐH quốc gia, 3 ĐH vùng, bên dưới là các “trường ĐH thành viên” trực thuộc cũng như hàng loạt các trường ĐH đơn ngành, đa ngành, và trường CĐ do các bộ ngành và các tỉnh quản lý, đã mang đến những lẫn lộn nhất định về tên gọi cũng như tính chính thể của hệ thống[5].

Một vấn đề cần xem xét là 2 ĐH quốc gia thật sự có được quyền tự chủ theo đúng nghĩa hay chưa, tức “tự chủ thực chất” và “tự chủ thủ tục” (Berdahl, 1990) về các mặt như tổ chức quản trị/ quản lý, tài chính, nhân sự, tuyển sinh, học thuật/ chương trình… Ở các ĐH khu vực, tình hình có vẻ gay cấn hơn do các ĐH này trực thuộc Bộ GD&ĐT, mức độ tự chủ chỉ phần nào.

Ảnh minh họa. Nguồn: bmg.edu.vn

Tầng nấc quản lý từ Bộ GD&ĐT xuống ĐH khu vực rồi từ ĐH khu vực xuống các trường ĐH thành viên, càng làm cho việc quản lý ngày càng trở nên phức tạp. Hình tượng ví von “vừa đội nón, vừa che ô” cho thấy sự rối rắm của mô hình ĐH quốc gia và ĐH khu vực vốn cần được các cấp nhà nước nghiên cứu thấu đáo[6].

Bên cạnh các trường ĐH, CĐ, sự hình thành và tồn tại của các viện nghiên cứu độc lập theo mô hình của Liên Xô cũ đã mang đến những tách biệt giữa nghiên cứu và đào tạo. Có ý kiến cho rằng cần xem xét sáp nhập các viện nghiên cứu với các trường ĐH cụ thể bởi bản thân một số viện nghiên cứu có các nét tương đồng hoặc các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, trong bối cảnh của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay, đề xuất này khó khả thi vì những quyết định có tính lịch sử để lại từ thời Liên Xô (cũ).

Hơn nữa, ngay cả bản thân của các ĐH và trường ĐH hàng đầu ở Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm các trường chỉ mới có định hướng nghiên cứu (trên dưới 10% thu nhập từ khoa học công nghệ). Mối quan tâm hiện nay là Nhà nước cần tạo ra cơ chế phù hợp để thúc đẩy việc nghiên cứu, cũng như gắn kết chặt chẽ hơn giữa các trường ĐH và các viện nghiên cứu.

Tự chủ đại học- ai được, ai mất?

Trên thế giới, tự chủ ĐH là một nguyên lý hết sức cơ bản trong quản trị ĐH. Tự chủ ĐH bao gồm 6 lĩnh vực tự chủ: Tự chủ trong quản lý nhà trường; phân bổ nguồn lực; tuyển chọn nhân sự, tài chính và điều kiện làm việc; tuyển chọn sinh viên; chương trình đào tạo/ học thuật và giảng dạy; quyết định chuẩn học thuật, đánh giá và cấp văn bằng.

Các kết quả nghiên cứu về tự chủ ĐH trên thế giới cho thấy mức độ tự chủ ở 2 nhóm quốc gia, các nước phát triển và đang phát triển, là rất khác nhau, bởi mỗi quốc gia đều có thể chế chính trị, hình thái lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Tuy nhiên, có nét tương đồng chung về tự chủ ĐH ở 3 khu vực chính trên thế giới.

Ở các quốc gia thuộc hệ thống Anh-Mỹ, các trường ĐH có truyền thống tự chủ ĐH cao nhất nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước xã hội và chính phủ. Ở các nước châu Âu lục địa, tự chủ thường nằm trong khuôn khổ qui định chi tiết của nhà nước. Tuy nhiên, các qui định có vẻ được nới lỏng và việc phân cấp được thực hiện. Ở các nước châu Á nói chung, nơi có nhiều ĐH mới được hình thành, nhà nước thường có mức độ kiểm soát cao như là những công cụ đóng góp vào tính kết nối quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.

Mặc dù vậy, tự chủ ĐH không phải là một khái nhiệm tuyệt đối. Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của trường ĐH thông qua các hành lang chính sách pháp lý hoặc chế tài tài chính.

Ở Việt Nam, vấn đề tự chủ ĐH chưa được hiểu và nghiên cứu một cách thấu đáo. Với quan niệm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, Bộ GD&ĐT trên thực tế đã làm thay công việc của các trường, từ bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo đơn vị, bổ nhiệm GS, phó GS, phê duyệt chương trình khung (chuẩn chương trình), phân bổ chỉ tiêu đào tạo, quyết định việc mở ngành mới và mức học phí (đối với trường công lập).

Trả lời báo chí[7], nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH Trần Thị Hà cho rằng Bộ đã giao nhiều quyền tự chủ cho các trường nhưng bản thân các trường chưa tận dụng hết những quyền hạn được giao. Ngược lại các trường, qua các cuộc khảo sát, cho rằng bản thân các trường phải “xin” thì mới được Bộ “cho” như mở ngành mới, phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh v.v…

Theo cơ chế chuyển đổi từ mô hình kiểm soát sang giám sát mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng, vai trò của Bộ GD&ĐT là xây dựng khuôn khổ chính sách, hành lang pháp lý cho các trường trong khi các trường cần được thực sự tự chủ theo qui định của pháp luật, nhưng phải đánh đổi bằng trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình. Chính vì chưa có hành lang pháp lý rõ ràng và sự thống nhất trong cách tiếp cận đã dẫn đến những mâu thuẫn vốn âm ỉ và rất cần được giải quyết thấu đáo.

Về vấn đề này, có lẽ chúng ta nên học hỏi ở hệ thống quản trị ĐH Trung Quốc, nơi các trường ĐH không tách rời khỏi nhà nước mà là một bộ phận không thể thiếu của dự án hiện đại hóa quốc gia của Trung Quốc (Su Yan Pan, 2009). Mặc dù vậy, sự cởi mở của nhà nước (trong chừng mực) đối với 1 số trường ĐH hàng đầu như ĐH Thanh Hoa hay ĐH Bắc Kinh đã mang đến những thay đổi hết sức đáng khâm phục. Kết quả là 2 ĐH này trong khoảng 5 năm trở lại đây luôn nằm trong nhóm 100 trường ĐH hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Tạp chí Times Higher Education[8].

ĐH Thanh Hoa – Trung Quốc

Hội đồng trường- nhân tố tạo nên sự thay đổi

Để đảm bảo tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường ĐH, vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay là thành lập Hội đồng trường. Cả 2 điều lệ trường ĐH năm 2003 và năm 2010 đều đề cập đến việc này, nhưng tại sao cho đến nay chỉ có rất ít trường thành lập được hội đồng trường một cách đúng nghĩa là điều đáng suy gẫm.

1 câu hỏi đặt ra là tại sao phải có hội đồng trường trong các trường ĐH Việt Nam. Có thể thấy, trong lịch sử giáo dục ĐH Việt Nam, tất cả các hội đồng ở các trường ĐH, kể cả hội đồng khoa học đào tạo, đều có tính chất của những hội đồng tư vấn vì tất cả đều do hiệu trưởng quyết.

Theo GS Phạm Phụ (2005), hội đồng nhà trường bao gồm ban giám hiệu, các trưởng phó khoa, phòng ban, Đảng ủy, công đoàn… về bản chất vẫn là một một hội đồng hành chính (executive body) bên trong của nhà trường chứ chưa phải là một hội đồng quyền lực cao nhất của nhà trường và có rất nhiều thành viên độc lập bên ngoài nhà trường.

Về nguyên tắc, quyền lực cao nhất vẫn tập trung vào vai trò của hiệu trưởng. Ngoài ra, trong điều kiện chuyển đổi hết sức cơ bản của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay từ tinh hoa sang đại trà, nơi phần thu học phí đóng vai trò ngày càng quan trọng cũng như hương vị “thị trường” tăng cao, điều này cho thấy nhiều nội dung cần ra quyết định đã vượt ra ngoài khuôn khổ của trường ĐH truyền thống, trong đó có vấn đề tài chính trường ĐH.

Một cách tương ứng, việc ra quyết định ở các trường ĐH Việt Nam còn nặng theo mô hình truyền thống với quyền lực lớn nằm ở các tổ chức hành chính và các nhà quản lý hành chính. Xu hướng doanh nghiệp và kinh doanh ngày càng thâm nhập sâu vào trường ĐH. Ngoài ra, giáo dục ĐH Việt Nam đang ở trạng thái “cầu” vượt trội so với “cung” (chỉ khoảng 25% người học được vào các trường ĐH); trạng thái “độc quyền” vẫn còn tồn tại. Trong bối cảnh đó, cần phải giao quyền sử dụng tài sản và một phần quyền định đoạt lợi ích phát sinh cho một hội đồng trường như hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp (Phạm Phụ, 2005).

Song song đó, hiện Nhà nước đang chủ trương tăng quyền tự chủ cho các trường công lập và đã thí điểm cơ chế “tự chủ tài chính” ở một số trường (như Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM, Trường ĐH Thương mại). Điều này có nghĩa là giáo dục ĐH đang từng bước chuyển dần cơ chế “phân phối thẩm quyền” từ mô hình cấu trúc trên-xuống (top-down – top heavy) sang mô hình dưới-lên (bottom-up – bottom heavy). Nghĩa là thẩm quyền ra quyết định trong giáo dục ĐH sẽ được tập trung chủ yếu ở cấp trường. Trong bối cảnh đó, trường ĐH phải tự biết đổi mới, biết chấp nhận rủi ro, và phải đưa ra nhiều quyết định có tính tính đa mục tiêu. Chỉ có hội đồng trường mới có thể đảm đương được những trách nhiệm đó.

Mặc dù vậy, qua khảo sát, phần lớn hiệu trưởng các trường ĐH đều không muốn thành lập Hội đồng trường vì nhiều nguyên nhân, trong đó sâu xa nhất vẫn là cơ chế hoạt động của Hội đồng trường và Đảng ủy có nhiều điểm trùng lắp nhau. Một số ý kiến lo ngại rằng với cơ chế hiện nay, nếu làm không khéo thì Hội đồng  trường sẽ trở nên thừa vì hiệu trưởng không thể chịu sự chỉ đạo từ 2 cấp. Điều này đúng nhưng chưa đủ.

Điều đặc biệt quan trọng cần xem xét là Hội đồng trường chính là nhân tố tạo nên sự thay đổi chứ không phải là Ban Giám hiệu hay Đảng ủy (do tính khách quan, độc lập, số thành viên bên ngoài nhiều hơn bên trong) nên vai trò của Hội đồng trường trở nên cực kỳ quan trọng. Song song đó, chính việc thành lập Hội đồng trường đúng nghĩa sẽ giúp chuyển dần quyền lực từ bộ ngành chủ quản về các trường, đáp ứng yêu cầu xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản theo Nghị quyết 14/2005 của Chính phủ.

Kiến nghị

Từ những phân tích trên, tác giả xin kiến nghị một số giải pháp sau:

1. Xây dựng Luật Giáo dục ĐH một cách “chuyên nghiệp” hơn với sự tham gia của các chuyên gia về giáo dục ĐH trong và ngoài nước.

2. Phân tầng hệ thống giáo dục bậc cao:

Tầng 1 là chọn lựa một số trường ĐH trong số 15 trường trọng điểm quốc gia tập trung mạnh vào nghiên cứu. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế hiện nay của Việt Nam, có thể chỉ một số lượng ít (khoảng 5 trường) để các cơ sở giáo dục này được hỗ trợ lớn từ nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chất xám cao cho quốc gia.

Tầng 2 sắp xếp lại các trường ĐH có định hướng giảng dạy và nghiên cứu, trong đó tập trung vào nhóm giảng dạy gắn liền với nghiên cứu (tỉ lệ giảng dạy/ nghiên cứu có thể là 7:3) để tạo ra những sản phẩm nghiên cứu đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao ở khu vực.

Tầng 3 là các trường ĐH, CĐ, CĐ cộng đồng có định hướng nghề nghiệp với trọng tâm chính là giảng dạy để phục vụ cho nhu cầu nghề nghiệp của địa phương. Đồng thời xem xét sát nhập một số cơ sở nhỏ lẻ để đáp ứng hiệu quả và qui mô kinh tế.

3. Trao quyền tự chủ thật sự cho một số trường có uy tín và tiềm lực mạnh trong khi kiểm soát chặt chẽ các trường chất lượng kém. Đề xuất này phù hợp với nội dung và ý kiến của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận tại Hội nghị lấy ý kiến đóng góp về Dự thảo Luật Giáo dục Đại học ngày 19-20/4/2011 tại Hà Nội [9].

4. Thành lập Hội đồng trường theo đúng nghĩa trong tất cả các trường ĐH với số lượng thành viên bên ngoài nhiều hơn bên trong. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng trường, Đảng ủy và Ban Giám hiệu. Vai trò của bộ chủ quản sẽ dần dần mất đi khi quyền lực được chuyển giao cho Hội đồng trường.

5. Sắp xếp lại hệ thống các ĐH quốc gia và ĐH khu vực theo hướng xây dựng được cơ chế phối hợp để minh bạch quyền lợi và trách nhiệm của từng trường thành viên.

——

Tài liệu tham khảo

Anderson, D., & Johnson, R. (1998). University Autonomy in Twenty Countries: Canberra: Department of Employment, Education, Training and Youth Affairs. Commonwealth of Australia 1998.

Ashby, E., and Anderson. M. (1966). Universities: British, Indian, African. A Study of the Ecology of Higher Education. London: Weidenfield & Nicholson

Berdahl, R. (1990). Academic freedom, autonomy and accountability in British universities. Studies in Higher Education 15 (2): 169-80.

Dao, K. V., & Hayden, M. (2010). Reforming the Governance of Higher Education in Vietnam. In G. Harman, M. Hayden & T. N. Pham (Eds.), Reforming Higher Education in Vietnam: Challenges and Priorities. Dordrecht, The Netherlands: Springer

Mora, J. G. (2001). Governance and Management in the New University. Tertiary Education and Management, 7, 95-110.

Neave, G., & van Vught, F. (1994). Government and Higher Education in Developing Nations: A Conceptual Framework. In G. Neave & F. van Vught (Eds.), Government and Higher Education Relationship Across Three Continents: The Wind of Change (pp. 1-21): IAU, PERGAMON

Lam Quang Thiep (2010). Description and analysis of Vietnam’s higher education. Report 1.

Pham Phu (2005). About a new face for higher education in Vietnam. Ho Chi Minh National University Press

Santiago, P., Tremblay, K., Basri, E. and Arnai, E. (2008). Tertiary Education for the Knowledge Society. Paris: OECD.

Su Yan Pan (2009). University Autonomy, the State, and Social Change in China. Hong Kong University Press


[1] Đến nay (năm 2011), số lượng các trường đại học cao đẳng lên đến trên 400

[2] http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2009/10/3ba151a0/

[3] Thông tư số 09/2009/TT-BGD&ĐT ngày 7/5/2009 về việc thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu thực hiện công khai cam kết của cơ sở giáo dục về chất lượng giáo dục và công khai về chất lượng giáo dục thực tế, về điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và về thu chi tài chính để người học, các thành viên của cơ sở giáo dục và xã hội tham gia giám sát và đánh giá cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

[4] Báo cáo số 329/BC-UBTVQH12 ngày 26/5/2010

[5] Rất khó giải thích cho người nước ngoài hiểu được hệ thống giáo dục Việt Nam. Nếu như ĐHQG, ĐH vùng là University thì các trường thành viên cũng là University (hay member university), nghĩa là trường ĐH trong ĐH. Con dấu của 2 ĐHQG cũng mang hình quốc huy như Bộ GD-ĐT. Thủ tướng trực tiếp điều hành cả Bộ GD-ĐT và 2 ĐHQG. Có người cho rằng ở Việt Nam hiện nay có đến ba Bộ GD-ĐT chứ không phải là một. Nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-445979/mo-hinh-dh-vung-vua-doi-non-vua-che-o.htm

[6] Năm 2006, nguyên Bộ trưởng Bộ GD- ĐT Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc với ĐH Đà Nẵng có nói: “Cuối năm 2006, Bộ sẽ rà soát lại nhiều vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ để đi đến quyết định về mô hình chuẩn của ĐH vùng”. Năm 2010, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đến làm việc với ĐH Huế và phát biểu rằng phải xây dựng được cơ chế phối hợp để quyền lợi và trách nhiệm của từng trường thành viên mất đi ít nhất; được liên kết, hỗ trợ nhiều nhất, để có sự phát triển và hiệu quả đào tạo cao hơn so với đứng ngoài ĐH vùng”. Tuy nhiên, đến nay, mọi việc vẫn chưa có gì thay đổi. Nguồn: http://dantri.com.vn/c25/s25-445979/mo-hinh-dh-vung-vua-doi-non-vua-che-o.htm ngày 23/01/2010.

[7] Theo báo Vietnamnet, ngày 15-10-2008: Đến nay Bộ GD-ĐT chỉ “ôm” nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thổi còi khi trường “lách luật”. Nhưng thực tế các trường tự chủ đang lúng túng chưa biết mình phải làm gì và căn cứ vào đâu để làm(!)- phát biểu của Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT) Trần Thị Hà.

[8] http://www.timeshighereducation.co.uk/hybrid.asp?typeCode=144

Làm sao để biết suy nghĩ độc lập và biết sống trung thực?

Hơn 80% giới trẻ không dám dấn thân vào đời

Nhóm Cánh Buồm & Cải cách giáo dục

Giáo dục Việt Nam: nguyên nhân của sự xuống cấp và các cải cách cần thiết

Vài suy nghĩ về giáo dục. JOHN LOCKE

Giáo dục:  Xin cho tôi nói thẳng Hoàng Tụy

1. Giáo dục sa sút không phải vì thiếu
tiền mà vì quản lý kém.

Sau một mùa thi THPT và ĐH-CĐ nặng nề, căng thẳng giả tạo và lãng
phí vô lối, không có ở đâu ngoài Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ
21, trường học chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức đã bước vào khai giảng
năm học mới, khởi động một chu kỳ khổ dịch đầy lo âu cho cả thầy lẫn
trò.

Giữa lúc đời sống trăm mối tơ vò mà trên báo
chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đầy rẫy những bản tin
chữ to nào là học phí cao, tiền trường leo thang, tiểu học công lập
có nơi thu học phí 70-80 nghìn đồng/tháng, THCS, THPT vừa đầu năm
học phụ huynh phải è cổ đóng góp cả chục khoản tiền “tự nguyện” bắt
buộc. Trong khi đó chương trình học đã nhiều năm bị phê phán quá tải
vẫn chưa hề giảm tải, sách giáo khoa sai sót đến mức đính chính
không xuể vẫn cứ phải dùng, chương trình phân ban THPT bộc lộ bất
cập ngay khi mới đưa ra thực hiện nhưng vẫn sẽ giữ nguyên cho đến
2015.

Khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh
tich cực” nghe thì hay, nhưng băn khoăn lớn là làm thế nào trong hai
năm tới chấm dứt được nạn “đọc, chép” trong khi mọi thứ khác, từ
chương trình, sách giáo khoa, tổ chức học tập cho đến thi cử và
nhiều chuyện cốt lõi khác về tư duy giáo dục vẫn căn bản gần y
nguyên như nửa thế kỷ trước. Thật xót xa khi học sinh được khuyên
“học làm người trước khi học chữ” mà có nơi nhân danh chuẩn hóa giáo
viên người ta buộc các thầy cô chưa đạt chuẩn phải đeo trước ngực
tấm biển “giáo viên chưa đạt chuẩn” khi vào lớp. Quản lý thiếu nhân
tính như thế tránh sao được những chuyện đau lòng như thầy bắt trò
liếm ghế, trò tạt a-xit thầy, học sinh lớp 11-12 đâm chém nhau ngay
trước cổng trường, v.v. Nói chống bệnh thành tích mà trước kia tỉ lệ
tốt nghiệp phổ thông đạt trên 90%, nay sau hai năm thi cử nghiêm túc
hơn, tỉ lệ đó cũng đã dần dần trở lại xấp xỉ … 90%, không biết phép
lạ nào đã nâng cao chất lượng học tập nhanh chóng như vậy.

Sự sa
sút của giáo dục có nguyên nhân khách quan: do đất nước nghèo, đầu
tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người
dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm
yếu kém của giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này
đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân
chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý
bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.

Giáo dục phổ thông đã thế, giáo dục đại học,
cao đẳng còn nhiều chuyện ly kỳ hơn: khắp nước, kể cả đại học quốc
gia, tràn lan và bát nháo “đào tạo liên kết”, môn học một học kỳ chỉ
cần 3-4 ngày xong hết cả học và thi, nên ai cũng học được, trường
trung cấp cũng đào tạo thạc sĩ là chuyện hi hữu trên thế giới. Hóa
ra ta hiểu đại chúng hóa, thị trường hóa đại học là thế. Chẳng lạ gì
chỉ trong vài năm đã xuất hiện hàng mấy trăm đại học mới, lại sắp có
cả Văn miếu hiện đại xây dựng trên 25 ha đất cho đủ chỗ vinh danh
hết tiến sĩ thời nay. Lạ nhất là đề án tiến sĩ hóa, thạc sĩ hóa 100%
cán bộ công chức của Thủ đô để “đột phá tư duy lãnh đạo” (may mà kế
hoạch này đã tạm rút lại sau khi bị phản đối kịch liệt). Cái não
trạng sính bằng cấp và thói hư học thâm căn cố đế bị lợi dụng triệt
để, biến kinh doanh chữ nghĩa thành một nghề phát đạt chưa từng
thấy: trường công chiêu sinh “ngoài ngân sách” một số lượng lớn sinh
viên với học phí gấp mấy lần bình thường, rồi nay mai theo xu hướng
đó sẽ tiến lên cổ phần hóa theo chiến lược đổi mới đại học của Bộ
GD-ĐT; trường tư được tự do chạy theo lợi nhuận, bất kể chất lượng
nào chỉ cần trưng biển “đại học quốc tế …” tha hồ đặt ra những khoản
thu kỳ dị bóc lột người học. Gần 4 trăm đại học chỉ mới thỏa mãn
được chưa đến 20% yêu cầu, trong lúc đó trường nghề tuy rất it vẫn
sống ngắc ngoải vì ai cũng chỉ muốn làm thầy, hoặc làm công bộc của
dân, không ai thich làm thợ. Có nơi như ở Dung Quất nhà máy cần rất
nhiều thợ hàn, mở lớp đào tạo được một khóa 160 người đã đóng cửa,
dù đời sống người dân địa phương vẫn rất lam lũ do không có nghề sau
khi nhường đất xây dựng khu công nghiệp.

Các quan chức giáo dục bảo những hiện tượng
không hay chỉ là riêng lẻ, và để cho công bằng phải nhắc đến biết
bao gương tốt hàng ngày vẫn âm thầm diễn ra. Đúng thế thật, song
tiếc thay điều đó chỉ càng nói lên khoảng cách lớn giữa tiềm năng
với thực tế — một khoảng cách không thể chấp nhận được mà nguyên
nhân, như Chính Phủ đã chỉ rõ gần đây, là do quản lý bất cập.
Có nghĩa sự sa sút của giáo
dục không thể đổ cho khách quan, do đất nước nghèo, đầu tư không đủ,
do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu,
do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm yếu kém của
giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này đều đúng.
Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu,
nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập,
bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.

2. Cần cải cách có hệ thống, chứ không
phải đổi mới vụn vặt

Nói cho đúng, thực trạng giáo dục như thế nào đã rõ như ban ngày,
chẳng qua chúng ta mê ngủ nên chưa thấy, hoặc có thấy nhưng vì những
ràng buộc, áp lực nào đó nên cứ phải bịt mắt, giả mê để tự dối mình,
dối người khác và yên vị.

Giờ là lúc cần trung thực nhìn thẳng vào sự
thật. Đó là lương tâm, là trách nhiệm chẳng những đối với xã hội
hiện tại mà còn đối với lịch sử, đối với nhiều thế hệ mai sau.
Những ai thường hô hào học
sinh trung thực xin trước hết hãy tỏ rõ sự trung thực ở đây, trong
việc này.

Xin cảnh báo: tình hình giáo dục hiện nay
cũng tương tự như tình hình kinh tế xã hội của đất nước giữa những
năm 80 thế kỷ trước. Thử tưởng tượng lúc đó nếu chúng ta cứ một mực
nhắm mắt trước thực tế đời sống bi đát của người dân mà không đổi
mới thì đất nước có tồn tại được đến ngày nay không ? Rõ ràng chỉ
nhờ nhìn thẳng vào khủng hoảng kinh tế xã hội chúng ta mới thấy được
giải pháp, mới có đầy đủ quyết tâm thoát ra bế tắc, cứu đất nước
khỏi sự sụp đổ.

Thật đáng tiếc ngành giáo dục chưa học được
bao nhiêu bài học đắt giá đó. Hai mươi năm qua, hết đời bộ trưởng
này đến đời bộ trưởng khác vẫn tiếp tục ca cái điệp khúc “thành tựu
giáo dục là vĩ đại, bên cạnh đó còn nhiều bất cập”. Căn nhà giáo dục
đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa
chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở. Gia
đình nào có khả năng đều tìm cách gửi con em ra nước ngoài để chạy
trốn giáo dục trong nước. Chẳng thế mà có người nói vui nhưng thật
cay đắng: nên có luật cấm quan chức cấp cao gửi con em du học nước
ngoài thì may ra giáo dục mới có cơ hội được chấn hưng.

Điều rất lạ là các nghị quyết của Đại Hội
Đảng và các Hội Nghị TƯ 3,7,9 đều đòi hỏi phải tiến hành cải cách
giáo dục như một yêu cầu bức thiết của xã hội, nhưng những vị nhận
lĩnh trách nhiệm trực tiếp thì lại chẳng hề quan tâm thực hiện các
nghị quyết ấy, thậm chí còn nói ngược lại. Chiến lược giáo dục dự
thảo đến lần thứ 15 vẫn chỉ thấy lặp lại những quan niệm, tư duy cũ
rích, tuy ngôn từ và số liệu có thay đổi cho hợp thời trang (như từ
“đổi mới” xuất hiện với tần số kỷ lục). Bên cạnh đó, có những mục
tiêu nghe thật hoành tráng, nào là từ nay đến 2020 (tức trong 11 năm
tới) đào tạo 20000 tiến sĩ, xây dựng 4 trường đại học đẳng cấp quốc
tế, 1 trường vào tốp 200 thế giới, v.v…. Song người dân vẫn phân
vân: 3 năm qua ta đã làm được gì mà có thể đặt kỳ vọng cao như thế
cho 11 năm tới ? hay là ta đang mơ mộng thiếu thực tế, thiếu trách
nhiệm, và căn bệnh thành tích từ ngoài da đã đi vào xương tủy?

Những
“đổi mới” trong các đề án công tác của ngành giáo dục, giỏi lắm cũng
chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ
không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ
xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử chiến lược này
được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020 Việt Nam cũng chỉ
có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào
nền văn minh thời đại.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nhiều lần
đỏi hỏi phải thực hiện những biến đổi có tính cách mạng để chấn hưng
giáo dục. Trong một bài viết đăng trên báo “Tiền Phong” số 25 ngày
18-6-2006, cố GS Lê Văn Giạng, một cựu lãnh đạo có uy tín của ngành
đại học, cũng đã phát biểu: “Đã đến lúc phải chuẩn bị tiến hành một
cuộc cải cách giáo dục thực sự nghiêm túc và thực sự khoa học để ra
khỏi tình hình khủng hoảng triền miên của giáo dục 20 năm vừa rồi,
để bước vào thời kỳ chấn hưng giáo dục như Nghị quyết của Đại Hội
Đảng X vừa yêu cầu” . Đó là chưa kể nhiều kiến nghị tương tự của
nhiều bậc thức giả trong nước và Việt kiêu, đặc biệt bản điều trần
của 24 trí thức năm 2004 và bản kiến nghị đầu năm 2009 của Viện
Nghiên cứu Phát triển IDS (nay đã giải thể). Thiết nghĩ chỉ những ai
điếc không sợ súng hoặc quá vô tâm với đất nước mới có thể yên lòng
trước tình hình giáo dục hiện nay.

Có ý kiến biện bạch rằng hàng loạt cải tiến,
đổi mới lớn nhỏ mà ngành giáo dục đang thực hiện cũng là cải cách.
Phải công nhận hai chữ “đổi mới” nhan nhản trong hầu hết các đề án
công tác của ngành giáo dục, nào là đổi mới nội dung, phương pháp và
quy trình đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ chế tài chính,
đổi mới phương thức triển khai hoạt động khoa học công nghệ, v.v.
Chỉ có điều đổi mới thế nào thì chẳng ai giải thich nổi, chẳng ai
biết rõ, cho nên cứ đổi mới tùy hứng, tùy tiện, tùy nghi, theo kiểu
đầu Ngô mình Sở. Vả chăng cần thấy rằng cái cày chìa vôi dù có cải
tiến giỏi đến đâu vẫn không thể biến thành cái máy cày hiện đại
được; căn nhà tập thể thời bao cấp dù sửa chữa tân tạo hết mức vẫn
không thể thành một chung cư tiện nghi hiện đại.
Những “đổi mới” như thế kia
giỏi lắm cũng chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa
thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở
thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử
chiến lược này được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020
Việt Nam cũng chỉ có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới
hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.

3. Giáo dục không phải là phòng thí nghiệm, càng không thể là nơi
để học việc lãnh đạo.

Từ lâu ngành giáo dục đã có thói quen xem học sinh như những con
chuột bạch để làm thí nghiệm thoải mái, mà điển hình là mười mấy năm
liền thí nghiệm các chương trình phân ban trung học phổ thông. Thí
nghiệm đi thí nghiệm lại không biết bao nhiêu lần, tốn kém bạc tỉ và
không tính được hết thiệt hại cho các thế hệ học sinh nạn nhân thí
nghiệm. Rất khó hiểu tại sao lợi ích của học sinh bị xem thường đến
vậy. Thử nghĩ có hãng hàng không nào dám mạo hiểm đưa máy bay mới ra
chỉ để thí điểm xem chở khách có an toàn không? Vậy tại sao Bộ GD-ĐT
có quyền thực hiện thí điểm các chương trình phân ban cho hàng
nghìn, thậm chí hàng vạn học sinh trong cả hơn chục năm trời ? Mỗi
lần thí điểm đều kết luận chưa thành công, kết quả chưa tốt, thế mà
người ta vẫn vô tư tiếp tục thí điểm.

Quan điểm coi thường lợi ích của xã hội thể
hiện trong nhiều chủ trương giáo dục mà nếu mô tả là “ngoan cố” có
lẽ cũng không sai lắm. Về hàng loạt vấn đề quan trọng như quy chế
công nhận, bổ nhiệm GS, PGS, quy chế tổ chức Hội Đồng Giáo Dục Quốc
Gia, chuyện biên soạn, xuât bản và phát hành sách giáo khoa, chuyện
thi cử, đào tạo Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, v.v… đã có biết bao đề xuất hợp lý
bị bỏ ngoài tai, phải chờ đợi đến cả chục năm trời hay hơn mới được
nghiên cứu để tiếp thu.
người khen Bộ GD-ĐT “trơ như đá, vững như đồng”, nhưng
dù bậc
trí lự cao siêu cũng không thể luôn luôn sáng suốt. Huống chi, nhìn
vào bảng chi tiêu của ngành giáo dục thấy quá nhiều khoản chi lớn để
“nâng cấp năng lực quản lý”, cử cán bộ đi tham quan, học tập kinh
nghiệm ở các nước, chứng tỏ điều ngược lại có lẽ đúng hơn.

Như đã nói trên, nguyên nhân sa sút của giáo
dục là quản lý yếu kém, song cần nói cụ thể hơn là quản lý yếu kém
như thế nào. Trong chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, giữa muôn
vàn khó khăn, giáo dục nói chung và đại học nói riêng vẫn phát triển
tốt là nhờ có được những vị tư lệnh hiểu biết sâu sắc giáo dục, có
tầm nhìn xa, có uy tín cao trong ngành về cả đức độ và tài năng. Sau
này chúng ta thường xuyên gặp khó khăn cũng chính là vì tâm và tầm
của cơ quan quản lý giáo dục. Nếu xem giáo dục là quốc sách hàng đầu
thì phải hết sức coi trọng nhiệm vụ lãnh đạo giáo dục. Người được
giao phó nhiệm vụ này chẳng những phải hiểu biết sâu sắc giáo dục
hiện đại mà còn phải có điều kiện tập trung toàn tâm toàn ý cho
nhiệm vụ ấy. Không thể xem giáo dục là nơi học việc lãnh đạo, không
thể giao những nhiệm vụ quan trọng trong quản lý giáo dục cho những
người chưa biết việc, chưa thạo việc. Còn nếu ai chưa thạo việc,
chưa biết việc thì hãy để họ học việc thành thạo rồi hãy giao việc.

Đáng
lo là ở nước ta có quá nhiều vị được giao nhiệm vụ rồi mới học việc,
có khi học việc chưa xong chỗ này đã chuyển sang học việc chỗ khác
quan trọng hơn, rốt cuộc biến mỗi ngành công tác thành một phòng thí
nghiệm đồ sộ, một nơi thực tập, học việc cực kỳ tốn kém cho xã hội.

Có những câu hỏi thật khó trả lời: tại sao
sau ba mươi năm mà các quy chế đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, hay công
nhận, bổ nhiệm GS, PGS của ta vẫn còn nhiều điểm ấu trĩ so với ngay
cả một số nước trong khu vực ? Tại sao nhiều quy định sai lầm đến
buồn cười trong các quy chế ấy vẫn tồn tại dai dẳng thời gian dài
trước đây và có nhiều cái tồn tại mãi đến tận hôm nay ? Có người bảo
rằng ta không thể máy móc sao chép cách làm của nước ngoài cho nên
phải sáng tác cách làm riêng phù hợp với điều kiện của ta. Nghe rất
có lý, nhưng phải xét hậu quả thực tế là với cách quản lý ấy ta đã
đào tạo ra hàng ngàn tiến sĩ giấy và xây dựng được một đội ngũ PGS,
GS với trình độ, chất lượng ra sao ai cũng biết. Ngay gần đây tôi
được biết chúng ta có cả những cơ sở đào tạo tiến sĩ về quản lý giáo
dục. Cái tin ấy thật sự làm tôi ngỡ ngàng: rồi đây số tiến sĩ ấy
đương nhiên sẽ đóng góp vào con số 20000 tiến sĩ ta dự định đào tạo
trong 11 năm tới.

Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà
tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn
văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng
nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến.

Hoàng Tụy

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: